Nhà văn Thái Bá Lợi - Ảnh: tuoitre.vn
Viết là mở những cuộc đối thoại liên tục, trong tưởng tượng, với các nhân vật, với các quyển sách, với chính mình. Biết cách nói và biết cách nghe: đó là bí quyết của nhà văn. Chơi với Thái Bá Lợi đã lâu, tôi thấy dường như anh nắm được bí quyết ấy. Tôi đến các tác phẩm của anh như một người xem tranh trong phòng tranh có lúc lướt qua một số bức, có lúc dừng rất lâu trước một bức nó thu hút mình. Lúc này, tôi dừng trước “Bán đảo”. Dù không có máy cát-sét phóng viên, tôi cũng tranh thủ phỏng vấn chay anh Lợi mấy câu: - Tôi không phải là độc giả trung thành với một cách viết một gương mặt nhưng tôi có cảm giác anh đang hiện rõ dần qua “Bán đảo”, hay nói như một nhà thơ bạn chúng ta anh đang “chầm chậm tới mình”? - Tôi đang tìm một cái gì đó, nhiều khi, cái đó ta tìm được rồi mà ta vẫn chưa biết. Theo tôi nghĩ, trong văn học, cái chưa biết quan trọng hơn cái ta muốn tìm. - Với anh cái đó là tiết tấu chăng? - Anh nghĩ như vậy? - Tôi đoán mò thôi. Nhưng nếu tiết tấu là cái đó, thì anh đã tìm được nó rồi. - Ước chi thầy Sê-khốp sống lại. - Để thầy nói cho chúng ta nghe về tiết tấu trong các truyện và kịch của thầy, cái đã tạo nên những tầng không gian riêng, chất ngọt và chất đắng riêng, vẻ mơ hồ của những vực thẳm cùng những cọc tiêu nhỏ bé dựng bên lề vực thẳm ấy. - Quả thật tiết tấu là cái gì khó hình dung. - Như vậy, văn xuôi có phải hoàn toàn là lĩnh vực của sự sáng rõ không? - Có và không. - Viết văn cũng giống như đang yêu: nhiều khi ta theo đuổi đến hụt hơi cô gái này, nhưng cuối cùng ta lại yêu được … cô gái kia. Mặc dù thế, ta cứ sung sướng và khốn khổ như thường. - Giống lúc ta sung sướng và khốn khổ chạy đuổi như điên từ trang này sang trang khác, từ quyển này sang quyển khác. Có người chạy “ma-ra-tông” suốt đời như vậy mà vẫn độc thân. - Tôi hơi tò mò một chút: “Bán đảo” đã là “cô gái kia” của anh chưa? Tôi không dám nói chắc. Nhưng, đã có một cái gì đó… - Tôi cũng cảm giác như vậy, chúc anh thành công. Nếu đoạn phỏng vấn tưởng tượng trên chưa làm anh Lợi hài lòng, như anh chưa hài lòng về những đoạn đối thoại giữa các nhân vật của mình, cũng là điều dễ hiểu. Chúng ta luôn phải dò tìm và luôn phải thử lại nhiều cách. Tôi chợt nhớ đến “Vầng trăng và ngọn lửa” của Xêdarê Pavixê: phải đi tận cùng đời mình để nói được một tiếng nói giản dị mà sâu thẳm đến như vậy. Trở lại “Bán đảo”. Một tiếng nói từ bên trong, xuyên suốt tập sách, không ngừng đối thoại với từng nhân vật, với hai hay ba nhân vật một lúc, đối thoại với quá khứ, hiện tại, tương lai, và cuối cùng đối thoại với tác giả cũng là một nhân vật trong truyện. Tôi có thể nói ngay mà không sợ hố rằng tiếng nói ấy chính là tiết tấu của tác phẩm. Nhiều lúc, tiết tấu hiện bằng những khoảng lặng. Mặc cho ai chơi những mánh miếng tân kỳ, mặc những cách tỏ tình táo bạo “hiện đại”, tôi cứ thấm mãi đoạn văn này của anh tả tình yêu, một tình yêu không trọn cứ từng lúc được chiếu dội lên từ ngọn lửa của ký ức: “Chúng tôi cứ quấn quít bên nhau đứa chùi nồi, đứa nhen lửa. Ngọn lửa cơm tàn rồi lại đỏ, đỏ rồi lại tàn trước mặt chúng tôi. Chúng tôi lặng lẽ ngồi bên nhau cho đến khi vần cơm xuống tro không nói một lời nào” (trang 23) Đó là rượu thứ thiệt. Nó cô đơn giữa những chai rượu nhãn xanh đỏ lòe loẹt bày trên quầy rượu. Cùng anh Lợi đi uống cà phê nhiều lần ở cái quán “cà phê giao ban” của Bán đảo, tôi vẫn thích thú đọc đoạn tả về quán ấy trong truyện. Ở đây là đời sống, nó vừa khiến ta đau vừa làm ta buồn cười, nó “hỗn tạp và phong phú” như anh nói. Và nụ cười của tôi chưa tắt khi tôi chợt nhớ đến một vài nhà văn tháp ngà lại cứ hối thúc cho chúng tôi đi thực tế. Đời sống không duy nhất ở một mảng nào, đời sống là tất cả. Và nhà văn phải có nghĩa vụ hiểu biết tất cả giữa cái giới hạn khắc nghiệt của đời mình. Nếu anh Lợi không “đi thực tế” chiến trường với tư cách một người lính, một quân y sĩ (trước khi là một nhà văn) lăn lộn hàng chục năm ở địa bàn miền Trung, thì làm sao có nhân vật Hải trong “Bán đảo”. Mà nếu không có nhân vật Hải, thì làm sao có “Bán đảo”? Và nếu anh Lợi không là một “yếu nhân” như các “yếu nhân” khác của Bán đảo, tham gia hàng ngày vào cuộc sống của mọi người, nếu anh chỉ đến đây như một nhà văn đi “nghỉ hè miễn phí” thì lấy đâu ra anh Ngà, chị Tân để chúng ta đối thoại với. Và còn Trinh, Nguyên, hai cô cậu thuộc “thế hệ thứ tư” này, ngay cha mẹ họ còn khó hiểu họ nữa là chúng ta. (Viết đến đây, xin lỗi anh Lợi, cho tôi ngừng một phút để đi thực tế: “tôi phải đổ nước dột trong nhà, mấy hôm nay mưa dai dẳng, nhà tôi bị dột theo kiểu tháo khoán và cái bàn viết của tôi có nguy cơ thành một bán đảo). “- Mỗi người có một con đường. Như đoàn tàu đã trên đường ray rồi thì cứ thế mà chạy cho đến ga cuối cùng, không thể sang đường xe hơi được. Anh Hải nhìn tôi, có phần hơi ngạc nhiên: - Tôi không tin như vậy. Nhưng cần phải có thời gian. Có lẽ khuyết điểm lớn nhất của con người là sự nôn nóng ông ạ. Ông có thuộc diện những người hay sốt ruột không?” (trang 98). Tôi không muốn trả lời vội vàng. Nhưng có lẽ đây là đoạn đối thoại quan trọng nhất của tác phẩm, quan trọng ngay với cuộc đời sáng tạo của nhà văn nữa. Theo một công thức cũ kỹ của phê bình, lẽ ra tôi phải nói được bảy mươi phần trăm thành công và ba mươi phần trăm thiếu sót của tác phẩm, nhưng tôi đã không làm được điều đó, đơn giản chỉ vì tôi không phải là nhà phê bình chuyên nghiệp. Với anh Lợi, tôi biết, dù có chê anh cũng không giận, dù quá khen anh cũng không mừng. Với tôi, đó là bản lĩnh của người cầm bút. Viết “Bán đảo” anh Lợi đã bỏ qua cái dày rậm trong các tác phẩm trước của mình, giờ đây anh chú mục vào con người với những số phận riêng mà lại móc chặt nhau, những phía thuận và nghịch của nó, những tìm kiếm khắc khoải của nó để tự tỏa sáng trong cuộc đời chung. Đúng như một nhân vật chính trong truyện đã nói, đất nước chúng ta là đất nước đầy bản lĩnh, dân tộc chúng ta là dân tộc đầy bản lĩnh, có lý nào mỗi người chúng ta lại sống thiếu bản lĩnh, chúng ta đâu phải là những tảng rông tấp vào phiến đá của Hòn Chìm, một cách tình cờ, vô ích? Một lần nữa, câu hỏi này lại xoáy vào lòng những người cầm bút, những nhà văn, những người được gọi một cách trân trọng là người sáng tạo. Đây là cuộc đối thoại gay cấn nhất, đối thoại giữa nhà văn và các nhân vật của mình. Qui Nhơn lập đông năm Quý Hợi T.T (8/8-84) |
Tải mã QRCode
NGUYỄN NHÃ TIÊNTừ buổi trình làng tập thơ “Bông hồng ngủ quên”, tiếp theo là tập “Nhặt mùi hương trầm đâu đây”, cho đến bây giờ thi phẩm thứ ba của Võ Kim Ngân “Viết lúc sang mùa” vừa mới được Nxb Văn học cấp phép ấn hành tháng 7-2010.
TRẦN HUYỀN TRÂNNgày 10 - 10, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế và Công ty Văn hóa Phương Nam đã tổ chức buổi tọa đàm về tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Buổi tọa đàm đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà văn, nhà nghiên cứu và đông đảo sinh viên các trường đại học.
KIM QUYÊNSau tập thơ Ngày đầu tiên(*), nhà văn Trần Hữu Lục tiếp tục ra mắt bạn đọc tập Góc nhìn văn chương(**) và anh sẽ xuất bản tập truyện ngắn Trần Hữu Lục (tuyển chọn năm 2010). Thật là một mùa bội thu với nhà văn Trần Hữu Lục.
HỒNG DIỆU(Nhân đọc Trái tim sinh nở và Bài thơ không năm tháng *)
MAI VĂN HOANTôi cố hình dung những tháng ngày nhà văn Hồng Nhu trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh từng gắn bó đã hơn hai mươi năm với bao kỷ niệm vui buồn.
KHẢI PHONG“Thơ kỵ nhất viết điều người đã viết! Nhưng biết sao, khi tôi mến sông Cầu…Lòng khẽ nhắc: đừng nói điều đã viết,Sao âm vang cứ mãi gọi: sông Cầu”
(Về cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên Huế do Sông Hương tổ chức)BAN TỔ CHỨC CUỘC THINhằm tạo không khí sáng tác, phát hiện các cây bút trẻ Huế, trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Tài năng Trẻ, Tạp chí Sông Hương tổ chức Cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên đang theo học các trường đại học và cao đẳng ở Huế.
LÊ HUỆCuộc thi Truyện ngắn cho sinh viên Huế do tạp chí Sông Hương tổ chức đã thu hút được sự tham gia của rất nhiều các bạn trẻ mang trong mình khát vọng văn chương. Những truyện ngắn dự thi đã cho ta thấy được một vóc dáng mới của các cây bút trẻ Huế hiện nay: phản ánh cuộc sống đương đại từ nhiều góc cạnh bằng bút pháp tinh tế, mới mẻ, giàu trí tuệ và đầy chất thơ. Mười lăm truyện ngắn xuất sắc lọt vào chung khảo đã được tập hợp lại thành ấn phẩm mang tên “Yêu xa xa một phút”.
PHAN MINH NGỌC“Bài thơ về biển khơi” (*) là tập sáng tác đầu tay của cây bút nữ Trần Thùy Mai.
NGÔ HƯƠNG GIANGLàm thế nào để diễn giải hợp lý về Tường Thành?
KHẢI PHONGTôi đã có dịp gặp những trang thơ chân chất của Nguyễn Quang Hà trong “Tiếng gà trên đỉnh chốt”(1). Lần này gặp văn Nguyễn Quang Hà trong “Mùa xương rồng nở hoa” (2), cảm tưởng lưu lại trong tôi là văn anh gây được ấn tượng mạnh hơn thơ.
NGUYỄN ĐÔNG NHẬT19 lời chứng của những ONS(1) cuối cùng, lần đầu tiên được lên tiếng qua công trình nghiên cứu hoàn hảo của bà Liêm Khê LUGUERN(2) là những nhân chứng cuối cùng trong số khoảng 27.000 người từ Đông Dương bị lùa đến nước Pháp từ tháng 10/1939 đến tháng 6/1940 để phục vụ cho guồng máy chiến tranh của thực dân Pháp trong Thế chiến thứ II.
LÝ HẠNHAi trong đời chẳng đã một lần làm thơ. Dù làm thơ để giải trí hay sẻ chia thì những trang thơ ấy cũng là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn.
LTS: Có một chuyện ít người biết là các nhà văn Tô Hoài, Xuân Diệu, Huy Cận không nhớ ngày sinh của mình. Xuân Diệu, con nhà Nho, thì biết mình sinh giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn, năm Thìn, nhưng không biết dương lịch ngày nào. Nhà văn Tô Hoài cũng vậy, nhưng nhớ Bà Cụ cho biết sinh ông đêm rằm Trung Thu. Sau này, sang Nga, bạn người Nga hỏi, mới tra ra ngày Tây là 27-9-1920. Do đó trên các tư liệu, thường thấy ghi ngày sinh: 07-9-1920, và nhà văn cũng không buồn đính chính. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Tô Hoài, Sông Hương nhận được bài viết của nhà văn Đặng Tiến cùng thông tin về ngày sinh Tô Hoài nói trên. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
HOÀNG DŨNGKhông phải ngẫu nhiên khi ta nói vũ trụ, thế giới thì vũ, giới là không gian, mà trụ, thế là thời gian. Ngay trong những khái niệm tưởng chỉ là không gian, cũng đã có thời gian quấn quýt ở đấy.
LTS: Trong các ngày 7-9/9/2010 sắp đến, Ủy ban Văn hóa Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa Tổng Giám mục Giáo phận Huế sẽ tổ chức Hội thảo về thân thế và sự nghiệp của Léopold Cadière (1869-1955), Nhà nghiên cứu về Huế và Việt Nam học, chủ bút của tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H), một trong số các tờ báo hay nhất ở Đông Dương thuở trước. Hội thảo sẽ có một số nội dung liên quan đến văn hóa Huế như Văn hóa Huế, Mỹ thuật Huế, Cổ vật Huế dưới con mắt của L. Cadière... Nhân dịp này, Tạp chí Sông Hương đăng bài viết của nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh, chuyển tải vài nét về hoạt động văn hóa của Léopold Cadière. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.S.H
NGUYỄN THỊ HÒA Không cần phải bàn cãi, Từ điển tiếng Huế của Tiến sĩ, Bác sĩ Bùi Minh Đức là một tác phẩm Từ điển. Một quyển từ điển về phương ngữ địa phương Huế mà dày dặn, công phu, với 2050 trang, thể hiện công sức nghiên cứu miệt mài của một vị bác sĩ - nghiệp dư với nghề ngôn ngữ, nhưng đầy nhiệt tình và khá chuyên nghiệp trong nghiên cứu.
Sinh ngày 6-2-41 tại Huế. Hy sinh ngày 11-10-68 tại vùng biên giới tỉnh Tây Ninh, nguyên quán làng Bát Tràng tỉnh Bắc Ninh. Học sinh cũ Trường Quốc Học, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Ban Việt văn. Tên thật và bút hiệu công khai, chính thức: Trần Quang Long. Các bút hiệu khác: Thảo Nguyên, Chánh Sử, Trần Hoàng Phong.
TRẦN HỮU LỤCỞ tuổi 20, hành trình sáng tác của Nhóm Việt gắn liền với những biến cố lịch sử ở miền Nam (1965-1975). Những cây bút trẻ của Nhóm Việt đã bày tỏ một thái độ dấn thân ngày càng sâu sắc, vừa trên bình diện ý thức công dân, vừa trên bình diện ý thức nghệ sĩ.
PHONG LÊ(Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Tuân 10-7-1910 – 28-7-1987)