Nhớ người tìm thuốc trong nghệ thuật

09:19 20/12/2013

Bác sĩ Trương Thìn  sinh năm 1940 tại Thừa Thiên Huế . Từ năm 1961 ông là  sinh viên Trường đại học Y khoa Sài Gòn .Ông  học giỏi, nhiệt tình tham gia phong trào học  sinh, sinh viên yêu nước, là trưởng đoàn văn nghệ sinh viên học sinh Sài Gòn trong  phong trào đấu tranh “Hát cho dân tôi nghe” những năm trước giải phóng.

Năm 1968 ông tốt nghiệp bác sĩ loại ưu với luận án có tựa đề mới lạ so với thời đó: "CHÂM CỨU”. Là bác sĩ Tây y nhưng Trương Thìn lại chuyên tâm nghiên cứu các tinh hoa y học cổ truyền. Ông đã sớm chọn cho mình hướng điều trị cho bệnh nhân là kết hợp Đông y  với Tây y  và dùng các loài thảo dược có nhiều dược tính ưu việt  để chữa bệnh.

BS.Trương Thìn quan niệm: “Bệnh tật của cơ thể không đáng ngại bằng bệnh tật tâm hồn, muốn chữa bệnh trong tâm hồn không liều thuốc nào tốt bằng nghệ thuật. Chính nghệ thuật làm cho tuổi thọ con người được tăng thêm, đời sống con người phong phú hơn. Cái đẹp của nghệ thuật làm cho con người sống ý nghĩa hơn”. Ông đã  áp dụng nghệ thuật vào công tác điều trị y học cổ truyền, áp dụng đông y vào cai nghiện ma túy, là tác giả của một trường phái châm cứu được phổ biến trong và ngoài nước từ 30 năm qua. Với chính mình, nghệ thuật của Trương Thìn chữa được bệnh của chính ông. Sức khỏe của Trương Thìn chính là niềm vui và “thuốc” nghệ thuật đã mang đến cho ông niềm vui đó. Trương Thìn đã tự “tìm thuốc trong nghệ thuật” được khoảng 40 tập thơ, 40 tập nhạc còn tranh thì khá nhiều.

Ở Viện Y học dân tộc  TP Hồ Chí Minh  , BS - Viện trưởng Trương Thìn đã cho treo tranh của ông ở tất cả các phòng bệnh (cả ở hành lang, lối đi). Bao quanh Viện là một khu vườn tượng rợp bóng và rất sạch sẽ. Ở đó có y miếu thờ các vị y tổ, có tượng các vị danh y Việt Nam và cả những nghệ sĩ đương thời (Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng). Tại đây ông  thường xuyên   tổ chức những đêm thơ nhạc có chủ đề cho bạn bè và bệnh nhân nghe.

… Họa sĩ Trịnh Thanh Tùng nói: “BS Trương Thìn đưa cả 4 loại hình “cầm, kỳ, thi, họa” vào cách chữa bệnh. Các bệnh nhân của Viện Y học dân tộc rất được lợi từ điều này!”  Rất nhiều người nghèo  và một số anh em văn nghệ sĩ TP. HCM có hoàn cảnh khó khăn  đã được  thầy thuốc Trương Thìn   chữa trị với sự  giúp đỡ tận tình và không lấy tiền.

Ông luôn “đi tìm thuốc” trong âm nhạc, thi ca, hội họa, đã sáng tác và phổ thơ hàng trăm ca khúc. Những ca khúc ông sáng tác, phổ thơ đều là những “bài thuốc chữa bệnh tâm hồn”, giúp người bệnh xoa dịu bớt nỗi đau bệnh tật, luôn cảm thấy bình yên. Người thầy thuốc ấy luôn hết lòng chữa trị cho bệnh nhân, vừa an ủi động viên  người thân của họ trong những lúc khó khăn nhất. Bệnh nhân dù khó tính, bệnh khó chữa, sau một lần tìm tới bác sĩ Trương Thìn, rồi  giới thiệu thêm bè bạn, người quen hoặc  khăng khăng “gặp bác Thìn” khi quay lại.

Bác sĩ Trương Thìn đã từng  đảm nhiệm các chức vụ  Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, Viện trưởng Viện Y Dược học TP.HCM, Chủ nhiệm bộ môn Y học cổ truyền Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Chủ tịch Hội Đông y và Chủ tịch Hội Châm cứu TP.HCM.

BS. Trương Thìn cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về lý thuyết và thực hành Đông y và Châm cứu. Ông  còn sáng tác thơ, viết văn, phổ nhạc, chơi đàn, vẽ tranh và đắp tượng…

Cuối tháng 4/2012, trên cương vị Chủ tịch Hội Châm cứu TP Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Châm cứu Việt Nam, ông đã đến dự Lễ kỷ niệm 45 năm  thành lập Hội Châm cứu Việt Nam tại Hà Nội. Trông ông rất phong độ, lạc quan và vui vẻ trò chuyện với  mọi người, ký tặng cho chúng tôi  sách mới xuất bản về Châm cứu . Gặp ông, không ai biết rằng cách đây 10 năm ông đã trải qua cuộc phẫu thuật tim bắc cầu nối chủ - vành (ba  cầu nối), rồi bị tiểu đường, suy thận mạn và  đang phải vào bệnh viện mỗi tuần hai lần để chạy thận nhân tạo.

BS. Trương Thìn  đã  hăng say làm việc không ngơi nghỉ cho tới lúc phải vĩnh viễn ra đi, lúc 18h55 ngày 20/12/2012 tại nhà riêng. Nhân giỗ đầu ông. Nhớ về người bác sĩ tìm thuốc trong nghệ thuật.

 

Theo Trần Giữu (SKĐS)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Xin những bậc chuộng sách vở từ chương đừng mất công dở sử sách Nhà Nguyễn để tìm địa danh này vì nó không phải là cái tên chính thức do vua đặt ra; may ra chỉ có cụ già Léopold Cadière nặng lòng với Huế nên đưa cái tên Nam Đài vào tập san Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) mà thôi...

  • Như một thói quen, một sự tò mò khó lý giải cứ vào những đêm trăng sáng, nhiều người lại đến khu phế tích Tháp Đôi Liễu Cốc (thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) để xem vàng hiển linh.

  • Đây là một dinh thự 2 tầng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại, khác với các tòa nhà mang phong cách truyền thống trong Tử Cấm Thành.

  • Đây không phải là sản phẩm gì quá xa hoa mà chỉ là một vật dụng rất quen thuộc của người Việt xưa...

  • Trước khi có sự biến mất hoàn toàn các dấu tích cuối cùng của cửa “quan ải An-nam” trên đỉnh đèo Hải Vân, địa điểm cao nhất của đường cái quan nối liền Huế với Đà Nẵng, tôi thiết nghĩ cần hồi phục các kỷ niệm của nó bằng cách đưa ra các bức ảnh cho thấy tình trạng hiện nay, cũng như đưa ra một số lời giải thích ngắn gọn liên quan đến cửa ải xưa chưa đầy một thế kỷ này; nhưng hiện nay hoàn toàn bị phế bỏ và đang lần hồi mai một do ảnh hưởng tác hại của mưa nắng, của các loài cây cỏ bám cứng.

  • Phạm Duy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, hơn một phần ba cuộc đời ông sống ở Sài Gòn, hơn một phần ba sống ở ngoại quốc. Ông đi nhiều, yêu và được yêu cũng nhiều, kể cả người Pháp. Nhưng rồi qua trải nghiệm ông thấy người con gái Huế ông yêu là đẹp nhất, sâu sắc nhất...

  • Huyền Không Sơn Thượng hay còn gọi là chùa Huyền Không 2 cách cố đô Huế chừng 14 km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm (Hòn Vượn), xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

  • Không chỉ cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, Huế trước đây còn là kinh đô của nhà Nguyễn hàng trăm năm, nên đã hội tụ văn hoá nhiều miền của đất nước, tạo nên một di sản văn hoá đồ sộ, trong đó có CA DAO.

  • Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử, xây rồi phá, phá rồi xây nhưng vẻ đẹp trong lối kiến trúc của nhà thờ chính tòa Phủ Cam vẫn luôn hiện hữu, thách thức với thời gian.

  • “Tứ thú” xưa gồm ăn trầu, uống trà, hút thuốc, uống rượu được các bậc cha ông chơi và đạt đến một trình độ đẳng cấp.

  • Trải dòng lịch sử bi tráng của nước Việt, Hải Vân không chỉ là cung đèo kỳ vĩ mà còn đẫm máu xương vệ quốc. 

  • Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và lăng Minh Mạng. Trải qua thời gian với những biến cố lăng đã trở nên đổ nát.

  • Vua Hiệp Hòa (Nguyễn Phúc Hồng Dật, 1847 - 1883) là một trong những vị vua có số phận buồn nhất lịch sử Việt Nam...

  • Lễ bái ở lăng Minh Mạng, lính canh ở lăng Gia Long... là hình ảnh sinh động về con người ở kinh thành Huế xưa.

    Bài viết liên quan: 

    Hình ảnh hiếm có về kinh thành Huế những năm 1920

    Ảnh hiếm về kinh thành Huế những năm 1920 (2)

  • Cách đây gần 100 năm nhiều công trình kiến trúc ở Huế vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị xuống cấp và đổ nát như bây giờ.

  • Nhiều hình ảnh quý giá về kinh thành Huế của nhà Nguyễn trong khoảng năm 1919-1926 đã được nhiếp ảnh gia Pháp ghi lại...

  • Trong khuôn viên lăng vua Minh Mạng ở Huế có một di tích độc đáo nhưng ít người biết đến, đó là Tả tùng phòng trên núi Tịnh Sơn. Điểm đặc biệt của công trình này là cánh cửa vòm cuốn đã bị một cây si cổ thụ "nuốt chửng". Đây là minh chứng cho sức mạnh tàn phá của thiên nhiên và thời gian đối với các công trình do con người xây dựng.

  • Một bà Hoàng con đại gia, vợ ông vua Nguyễn nổi tiếng, nhan sắc Việt Nam đẹp nhất thế kỷ XX mà ngôi mộ của bà thua cả nhiều ngôi mộ của chị em tiểu thương chợ Đông Ba ở quê nhà. 

  • Người Huế vốn là người xứ kinh kỳ, nên lời ăn tiếng nói, cung cách ứng xử, đi lại cũng nhẹ nhàng, tri thức. Ẩm thực cung đình Huế cũng mang nhiều nét ảnh hưởng của cung cách hoàng gia: Ăn uống nhẹ nhàng, khoan thai, các món ăn ngoài khẩu vị ngon phải nhẹ và thanh, cách trình bày cũng phải đẹp, bắt mắt.

  • Ba giờ sáng, tại Đàn Nam Giao (Thừa Thiên Huế), không còn nghe tiếng hô đức vua xa giá, chỉ có âm thanh rì rầm dội vào rừng thông và những ánh mắt hướng về linh vị đặt trên bàn thờ. Những người dân đến Đàn Nam Giao để nguyện xin sự viên mãn, gia đình bình an.