Những đối thoại tưởng tượng

14:46 30/11/2010
THANH THẢO(Đọc “Bán đảo” của Thái Bá Lợi)

Nhà văn Thái Bá Lợi - Ảnh: tuoitre.vn


V
iết là mở những cuộc đối thoại liên tục, trong tưởng tượng, với các nhân vật, với các quyển sách, với chính mình. Biết cách nói và biết cách nghe: đó là bí quyết của nhà văn. Chơi với Thái Bá Lợi đã lâu, tôi thấy dường như anh nắm được bí quyết ấy. Tôi đến các tác phẩm của anh như một người xem tranh trong phòng tranh có lúc lướt qua một số bức, có lúc dừng rất lâu trước một bức nó thu hút mình. Lúc này, tôi dừng trước “Bán đảo”. Dù không có máy cát-sét phóng viên, tôi cũng tranh thủ phỏng vấn chay anh Lợi mấy câu:

- Tôi không phải là độc giả trung thành với một cách viết một gương mặt nhưng tôi có cảm giác anh đang hiện rõ dần qua “Bán đảo”, hay nói như một nhà thơ bạn chúng ta anh đang “chầm chậm tới mình”?

- Tôi đang tìm một cái gì đó, nhiều khi, cái đó ta tìm được rồi mà ta vẫn chưa biết. Theo tôi nghĩ, trong văn học, cái chưa biết quan trọng hơn cái ta muốn tìm.

- Với anh cái đó là tiết tấu chăng?

- Anh nghĩ như vậy?

- Tôi đoán mò thôi. Nhưng nếu tiết tấu là cái đó, thì anh đã tìm được nó rồi.

- Ước chi thầy Sê-khốp sống lại.

- Để thầy nói cho chúng ta nghe về tiết tấu trong các truyện và kịch của thầy, cái đã tạo nên những tầng không gian riêng, chất ngọt và chất đắng riêng, vẻ mơ hồ của những vực thẳm cùng những cọc tiêu nhỏ bé dựng bên lề vực thẳm ấy.

- Quả thật tiết tấu là cái gì khó hình dung.

- Như vậy, văn xuôi có phải hoàn toàn là lĩnh vực của sự sáng rõ không?

- Có và không.

- Viết văn cũng giống như đang yêu: nhiều khi ta theo đuổi đến hụt hơi cô gái này, nhưng cuối cùng ta lại yêu được … cô gái kia. Mặc dù thế, ta cứ sung sướng và khốn khổ như thường.

- Giống lúc ta sung sướng và khốn khổ chạy đuổi như điên từ trang này sang trang khác, từ quyển này sang quyển khác. Có người chạy “ma-ra-tông” suốt đời như vậy mà vẫn độc thân.

- Tôi hơi tò mò một chút: “Bán đảo” đã là “cô gái kia” của anh chưa?

Tôi không dám nói chắc. Nhưng, đã có một cái gì đó…

- Tôi cũng cảm giác như vậy, chúc anh thành công.

Nếu đoạn phỏng vấn tưởng tượng trên chưa làm anh Lợi hài lòng, như anh chưa hài lòng về những đoạn đối thoại giữa các nhân vật của mình, cũng là điều dễ hiểu. Chúng ta luôn phải dò tìm và luôn phải thử lại nhiều cách.

Tôi chợt nhớ đến “Vầng trăng và ngọn lửa” của Xêdarê Pavixê: phải đi tận cùng đời mình để nói được một tiếng nói giản dị mà sâu thẳm đến như vậy.

Trở lại “Bán đảo”. Một tiếng nói từ bên trong, xuyên suốt tập sách, không ngừng đối thoại với từng nhân vật, với hai hay ba nhân vật một lúc, đối thoại với quá khứ, hiện tại, tương lai, và cuối cùng đối thoại với tác giả cũng là một nhân vật trong truyện. Tôi có thể nói ngay mà không sợ hố rằng tiếng nói ấy chính là tiết tấu của tác phẩm. Nhiều lúc, tiết tấu hiện bằng những khoảng lặng. Mặc cho ai chơi những mánh miếng tân kỳ, mặc những cách tỏ tình táo bạo “hiện đại”, tôi cứ thấm mãi đoạn văn này của anh tả tình yêu, một tình yêu không trọn cứ từng lúc được chiếu dội lên từ ngọn lửa của ký ức:

“Chúng tôi cứ quấn quít bên nhau đứa chùi nồi, đứa nhen lửa. Ngọn lửa cơm tàn rồi lại đỏ, đỏ rồi lại tàn trước mặt chúng tôi. Chúng tôi lặng lẽ ngồi bên nhau cho đến khi vần cơm xuống tro không nói một lời nào” (trang 23)

Đó là rượu thứ thiệt. Nó cô đơn giữa những chai rượu nhãn xanh đỏ lòe loẹt bày trên quầy rượu.

Cùng anh Lợi đi uống cà phê nhiều lần ở cái quán “cà phê giao ban” của Bán đảo, tôi vẫn thích thú đọc đoạn tả về quán ấy trong truyện. Ở đây là đời sống, nó vừa khiến ta đau vừa làm ta buồn cười, nó “hỗn tạp và phong phú” như anh nói. Và nụ cười của tôi chưa tắt khi tôi chợt nhớ đến một vài nhà văn tháp ngà lại cứ hối thúc cho chúng tôi đi thực tế. Đời sống không duy nhất ở một mảng nào, đời sống là tất cả. Và nhà văn phải có nghĩa vụ hiểu biết tất cả giữa cái giới hạn khắc nghiệt của đời mình. Nếu anh Lợi không “đi thực tế” chiến trường với tư cách một người lính, một quân y sĩ (trước khi là một nhà văn) lăn lộn hàng chục năm ở địa bàn miền Trung, thì làm sao có nhân vật Hải trong “Bán đảo”. Mà nếu không có nhân vật Hải, thì làm sao có “Bán đảo”? Và nếu anh Lợi không là một “yếu nhân” như các “yếu nhân” khác của Bán đảo, tham gia hàng ngày vào cuộc sống của mọi người, nếu anh chỉ đến đây như một nhà văn đi “nghỉ hè miễn phí” thì lấy đâu ra anh Ngà, chị Tân để chúng ta đối thoại với. Và còn Trinh, Nguyên, hai cô cậu thuộc “thế hệ thứ tư” này, ngay cha mẹ họ còn khó hiểu họ nữa là chúng ta.

(Viết đến đây, xin lỗi anh Lợi, cho tôi ngừng một phút để đi thực tế: “tôi phải đổ nước dột trong nhà, mấy hôm nay mưa dai dẳng, nhà tôi bị dột theo kiểu tháo khoán và cái bàn viết của tôi có nguy cơ thành một bán đảo).

“- Mỗi người có một con đường. Như đoàn tàu đã trên đường ray rồi thì cứ thế mà chạy cho đến ga cuối cùng, không thể sang đường xe hơi được.

Anh Hải nhìn tôi, có phần hơi ngạc nhiên:

- Tôi không tin như vậy. Nhưng cần phải có thời gian.

Có lẽ khuyết điểm lớn nhất của con người là sự nôn nóng ông ạ. Ông có thuộc diện những người hay sốt ruột không?” (trang 98). Tôi không muốn trả lời vội vàng. Nhưng có lẽ đây là đoạn đối thoại quan trọng nhất của tác phẩm, quan trọng ngay với cuộc đời sáng tạo của nhà văn nữa.

Theo một công thức cũ kỹ của phê bình, lẽ ra tôi phải nói được bảy mươi phần trăm thành công và ba mươi phần trăm thiếu sót của tác phẩm, nhưng tôi đã không làm được điều đó, đơn giản chỉ vì tôi không phải là nhà phê bình chuyên nghiệp. Với anh Lợi, tôi biết, dù có chê anh cũng không giận, dù quá khen anh cũng không mừng. Với tôi, đó là bản lĩnh của người cầm bút.

Viết “Bán đảo” anh Lợi đã bỏ qua cái dày rậm trong các tác phẩm trước của mình, giờ đây anh chú mục vào con người với những số phận riêng mà lại móc chặt nhau, những phía thuận và nghịch của nó, những tìm kiếm khắc khoải của nó để tự tỏa sáng trong cuộc đời chung. Đúng như một nhân vật chính trong truyện đã nói, đất nước chúng ta là đất nước đầy bản lĩnh, dân tộc chúng ta là dân tộc đầy bản lĩnh, có lý nào mỗi người chúng ta lại sống thiếu bản lĩnh, chúng ta đâu phải là những tảng rông tấp vào phiến đá của Hòn Chìm, một cách tình cờ, vô ích? Một lần nữa, câu hỏi này lại xoáy vào lòng những người cầm bút, những nhà văn, những người được gọi một cách trân trọng là người sáng tạo.

Đây là cuộc đối thoại gay cấn nhất, đối thoại giữa nhà văn và các nhân vật của mình.

Qui Nhơn lập đông năm Quý Hợi

T.T
(8/8-84)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHAN VĂN CÁCTuy Lí Vương Nguyễn Miên Trinh (1820- 1897) là con thứ 11 vua Minh Mệnh triều Nguyễn, tự là Khôn Chương, lại có tự là Quý Trọng, hiệu là Tĩnh Phố (tên ngôi vườn ông ở) lại có hiệu là Vi Dã. Tuy Lí Vương là tước phong cuối cùng của ông (trước đó từng có tước Tuy Quốc công năm 19 tuổi).

  • HOÀNG CẦM(Lời Bạt cho tập thơ ĐÓA TẦM XUÂN của Trịnh Thanh Sơn - Nhà Xuất bản Văn học 1999)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTác phẩm đầu tay của tôi - tập ký sự “Vì sự sống con đường” (NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1968) viết về những đồng đội của tôi trong cuộc chiến đấu anh hùng bảo vệ tuyến đường 12A lên đèo Mụ Dạ, một đoạn đường trọng yếu trong hệ thống đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1965-1966, được xuất bản năm 1968, nhưng bài viết đầu tiên của tôi được in trên báo chí khi tôi vừa tròn 20 tuổi và đang học tại Hà Nội.

  • Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn. Anh sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930, quê ở xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà thơ mất ngày 15 tháng 12 năm 1980, tại thành phố Huế.

  • LÊ VĂN DƯƠNG1. Quý II năm 2005, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh phát hành, nói đúng ra là tái bản lần thứ nhất cuốn Tản mạn nhớ và quên của Nguyên Ngọc. Cuốn sách dày 560 trang, tập hợp 15 bài viết của tác giả ở những thời điểm khác nhau nhưng đa phần là vào những năm 90 của thế kỷ XX và một vài năm mở đầu thế kỷ XXI.

  • PHAN CHÍNSau khi làm tròn vai một nhà chính trị, không giống như nhiều người khác, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm rời Thủ đô Hà Nội về Huế sinh sống.

  • NGUYỄN THỊ KIM THANH(Nhân đọc Tập thơ Ngày đầu tiên của Trần Hữu Lục - NXB Hội Nhà Văn, 01-2010)

  • HOÀNG NHƯ MAI - NGUYỄN VĂN HẤN Cùng với những tập quán cổ truyền ngày Tết dân tộc, từ cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, nhân dân ta đã có thêm một tập quán quý báu nữa: đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ.

  • NGÔ MINHTôi đọc và để ý đến thơ Đông Hà khi chị còn là sinh viên khoa văn Trường Đại học Sư phạm Huế. Thế hệ này có rất nhiều nữ sinh làm thơ gây được sự chú ý của bạn đọc ở Huế và miền Trung như Lê Thị Mỹ Ý, Nguyễn Thanh Thảo, Huỳnh Diễm Diễm.v.v... Trong đó có ấn tượng đối với tôi hơn cả là thơ Đông Hà.

  • NGUYỄN ANH TUẤNKhông gian trữ tình không là một địa danh cụ thể. Mặc dù có một “thôn Vĩ” luôn hiện hữu hết sức thơ mộng trên toàn đồ trực diện thẩm mỹ của bài thơ, với những màu sắc, hình ảnh, đường nét:…

  • KHÁNH PHƯƠNGNhân cách văn hóa của nhà văn có thể được biểu hiện bằng những hành động, thái độ trong đời sống, nhưng quan trọng hơn, nó chi phối nhân cách sáng tạo của nhà văn.

  • HỒNG DIỆUTrương Mỹ Dung đời Đường (Trung Quốc) có một bài thơ tình yêu không đề, được nhiều nhà thơ Việt Nam chú ý.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LANMột hôm chú Văn tôi (Hải Triều Nguyễn Khoa Văn) đọc cho cả nhà nghe một bài thơ mà không nói của ai.

  • NGUYỄN QUANG HÀTôi nhớ sau thời gian luyện tập miệt mài, chuẩn bị lên đường chi viện cho miền Nam, trong lúc đang nơm nớp đoán già đoán non, không biết mình sẽ vào Tây Nguyên hay đi Nam Bộ thì đại đội trưởng đi họp về báo tin vui rằng chúng tôi được tăng viện cho chiến trường Bác Đô.

  • LÊ HUỲNH LÂM(Đọc tập truyện ngắn “Thõng tay vào chợ” của Bạch Lê Quang, NXB Thuận Hóa, 11/2009)

  • LÊ VŨ(Đọc tập thơ Nháp của Ngọc Tuyết - NXB Thanh niên 2009)

  • NGÔ MINHÐọc lại Chiếu Dời đô, tôi bỗng giật mình trước sự vĩ đại của một quyết sách. Từng câu từng chữ trong áng văn chương bất hủ này đều thể hiện thái độ vừa quyết đoán dứt khoát với một lý lẽ vững chắc, vừa là một lời kêu gọi sự đồng thuận của triều thần với lời lẽ rất khoan hòa, mềm mỏng.

  • LÊ HUỲNH LÂMThơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • KHÁNH PHƯƠNGNgay từ thuở cùng Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương viết tuyên ngôn Tượng trưng, Trần Dần đã mặc nhiên khảng khái công bố quan niệm, thơ bỏ qua những biểu hiện đơn nghĩa của sự vật, sự kiện, đời sống, mà muốn dung hợp tất cả biểu hiện hiện thực trong cõi tương hợp của cảm giác, biến nó thành không gian rộng lớn tiếp biến kỳ ảo của những biểu tượng tiềm thức. Như vậy cũng có nghĩa, nhà thơ không được quyền sao chép ngay cả những cảm xúc dễ dãi của bản thân.

  • NGUYỄN CƯƠNGSư Bà Thích Nữ Diệu Không (tục danh Hồ Thị Hạnh) sinh năm 1905 viên tịch năm 1997 hưởng thọ 93 tuổi. Lúc sinh thời Sư Bà trụ trì tại Chùa Hồng Ân, một ngôi chùa nữ tu nổi tiếng ở TP Huế, đã một thời là trung tâm Phật giáo ở miền Nam.