Có những người cháu nội vua Thành Thái chỉ mong được một lần về thăm Huế nhưng ước mơ ấy trở nên quá xa vời bởi gánh nặng áo cơm.
Ông Bảo Thọ bên di ảnh ông nội là vua Thành Thái.
Hoàng tử Vĩnh Giu mất trong nghèo khó. Ông có di nguyện về cố đô Huế đoàn tụ với dòng tộc. Ông Vĩnh Giu hẳn cũng không ngờ rằng mình được an táng với nghi thức hoàng tộc, cho dù những cung tần, quân lính, quan lại đưa tang chỉ là những người… đóng vai.
Năm 2007, hoàng tử Vĩnh Giu đã qua đời tại BV 121 ở Cần Thơ do căn bệnh phổi. Sau đó, ông được gia đình đem tẩn liệm ở ngôi nhà 586 (nơi Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng đến thăm hỏi và trao tặng nhà tình thương cho gia đình). Lần trở về quê hương “an nghỉ ngàn thu” ấy cũng là dịp con cháu ông tìm lại dòng tộc.
Ông Bảo Thọ kể lại sự kiện này: “Trước khi mất hoàng tử Vĩnh Giu rất khỏe mạnh, ông phát bệnh trong thời gian ngắn, rồi qua đời đột ngột. Theo di nguyện của ông, di hài ông được chính quyền điạ phương giúp đỡ đưa về cố đô Huế, nơi quê cha đất tổ để đoàn tụ với tổ tiên”.
Hoàng tử Vĩnh Giu là công dân thời hiện đại, xa rồi nghi lễ cung đình. Nhưng di hài của ông về đến Huế thì “người trưởng tộc” muốn mai táng vị hoàng tử cuối cùng của vua Thành Thái theo nghi lễ cung đình vẫn có lính hầu, cung tần mỹ nữ, võng lộng hai hàng rất trang nghiêm.
Ông Bảo Thọ cười sảng khoái kể: “Chúng tôi chỉ nghĩ đưa cha tôi ra tới Huế là mãn nguyện rồi, còn nghi thức cung đình thì chịu thua. Nhưng rất may có một “cụ già” trưởng tộc đang phụ trách thờ phụng nhang khói tại các lăng tẩm sắp xếp mọi chuyện. Rồi ông đi tìm người thực hiện nghi lễ. Cả họ phải chạy đôn chạy đáo để kiếm đủ 12 người cho đủ nghi thức, lúc đó không biết kiếm đâu. Hỏi thăm xung quanh đó, may mà có người chỉ cho ở khu du lịch có một đội chuyên cho thuê để cho du khách chụp ảnh đủ cả quan chức, lính hầu, cung tần mỹ nữ… cho dù đó chỉ là những người làm dịch vụ đóng vai”.
“Trong đám tang cha tôi, dòng họ đến rất đông nhưng lúc ấy tôi không hề biết ai là ai. Bởi từ trước đến giờ chúng tôi chưa một lần liên lạc với nhau, chưa một lần đến Huế. Vì cuộc sống mưu sinh ai cũng lo cho cái ăn cái mặc của gia đình còn chưa xong nói gì… Chúng tôi đến cảm ơn người chủ lễ ở Huế là ông Nguyễn Phước Bảo Khôi, năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tôi gọi ông là chú. Ông vỗ vai chúng tôi cười, gọi anh thôi, tôi con nhà bác. Rồi anh Bảo Khôi giới thiệu cho chúng tôi biết từng người, vai vế làm sao. Có người già cóng kêu mình bằng ông. Nhờ vậy mà anh em, dòng tộc mới có dịp gặp nhau để nhìn họ hàng” - ông Bảo Thọ tâm đắc.
Sau đám tang của vị hoàng tử Vĩnh Giu, con cháu mới bắt đầu tìm đến nhau nhìn nhận lại dòng tộc. Những người trong số họ thành đạt cũng có, sống nghèo khó cũng nhiều. Nhưng ai cũng rưng rưng nước mắt, dòng máu quý tộc chảy trong người họ từ xưa đến nay luôn khiến mỗi người tự dặn lòng sống sao cho giữ trọn cốt cách, cho trọn đạo làm người.
Nhọc nhằn cơm áo vẫn giữ gìn cốt cách
Ông Nguyễn Phúc Bảo Thọ, con thứ ba của hoàng tử Vĩnh Giu, hiện sống trong căn nhà nhỏ hẹp có đến gần 20 nhân khẩu, chỉ trừ Bảo Bồi là có việc làm ổn định và ra ở riêng, còn lại đều hành nghề chạy xe ôm.
Ông Bảo Thọ tâm sự: “Nhà khó khăn lắm, các anh em không có việc làm ổn định, đều chọn nghề chạy xe ôm làm phương tiện kiếm sống. Ai cũng chỉ mơ ước có một chiếc xe chạy cho đàng hoàng vì gần như năm anh em đều phải đi thuê xe để về chạy, khổ lắm!”.
Trước giải phóng, ông cùng các anh em của mình làm công nhân ở xưởng đóng tàu 55 thuộc quận Bình Thủy. Sau giải phóng, cả mấy anh em của ông chuyển sang chạy xe đạp ôm ở các bến xe khách kiếm sống qua ngày. Đến năm 2000, do xã hội phát triển nên công việc chạy xe đạp ôm không tồn tại. Ông cùng với các anh em còn lại mướn mỗi người một chiếc xe Honda 15.000 đồng/ngày để tiếp tục hành nghề đưa, đón khách.
Nay dù bước qua cái tuổi lục tuần nhưng ông Bảo Thọ vẫn ngày đêm rong ruổi trên đường đưa đón khách. “Bây giờ người hành nghề xe ôm cũng đông, phải cố thức khuya dậy sớm thì mới mong có tiền mua gạo cho ngày hôm sau” - ông Bảo Thọ tâm sự. Công việc vất vả có khi đến tối mịt ông mới ì ạch với chiếc xe cũ về tới nhà. “Ngày may mắn trừ hết chi phí cũng kiếm được 5-6 chục ngàn, còn ngày mưa nắng thất thường như hiện nay có khi đủ tiền xăng xe” - ông nói.
Còn ông Bảo Hoàng, người con thứ sáu của hoàng tử Vĩnh Giu cho biết trước cũng làm công nhân ở một công ty sản xuất nhựa tại quận Bình Thủy, sau đó nghỉ việc cũng đi lang thang khắp Cần Thơ xin làm bảo vệ kiếm sống. Thời trai trẻ ông nảy sinh tình cảm với rất nhiều cô gái, do gia đình quá nghèo khó mà không lấy được vợ. Cho đến đầu năm 2008, khi đã bước sang cái tuổi ngũ tuần, ông mới tìm được người nâng khăn sửa túi. Nay đã lớn tuổi nên ông cũng chuyển chạy xe ôm kiếm cơm ngày hai buổi. Còn các ông Bảo Cao, Bảo Lộc, Bảo Tài sau khi lập gia đình về sống cùng gia đình nhà vợ cũng kiếm sống bằng nghề chạy xe ôm.
Dù vất vả đến đâu con cháu vua Thành Thái vẫn sống tốt, vẫn giữ phong cách quý tộc. Trong căn nhà cấp 4, trên tường treo rất nhiều hình ảnh về vua Thành Thái và hoàng tử Vĩnh Giu, trong đó có bức ảnh vua Thành Thái chụp cùng với gia đình sau khi bị lưu đày trở về Việt Nam, ở Vũng Tàu vào năm 1947. “Dù nghèo nhưng tui luôn khuyên bảo anh em, vợ con phải sống đàng hoàng không được làm tổn hại đến uy tín của gia tộc” - ông Bảo Thọ chia sẻ.
Theo HỒNG ĐANG
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.