Bác sĩ Trương Thìn sinh năm 1940 tại Thừa Thiên Huế . Từ năm 1961 ông là sinh viên Trường đại học Y khoa Sài Gòn .Ông học giỏi, nhiệt tình tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước, là trưởng đoàn văn nghệ sinh viên học sinh Sài Gòn trong phong trào đấu tranh “Hát cho dân tôi nghe” những năm trước giải phóng.
Năm 1968 ông tốt nghiệp bác sĩ loại ưu với luận án có tựa đề mới lạ so với thời đó: "CHÂM CỨU”. Là bác sĩ Tây y nhưng Trương Thìn lại chuyên tâm nghiên cứu các tinh hoa y học cổ truyền. Ông đã sớm chọn cho mình hướng điều trị cho bệnh nhân là kết hợp Đông y với Tây y và dùng các loài thảo dược có nhiều dược tính ưu việt để chữa bệnh.
BS.Trương Thìn quan niệm: “Bệnh tật của cơ thể không đáng ngại bằng bệnh tật tâm hồn, muốn chữa bệnh trong tâm hồn không liều thuốc nào tốt bằng nghệ thuật. Chính nghệ thuật làm cho tuổi thọ con người được tăng thêm, đời sống con người phong phú hơn. Cái đẹp của nghệ thuật làm cho con người sống ý nghĩa hơn”. Ông đã áp dụng nghệ thuật vào công tác điều trị y học cổ truyền, áp dụng đông y vào cai nghiện ma túy, là tác giả của một trường phái châm cứu được phổ biến trong và ngoài nước từ 30 năm qua. Với chính mình, nghệ thuật của Trương Thìn chữa được bệnh của chính ông. Sức khỏe của Trương Thìn chính là niềm vui và “thuốc” nghệ thuật đã mang đến cho ông niềm vui đó. Trương Thìn đã tự “tìm thuốc trong nghệ thuật” được khoảng 40 tập thơ, 40 tập nhạc còn tranh thì khá nhiều.
Ở Viện Y học dân tộc TP Hồ Chí Minh , BS - Viện trưởng Trương Thìn đã cho treo tranh của ông ở tất cả các phòng bệnh (cả ở hành lang, lối đi). Bao quanh Viện là một khu vườn tượng rợp bóng và rất sạch sẽ. Ở đó có y miếu thờ các vị y tổ, có tượng các vị danh y Việt Nam và cả những nghệ sĩ đương thời (Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng). Tại đây ông thường xuyên tổ chức những đêm thơ nhạc có chủ đề cho bạn bè và bệnh nhân nghe.
… Họa sĩ Trịnh Thanh Tùng nói: “BS Trương Thìn đưa cả 4 loại hình “cầm, kỳ, thi, họa” vào cách chữa bệnh. Các bệnh nhân của Viện Y học dân tộc rất được lợi từ điều này!” Rất nhiều người nghèo và một số anh em văn nghệ sĩ TP. HCM có hoàn cảnh khó khăn đã được thầy thuốc Trương Thìn chữa trị với sự giúp đỡ tận tình và không lấy tiền.
Ông luôn “đi tìm thuốc” trong âm nhạc, thi ca, hội họa, đã sáng tác và phổ thơ hàng trăm ca khúc. Những ca khúc ông sáng tác, phổ thơ đều là những “bài thuốc chữa bệnh tâm hồn”, giúp người bệnh xoa dịu bớt nỗi đau bệnh tật, luôn cảm thấy bình yên. Người thầy thuốc ấy luôn hết lòng chữa trị cho bệnh nhân, vừa an ủi động viên người thân của họ trong những lúc khó khăn nhất. Bệnh nhân dù khó tính, bệnh khó chữa, sau một lần tìm tới bác sĩ Trương Thìn, rồi giới thiệu thêm bè bạn, người quen hoặc khăng khăng “gặp bác Thìn” khi quay lại.
Bác sĩ Trương Thìn đã từng đảm nhiệm các chức vụ Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, Viện trưởng Viện Y Dược học TP.HCM, Chủ nhiệm bộ môn Y học cổ truyền Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Chủ tịch Hội Đông y và Chủ tịch Hội Châm cứu TP.HCM.
BS. Trương Thìn cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về lý thuyết và thực hành Đông y và Châm cứu. Ông còn sáng tác thơ, viết văn, phổ nhạc, chơi đàn, vẽ tranh và đắp tượng…
Cuối tháng 4/2012, trên cương vị Chủ tịch Hội Châm cứu TP Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Châm cứu Việt Nam, ông đã đến dự Lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Hội Châm cứu Việt Nam tại Hà Nội. Trông ông rất phong độ, lạc quan và vui vẻ trò chuyện với mọi người, ký tặng cho chúng tôi sách mới xuất bản về Châm cứu . Gặp ông, không ai biết rằng cách đây 10 năm ông đã trải qua cuộc phẫu thuật tim bắc cầu nối chủ - vành (ba cầu nối), rồi bị tiểu đường, suy thận mạn và đang phải vào bệnh viện mỗi tuần hai lần để chạy thận nhân tạo.
BS. Trương Thìn đã hăng say làm việc không ngơi nghỉ cho tới lúc phải vĩnh viễn ra đi, lúc 18h55 ngày 20/12/2012 tại nhà riêng. Nhân giỗ đầu ông. Nhớ về người bác sĩ tìm thuốc trong nghệ thuật.
Theo Trần Giữu (SKĐS)
Tải mã QRCode
Chiều 3/10, chiếc xe kéo của Hoàng thái hậu Từ Minh, mẹ vua Thành Thái chính thức được chuyển vào Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp để chuẩn bị đưa về Việt Nam.
Đèo Hải Vân nằm trên dãy Trường Sơn, ở ranh giới 2 tỉnh Thừa Thiên-Huế (phía bắc) và TP.Đà Nẵng (phía
Cứ đến gần cuối năm, khi lúa trên rẫy đã đến độ chín vàng. Trời đông cũng đang se sắt lạnh, sương trắng bồng bềnh bay trên đỉnh núi A Túc là lúc mà toàn thể dân làng dù là tộc người Pacôh, TàÔi, Cơtu hay Pa hy.
Là điểm du lịch nổi tiếng của Thừa Thiên - Huế, Bạch Mã có rất nhiều nơi để tham quan như: Thác Đỗ Quyên, Ngũ Hồ, Vọng Hải Đài với vẻ đẹp của núi trời như một bức tranh thủy mặc.
Sau chiến tranh, gần 2/3 trong tổng số gần 300 công trình kiến trúc nghệ thuật cung đình của cố đô Huế trở thành phế tích, số còn lại trong tình trạng hư hại, xuống cấp nghiêm trọng. Cùng với việc nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã mở cuộc vận động bảo vệ di tích Huế và đạt kết quả to lớn.
Được xây dựng cách đây hơn 400 năm với bao biến động nhưng chùa Thiên Mụ vẫn giữ được vẻ uy nghi, thanh tịnh và cổ kính bên dòng sông Hương...
Không nơi đâu người phụ nữ lại thích mặc áo dài như ở Huế. Thậm chí, chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của các cô gái Huế. Điều đó đã làm cho du khách khi đến với Huế nhiều khi phải ngẩn ngơ khi có dịp được ngắm nhìn, chiêm ngưỡng.
Thời 13 vua Nguyễn (1802-1845) trị vì triều đại phong kiến cuối cùng Việt Nam đóng kinh đô tại Huế đã ghi nhận một số hoạt động khá phong phú của ngựa, dù thời này ngựa ít được dùng vào hoạt động quân sự.
Trong tất cả các triều đại phong kiến, duy nhất ở cố đô Huế có Bình An Đường là nhà an dưỡng và khám, chữa bệnh đặc biệt chỉ dành riêng cho các thái giám, cung nữ (thời vua nhà Nguyễn).
Huế, miền đất cố đô nằm ở miền trung Việt Nam, vẫn được biết đến như một thành phố thơ mộng và lãng mạn.
Đối với di sản văn hóa của dân tộc, tài liệu châu bản là một di sản có giá trị lớn. Đó là ký ức của lịch sử, là nguồn sử liệu gốc có ý nghĩa to lớn đối với việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đều không còn lưu giữ được nguồn tài liệu quý báu này, trừ triều Nguyễn (1802-1945), do những điều kiện lịch sử đặc biệt.
Hình ảnh thiên nhiên, con người và những lăng tẩm đền đài của xứ Huế vương vấn bước chân du khách mỗi lần có dịp ghé qua...
Làng Mỹ Lợi (xã Vinh Mỹ) và làng An Nông (xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên- Huế) là nơi lưu giữ những tài liệu chứng minh chủ quyền biển đảo Hoàng Sa của nước ta. Những tài liệu quý hàng trăm năm tuổi được người dân các ngôi làng này xem như báu vật và dốc sức giữ gìn.
Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh cũng là lúc ở Việt Nam, các thế lực bước vào một cuộc chạy đua nước rút để nắm quyền định đoạt tương lai nước này sau 80 năm là thuộc địa Pháp.
Khải Định đã tìm được một thế đất dường như “sinh ra để làm nơi ngả lưng cho một linh hồn quyền quý”…
Chỉ xếp sau Hà Nội, cũng giống như Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế là tỉnh sở hữu cùng lúc 2 di sản đã được Unesco công nhận, đó là Di sản văn hóa phi vật thể Nhã nhạc Cung đình và Di sản văn hóa thế giới Cố đô Huế.
Được xây dựng đã lâu nhưng các cây cầu độc đáo ở Huế, Hội An, Nam Định... vẫn giữ được nét đẹp kiến trúc thuở ban đầu.
Trải qua hơn 150 năm, nhiều thắng cảnh trong “Thần kinh nhị thập cảnh” do vua Thiệu Trị lựa chọn đã bị lụi tàn hoặc không còn nguyên vẹn. Nhưng đến Huế, du khách vẫn nhận ra vùng đất cố đô vẫn còn những thắng cảnh mang vóc dáng, hình hài của 20 cảnh đẹp Huế đô xưa.
Ngày 25-6, WWF và Microsoft tổ chức hội thảo chia sẻ thành công của dự án “Tăng cường rừng ngập mặn nhằm góp phần thích ứng biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học vùng đầm phá ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”, đồng thời công bố tiếp tục hỗ trợ dự án với phương pháp tiếp cận tích hợp hơn.
Thư viện Tổng hợp Thừa Thiên Huế vừa mới cùng với Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh về tại Đình làng Thủ Lễ thực hiện đề tài “nghiên cứu, sưu tầm, số hóa Hán Nôm”.