Ngược lên thượng nguồn sông Hương vào một ngày đầu năm 2014, chúng tôi đến thăm cụ ông Nguyễn Lô (82 tuổi), ở thôn Kim Ngọc, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế, trong một căn chòi tạm bên cạnh lăng chúa Nguyễn Phúc Thái (Vị chúa thứ 5 của triều Nguyễn). Gần 40 năm qua, ông lão đã một thân một mình chống lại những kẻ đào trộm mộ để bảo vệ lăng chúa Nguyễn được vẹn toàn; đồng thời cũng khai hoang đất đồi phát triển kinh tế gia đình…
Ông Lô ngày ngày quét dọn, bảo vệ lăng chúa Nguyễn Phúc Thái.
Thắp nén nhang trước mộ chúa Nguyễn Phúc Thái, ông Lô kể rằng, ông sinh ra trong một gia đình cách mạng nên thời niên thiếu đã tham gia vào đội du kích địa phương. “Năm 1967, tui được cấp trên giao làm Trung đoàn trưởng của Đội TNXP của huyện. Lúc ấy, tui nhiều lần bị địch bắt, tra khảo chết đi sống lại nhưng vẫn quyết không hé một lời. Cuối cùng, chúng cũng phải thả tui về địa phương”. Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, ông Lô đã mạnh dạn làm đơn xin chính quyền địa phương lên khai hoang vùng đất đồi ở khu vực lăng Trường Mậu (lăng chúa Nguyễn Phúc Thái) để trồng rừng, đào ao thả cá...
Đứng bên hồ cá rộng mênh mông, bà Nguyễn Thị Nồng (76 tuổi, vợ ông Lô) cho biết thêm: “Lúc vợ chồng tui mới về đây, khu vực này toàn là hố bom. Đất đai bạc màu, cây cối bị bom đạn thiêu cháy trơ trọi nên phải bắt tay vỡ đất, đốn hạ từng cây khô để có thể ươm giống cây mới. Giờ thì vợ chồng tui có trong tay 3ha rừng tràm, 1ha cao su 10 năm tuổi, 1ha Thanh Trà và 5 hồ cá... mỗi năm thu hoạch được gần 100 triệu đồng…”.
Ở vùng đồi núi bán sơn địa này, để có thể giữ cho vườn cây trái bao quanh lăng chúa được xanh tốt, ông Lô đã tự tay đào đất đắp một con mương lớn phục vụ cho việc tưới tiêu cả vườn đồi. Dẫn chúng tôi đi thăm vườn Thanh Trà, ông Lô bảo: “Phải mất gần 20 năm, vợ chồng tui mới trồng được vườn cây ăn quả rộng gần 1ha này đấy!”…
Về việc dựng chòi bảo vệ lăng chúa Nguyễn, ông Lô trầm ngâm một lát rồi nói: “Chúa Nguyễn Phúc Thái nổi tiếng là vị chúa yêu nước, thương dân như con, nên chỉ trong 4 năm lên ngôi cai trị đất nước (1687-1691), ông đã cho giảm nhiều sưu cao thuế nặng, thuế tô, thuế điền... Vì thế mà nhiều tên trộm nghĩ rằng, khi chúa băng hà, sẽ được triều đình an táng cùng với nhiều cổ vật ngự dụng quý giá. Bởi thế mà lăng chúa luôn bị kẻ trộm nhòm ngó”.
Rồi ông kể, vào một đêm cuối hè năm 1994, trong lúc đang mơ màng trong giấc ngủ, ông Lô mơ thấy một ông lão râu tóc bạc trắng, mặc áo bào vàng có hình rồng cuộn trước ngực, báo mộng rằng: “Đêm nay sẽ có người đến thăm lăng chúa...”. Giật mình tỉnh giấc, ông Lô hớt hải cầm vội cây rựa và chiếc đèn dầu chạy về phía lăng. Thấy bọn trộm mộ đang dùng cuốc, xẻng phá bỏ lớp bê tông trên mộ, ông Lô liền la lớn, trong khi cây rựa lăm lăm trong tay. Sợ hãi, nhóm trộm mộ liền bỏ lại dụng cụ rồi chạy mất hút trong bóng đêm. Chừng 4 năm sau, nhóm trộm mộ kia quay lại nhưng cũng không thể đào được mộ của chúa Nguyễn Phúc Thái vì lúc nào ông Lô cũng ở cạnh lăng để bảo vệ.
Ông Nguyễn Kim Bình, Trưởng thôn Kim Ngọc, cho hay: “Nhờ công sức của ông Lô mà đến nay, khu vườn bao quanh lăng chúa Nguyễn ngày một khang trang, sạch đẹp hơn. Dù đường sá vẫn còn lắm cách trở, nhưng thời gian qua đã có rất nhiều đoàn khách đến để chiêm bái lăng chúa. Đây là niềm tự hào của địa phương...”.
Nhìn chiếc chòi tạm mục nát mà vợ chồng ông Lô trú ngụ đã chực sập đổ, bên trong độc nhất chiếc giường gỗ cùng ít nồi niêu làm vật dụng nấu ăn mà chúng tôi không khỏi cảm phục tấm lòng của đôi vợ chồng già với một di tích lăng chúa Nguyễn và nghị lực lao động vượt khó để vươn lên làm kinh tế thoát nghèo…
Theo Lê Anh (CAND)
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.