Những vấn đề xã hội trong tiểu thuyết "Những cánh cửa đã mở" của Nguyễn Khắc Phê

15:20 07/06/2012

PHAN NGỌC THU

Từ sau năm 1975, văn học nước ta nói chung, văn xuôi nói riêng đã có nhiều chuyển biến trong cách tiếp cận với đời sống và ngày càng có xu hướng quan tâm hơn đến những vấn đề thuộc về chiều sâu của giá trị con người.

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê và tiểu thuyết "Những cánh cửa đã mở" - NXB Thuận Hóa Huế 1985

Dù viết về lĩnh vực nào, những tác phẩm thực sự gây được chú ý của dư luận, phần lớn đều là những tác phẩm không chỉ dừng lại ở cảm hứng ngợi ca, mà còn đưa người đọc vào dòng đời sôi sục, cổ vũ họ tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh cải tạo xã hội.

Trong đà chuyển biến ấy, từ những sáng tác viết về đề tài công nhân trên mặt trận giao thông vận tải thời chống Mỹ, cái nhìn nghệ thuật khá nhiều vẻ của Nguyễn Khắc Phê đã có những đóng góp đáng ghi nhận. Lần này, với tiểu thuyết "Những cánh cửa đã mở" vừa ra đời, ngòi bút cần mẫn của anh lại tiếp tục đi sâu tìm hiểu, khám phá thêm những bình diện mới của hiện thực, đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa rộng lớn hơn.

Hơn 500 trang sách, với gần 40 nhân vật, cuốn tiểu thuyết kể lại những câu chuyện xung quanh việc làm một số công trình thủy lợi ở một tỉnh miền Trung vào những năm cuối cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc và những năm đầu sau ngày miền Nam giải phóng. Cái tỉnh miền Trung trong tác phẩm, trở thành bức tranh thu nhỏ cuộc đấu tranh vô cùng phức tạp và quyết liệt không chỉ giữa con người với hậu quả chiến tranh nặng nề, với thiên nhiên khắc nghiệt mà còn với cả hàng loạt hiện tượng tiêu cực đầy rẫy và tồn tại dai dẳng trên đất nước ta trong chặng đường đầu tiên khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bối cảnh ấy đặt ra hàng loạt vấn đề đòi hỏi những ngòi bút có trách nhiệm tham gia phản ánh, lý giải. Nguyễn Khắc Phê đã đặt biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa xã hội với việc hình thành và phát triển nhân cách của con người mới trong chế độ mới của chúng ta. Với cái nhìn hiện thực khá sắc sảo và giàu sức phát hiện, tác giả đã xây dựng được trong tác phẩm một thế giới nhân vật vừa phong phú sinh động vừa mang được ý nghĩa khái quát và chiều sâu của tính vấn đề.

Quen thuộc với Nguyễn Khắc Phê là những con người và cảnh vật trên dải đất miền Trung nhưng có lẽ sở trường của anh là xây dựng những nhân vật trí thức. Còn nhớ trong "Đường giáp mặt trận", "Chỗ đứng người kỹ sư", "Miền xa kêu gọi" hình ảnh những người kỹ sư, cán bộ kỹ thuật cầu đường đã để lại ấn tượng khá sâu trong người đọc. Anh ký thác tâm sự và viết về họ như chính về bản thân mình. Phát huy thế mạnh ấy, từ "Những con đường" đến với "Những dòng sông" tiểu thuyết "Những cánh cửa đã mở" lại có thêm nhiều nhân vật kỹ sư thủy lợi... đáng nhớ.

Trung - nhân vật trung tâm và cũng là nhân vật điển hình tích cực tiêu biểu nhất của tác phẩm. Anh là người đã sáng chế công trình thủy lợi Thanh Long, bằng một hệ thống cửa "mở cánh tự do" làm đập ngăn mặn, trên dòng sông chảy ngang qua thành phố. Công trình được đánh giá cao, anh được đi dự hội nghị sáng kiến toàn quốc ở Hà Nội. Nhưng để đến được với thành công ấy, anh đã phải trải qua biết bao chặng đường gian khổ đầy sóng gió. Thuật lại quá trình đấu tranh thẳng thắn của Trung với những quyết định sai trái của một số cán bộ lãnh đạo địa phương và cả giáo sư Khoan Viện trưởng qua các vụ sông Đào, Hòa Ninh đến Kênh Bắc, tác phẩm đã làm nổi bật nét bền vững và nhất quán trong tính cách đạo đức của anh là sự trung thực và lòng can đảm. Chính phẩm chất ấy đã giúp Trung đứng vững cả khi cuộc sống đặt ra những sự "lựa chọn" đầy éo le thử thách. Chẳng hạn lúc Diêu định chọn anh làm "vệ tinh" và sắp đặt gả con gái là Hồng cho anh; hoặc lúc có quyết định đi B giáo sư Khoan khuyên anh ở lại đi nghiên cứu sinh, còn Lan thì níu kéo... Nếu chiều theo là Trung sẽ "được" tất cả: "địa vị", "người yêu" "tiền" và "đồ" như không ít kẻ ham muốn, nhưng anh đã từ chối vì không thể bỏ mất nhân cách và bản lĩnh của mình. Có thể đôi lúc Trung còn nông nổi, song điều đáng quý là bao giờ anh cũng sống hết lòng mình, nhiệt tình với khoa học, trung thực, chân thành trong tình bạn và tình yêu, không biết che dấu thái độ phẫn nộ khi thấy điều sai trái, giàu sức suy nghĩ và sáng tạo, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Những nét tính cách ấy của Trung đã ảnh hưởng rất lớn đến những người xung quanh. Giáo sư Khoan đã phải suy nghĩ và lấy làm hổ thẹn vì kiểu sống "ngậm miệng ăn tiền" của mình khi về công tác ở các địa phương. Hồng qua Trung đã nhận ra nhân cách ươn hèn của bản thân và cô đau đớn day dứt vì mất Trung cũng chính là cô đã đánh mất bản lĩnh, nhân cách của chính mình. Toàn không thể sống như cũ mà phải đổi thay. Phú, Mai, Yên vốn là những "tâm hồn khép kín" có không ít mặc cảm với cách mạng nhưng cũng bị cuốn hút để thực sự đến với cuộc sống mới. Có thể nói Trung là hình ảnh đầy sức hấp dẫn của người trí thức biết sống dũng cảm luôn tắm mình giữa dòng thác của cuộc đời. Sức mạnh cảm hóa của Trung là sức mạnh cải tạo của con người mới đối với hoàn cảnh xã hội. Việc chỉ ra cội nguồn của sức mạnh ấy từ tình yêu sâu nặng của Trung đối với quê hương, từ nhiệt tình trong sáng của anh đối với với lý tưởng, từ cái nhìn đầy tin yêu vào bản chất tốt đẹp của con người, đã tạo nên chiều sâu của đời sống nhân vật và của tác phẩm.

Nến Trung là nhân vật lý tưởng thì Toàn là điển hình của một quá trình đấu tranh tự vượt mình để hoàn thiện nhân cách.

Khác với Trung, cuộc đời kỹ sư Toàn suôn sẻ, thuận chiều. Với gia đình, anh sống hạnh phúc đầm ấm; với công việc Toàn cũng là kỹ sư vừa giỏi lý thuyết vừa giỏi thực hành lại có kinh nghiệm thi công, đang là trưởng phòng qui hoạch, ghế phó ty sắp sẳn chờ anh. Nhưng chính nếp sống "thuận chiều" ấy làm cho anh chưa hề nghĩ mình có lúc phải sống khác đi. Anh đã quen với "cái hình ảnh cả rừng cánh tay dơ thẳng - cả trăm miệng cùng hô "đồng ý, nhất trí" ở hầu hết những cuộc họp, thực là đẹp đẽ và đầy sức mạnh" (trang 75) do đó anh sinh e ngại góp ý kiến riêng của mình khi thấy nhiều người đã biểu quyết. Toàn đã quên rằng cuộc sống còn có những nghịch lý của nó và trong khoa học nhiều khi chân lý chưa hẳn đã thuộc về số đông hay kẻ có uy quyền. Dần dần va chạm với thực tế, nhất là trước thái độ và hành động can đảm của Trung, Toàn đã phải day dứt suy nghĩ: "Chẳng lẽ ý thức đảng viên lại làm mình mất tự do, trở nên nhút nhát?". Lương tâm của người trí thức chân chính, tinh thần trách nhiệm và tính chiến đấu của người đảng viên thức dậy. Hình ảnh Toàn đứng dậy trong cuộc học tập nghị quyết tự phê phán mình và vạch ra sai lầm của người khác đánh dấu một bước đổi mới và trưởng thành của nhân cách một con người. Hình ảnh Toàn một mình trong đêm mưa bão chạy băng qua các triền đồi để gọi xe ủi mở tràn cấp cứu cho đập Khe Lau là một hình ảnh đẹp.

Có thể nói, quá trình phát triển tính cách của Toàn là quá trình vật lộn với chính mình để chiến thắng thói quen, đổi mới cách sống. Quá trình ấy gợi người đọc suy nghĩ về vấn đề trách nhiệm của xã hội, của các đoàn thể đối với việc giáo dục con người. Đó là vấn đề phải làm sao để mỗi người được phát huy hết năng lực chủ động sáng tạo của mình, đúng như bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chúng ta đang xây dựng.

Quan tâm đến vấn đề nhân cách của con người trong xã hội mới, không thể tách rời với cuộc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực - đang là mặt trận nóng bỏng trong đời sống chúng ta hiện nay. Xuất phát từ quan niệm: "Chừng nào văn nghệ còn phản ánh cuộc sống trong sự vận động phát triển của nó, chừng đó văn nghệ còn đề cập đến những hiện tượng, những nhân vật tiêu cực", tiểu thuyết "Những cánh cửa đã mở" của Nguyễn Khắc Phê cũng đã mạnh dạn lên án những thói xấu và vạch ra những căn bệnh đang là vấn đề quan tâm của xã hội.

Nhân vật Thân trong tác phẩm là một điển hình cho loại trí thức cơ hội, tham danh vọng. Vốn là một kỹ sư có ít nhiều năng lực, Thân cũng đã có những ngày sống đẹp hết mình, nhưng sau một vài lần đụng chạm với "lãnh đạo" anh ta "khôn" ra và rút kinh nghiệm bằng cách sống lựa theo chiều gió. Là cán bộ khoa học, Thân đã táng tận lương tâm đến mức lợi dụng sự dốt nát của người khác, làm ra những luận chứng kinh tế kỹ thuật tùy tiện mà ngay khi làm đã có ý nghĩ: nếu công trình bỏ dỡ thì đổ lỗi cho khách quan. Là con người, Thân sẵn sàng dẫm đạp lên tình bạn để thực hiện một ý đồ cá nhân, thậm chí đến gây cả tội ác. Bằng cách len lỏi ấy, anh ta đã "được" tất cả như ý muốn: được lấy con gái phó Chủ tịch tỉnh, được địa vị, được sống nhà cao cửa rộng, nhưng cái quí nhất của một con người: bản lĩnh, tài năng và danh dự thì anh ta đã đánh mất. Nếu gọi Thân thuộc hạng người có nhân cách thấp hèn có lẽ cũng chưa đủ, mà Thân còn là hình tượng có ý nghĩa điển hình cho sự suy sụp thảm hại của một nhân cách. Thành công của tác giả khi xây dựng nhân vật Thân là ở chỗ, anh không chỉ phê phán mà còn cho người đọc thấy được chủ nghĩa cơ hội đã hủy hoại ghê gớm tính cách của con người. Không ai đưa Thân ra trước vành móng ngựa nhưng tòa án lương tâm lại không ngừng phán xét anh - việc Thân định trở về quê để "chạy trốn kỷ niệm" nhưng vẫn cô đơn như kẻ "không chốn nương thân"… cũng chính là kết cục buồn thảm của cuộc đời những kẻ cơ hội. Con người không thể nằm ngoài những ảnh hưởng của quy luật tự nhiên và xã hội, nhưng con người "trả giá" cho những sự "lựa chọn" việc làm và cách sống sai lầm của nó. Quá trình sụp đổ nhân cách của Thân, Lan; nỗi đau và niềm ân hận suốt cả đời của Hồng, chính là sự trả giá đó. Sự nhầm lẫn của con người cũng là một nguyên nhân gây nên bi kịch. Triết lý nhân sinh ấy thể hiện khá rõ qua cuộc đời một số nhân vật. Trong đó Hồng cũng là một nhân vật hấp dẫn có cuộc sống nội tâm phong phú, có sức gợi nhiều vấn đề về nhân cách người làm báo, người phụ nữ… Càng thấy rõ hơn một đặc điểm của văn xuôi Nguyễn Khắc Phê - nhân vật thường mang sức nặng nhiều lý tưởng của tác giả.

Bên cạnh nhiều nhân vật trí thức, những vấn đề xã hội trong tác phẩm còn được thể hiện đậm nét qua một số nhân vật cán bộ lãnh đạo các cấp. Tác giả đã không ngần ngại "đụng chạm" đến vị lãnh đạo cao nhất một tỉnh qua nhân vật Nguyễn Cự; rồi Diêu - phó Chủ tịch tỉnh đến Viên phó ty thủy lợi đều là những nhân vật tiêu cực trở thành đối tượng phê phán của tác phẩm.

Nguyễn Cự là điển hình của loại cán bộ lãnh đạo duy ý chí, bất chấp cả quy luật khách quan. Ông ta tự mãn say sưa trước thắng lợi, nên nóng vội và chủ quan khi quyết định những biện pháp làm ăn kinh tế. Đó là tính cách của một loại người "chỉ cần một trái tim cộng sản, với một mo cơm, một vắt dưa là chúng ta làm được tất" (trang 61). Và những việc ông đã quyết "tùy hứng", bất chấp quy luật ấy, đã gây nên lãng phí biết bao sức của thậm chí còn gây nên đổ máu cho người lao động. Ông Cự còn tiêu biểu cho một tác phong làm việc độc đoán chuyên quyền không chỉ vi phạm quyền làm chủ của con người mà còn vi phạm nguyên tắc dân chủ tập trung của Đảng. Việc Cự nổi nóng xé quyết định phó ty của Toàn là một trong nhiều hành động đến mức cực đoan của tác phong ấy.

Khác với Nguyễn Cự, Diêu là con người giảo hoạt hơn. Con đường leo lên bậc thang danh vọng của y là nhờ có "thành tích" hoàn thành kế hoạch trước thời hạn theo cái kiểu "thời hạn co dãn như cao su". Diêu có máu thèm khát quyền uy thật sự, nhất là mỗi khi nhìn tác phong của Cự. "Cái dáng người nhỏ thó của ông xoay trở lẹ làng trước tình thế nên ngay cả khi Cự bị đổ ông cũng không can gì. Ông ta chọn người cộng sự theo kiểu ngoan ngoãn của "một vật tròn tròn" dễ xoay theo quỹ đạo của mình; và luôn sợ người khác giỏi hơn sẽ chiếm chỗ mình. Trong cách sống, Diêu có lắm thủ đoạn, với cấp trên thì mềm nhũn, cúi đầu chấp hành, với cấp dưới thì lên giọng, khi bí thế thì "Tỉnh ủy đã quyết, Thường vụ đã quyết" để mọi người không còn ý kiến gì nữa. Diêu còn là điển hình cho một loại "thủ trưởng bách khoa" cái gì cũng biết nhưng thực chất cái gì cũng không biết, khi không bố trí được thì "được" đi học, khi không làm được ở ngành này thì sắp xếp sang một ban kia. Diêu là một hình ảnh của một dạng cán bộ còn khá phổ biến hiện nay.

Còn Viên - phó ty sống rất yên ổn với địa vị của mình. Anh ta cũng không muốn gì hơn, nhưng đó là một loại cán bộ vô tích sự vì "tốt mọi bề, duy chỉ xấu là suốt đời không làm được cái gì có ích, không dám chịu trách nhiệm về một việc gì cả" (trang 431).

Xây dựng các mẫu nhân vật trên đây, Nguyễn Khắc Phê đã phê phán nghiêm khắc không khoan nhượng và chỉ ra những tai hại gây nên do một loại cán bộ lãnh đạo lỗi thời, thiếu năng lực và yếu kém về phẩm chất. Việc Trung ương vào giải quyết cho Nguyễn Cự về hưu, Diêu cuối cùng mắc phải căn bệnh "tâm thần" phải đi về quê nghỉ … là những báo hiệu bước đầu của một xu thế tất yếu cần phải đổi mới tư duy, đổi mới phong cách làm việc, đổi mới công tác tổ chức và cán bộ như hiện nay Đảng ta đang đặt ra. Đó là một yêu cầu khách quan phù hợp với quy luật phát triển của cuộc sống và cách mạng; tác phẩm "Những cánh cửa đã mở" của Nguyễn Khắc Phê kịp thời giúp người đọc cảm nhận một cách sâu sắc. Viết về những hiện tượng tiêu cực nhưng thái độ của nhà văn không chỉ dừng lại ở sự phê phán, phản ánh mà luôn chú ý đi vào chiều sâu lý giải. Bởi vậy, tuy đọc "Những cánh cửa đã mở" ta gặp nhiều con người và sự việc tiêu cực đúng như trong đời sống hiện nay đang diễn ra, nhưng ta cũng thấy được căn nguyên của nó. Từ "nếp sống thành kỷ cương thuần phục vô điều kiện bất cứ mệnh lệnh nào của người chỉ huy" trong ý nghĩ của Toàn, đến câu chuyện về ngôi miếu thờ ông Mai Văn Bổn, ta thấy những tàn dư tư tưởng phong kiến còn không ít nặng nề trong cuộc sống hôm nay. Từ lối sống chạy theo vật chất ích kỷ của Lan, đến buông thả sa đọa của Hy và hình ảnh lão Phúc Thọ ta lại thấy kẻ thù chủ nghĩa thực dân mới và bọn phản động vẫn tìm mọi cách phá hoại ngấm ngầm! Rồi qua những nhân vật Cự, Diêu, Viên người đọc cũng thấy được những yếu kém của ta trong làm ăn, trong cách nhìn, cách nghĩ và công tác cán bộ… Khi đã thấy căn nguyên là sẽ tìm được cách khắc phục và có hướng đi, tất nhiên còn phải trải qua nhiều vất vả chứ không thể là công việc dễ dàng. Trong cách miêu tả và thể hiện nhà văn đã nói với người đọc. Hơn thế nữa, "Những cánh cửa đã mở" qua thành công của Trung, qua cái nhìn ưu ái đầy sức phát hiện nâng đỡ và một quan điểm cách mạng, khoa học mà chứa chan tình người của vị lãnh đạo cao cấp của Nhà nước, và sự xuất hiện lớp cán bộ lãnh đạo mới như Toàn, tác phẩm đã tạo được niềm tin, thôi thúc người đọc cùng suy nghĩ và tham gia vào cuộc đấu tranh cải tạo xã hội.

Huế, 30-10-1986
P.N.T.
(SH22/12-86)










 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • (Phỏng vấn đối thoại với các nhà văn Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc và nhà thơ Trần Dần)

  • Hữu Loan [1916-2010 là khuôn mặt văn học đặc biệt trong nền thi ca Việt Nam đương đại từ non 70 năm nay. Ông làm thơ hay, hiện đại, tân kỳ, nhưng tên tuổi thường xuất hiện theo thời sự.

  • Tiểu thuyết "Công chúa nhỏ" của Frances Hodson Burnett kể câu chuyện về cô tiểu thư thất thế, nhưng vẫn mang trong mình cốt cách lớn.

  • (Vài cảm nhận khi đọc “BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA” tiểu thuyết của nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN
    (cty vh Phuong Nam-Nxb Hội Nhà văn, 2011)

  • “Lịch sử không bao giờ lầm lẫn, nhà văn Lan Khai là người có công với nước”. Câu nói đó của Thiếu tướng Hoàng Mai đã khẳng định những cống hiến của Lan Khai đối với cách mạng và nền văn học nước nhà. Từ thành tựu sáng tác cho đến nhận định của các nhà văn, nhà báo tiền bối (Trần Huy Liệu, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan...) về Lan Khai, chúng ta càng thấy tự hào về một con người, một nhà văn đáng kính đã làm trọn thiên chức của mình đối với dân tộc...

  • “Những năm chiến tranh, miền Trung là túi bom túi đạn, và nguồn lực đất nước cũng dồn về đây. Nhiều nhà văn nhà thơ, nhiều tác phẩm VHNT nổi tiếng cũng xuất hiện từ vùng đất này. Còn hiện nay, dù đội ngũ tác giả ở miền Trung có thưa hơn, nhưng những con người miền Trung dù đi đâu cũng vẫn mang theo truyền thống sáng tạo độc đáo, giàu khí chất của miền đất này. Đó là một cuộc mở mang và bồi đắp tâm hồn trên dọc dài đất nước…”

  • Khi cầm bộ sách này trong tay thì hình ảnh nhà nho yêu nước Phạm Phú Thứ không còn bị khuất lấp trong lớp sương mù thời gian mà hiện ra rờ rỡ, rõ ràng trước mắt chúng ta với một tâm thế mới.

  • “Có lần tôi hỏi anh Học: Tư tưởng cách mệnh của mày nảy ra từ hồi nào? ​Anh đáp: Từ năm độ lên mười tuổi! Hồi ấy tao còn học chữ Nho ở nhà quê...”.

  • NGÔ MINH

    Trong các tập thơ xuất bản ở Huế trong mấy năm lại đây, "Ngọn gió đi tìm" là một trong số rất ít tập được đọc giả mến mộ, có thể nói được rằng: đó là một tập thơ hay! Tập thơ tạo được sự cuốn hút, sự nhập cuộc của người đọc.

  • “Với Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, GS Lê Thành Khôi đã trình bày lịch sử không phải lịch sử chính trị, mà là lịch sử của con người”, GS Phan Huy Lê nói về cuốn sử quý vừa ra mắt tại VN sau nhiều năm ở nước ngoài.

  • Sự nát tan của các giá trị tinh thần trong đời sống hiện đại được Trần Nhã Thụy đưa vào tiểu thuyết mới bằng văn phong hài hước, chua chát.

  • Cuốn sách "Trăm năm trong cõi" của giáo sư Phong Lê viết về 23 tác giả khai mở và hoàn thiện diện mạo văn học hiện đại Việt Nam.

  • Trên tạp chí Kiến thức ngày nay số 839 ra ngày 01-12-2013 có đăng  bài Kỷ niệm về một bài thơ & một câu hỏi chưa lời giải đáp của Nguyễn Cẩm Xuyên. Vấn đề nêu lên rất thú vị: đó là cách hiểu chữ giá trong bài thơ Cảnh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ này trong nguyên văn chữ Nôm không có tên gọi. Những người soạn giáo khoa đã căn cứ vào nội dung đặt tên cho bài thơ là Cảnh nhàn và đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường trước đây.

  • Ký ức về những tháng ngày mải miết hành quân trên đất Campuchia, những phút giây nén lòng nhớ về quê hương, gia đình… vẫn chưa bao giờ nhạt phai trong tâm thức những người cựu chiến binh Đoàn 367 đặc công-biệt động trong kháng chiến chống Mỹ năm xưa.

  • LÊ VIỄN PHƯƠNG

    (Nhân đọc Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình & hiện tượng của Nguyễn Đăng Điệp, Nxb. Văn học, 2014)

  • Cuốn Minh triết Việt trong văn minh Đông phương của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ cội nguồn văn hiến của dân tộc Việt qua sự phân tích những di sản văn hóa truyền thống bằng các phương pháp mang tính khoa học.

  • 17 chân dung các nhà học thuật Việt Nam thế kỷ 19 và 20 qua các tiểu luận nghiên cứu ẩn dưới dạng thức tùy bút của  Đỗ Lai Thúy đủ sức vẫy vào nhận thức người đọc hôm nay những vỡ lẽ mới.

  • Giáo sư hy vọng độc giả cũng cảm thấy như mình khi đọc "Lòng người mênh mang" bởi các trang viết chứa đựng những sự thật không thể chối cãi.

  • Tác giả Phạm Xuân Hiếu sử dụng vốn sống, kiến thức về văn hóa, cổ vật khi viết những truyện ngắn trong sách "Cây đèn gia bảo".

  • LÊ HUỲNH LÂM  

    Có một bạn trẻ hỏi rằng: làm thế nào để viết thật hay? Tôi nói như phản xạ, trước hết tác giả phải có đời sống văn chương.