Tôi được sinh ra trong ngôi nhà rường của Ngoại làm cho Ba Mẹ tôi lúc mới cưới. Nhà giáp hai làng, Đốc Sơ làng Nội, Đức Bưu làng Ngoại. Hai làng dọc theo bờ hói nước trong xanh từ sông Hương chảy vào. Bên những bến nước, bà con tắm giặt, họ thường nở nụ cười trìu mến đón tôi khi tôi chạy lăng xăng ra Ngoại, vô Nội hồi thơ ấu. Đến tuổi đi học, Ba tôi làm việc trên Huế thường đón đưa tôi đến trường Đồng Khánh với xe kéo của Ba. Ba làm tòa Khâm sứ Pháp, qua Kho Bạc, rồi bị đổi vô Đà Lạt đột ngột. Gia đình phải theo vô Đà Lạt, ba tôi làm ở Tòa Sứ. Vì phải xa cái nhà rường gắn bó của tôi, cũng có một góc nhỏ của tôi nên tôi nhớ và buồn lắm. Cách mạng tháng Tám thành công, Ba công khai hoạt động trong Ủy Ban Cách mạng lâm thời. Tây đến Đà Lạt họ mời Ba trở lại Tòa sứ làm việc song Ba từ chối, đưa cả nhà về Huế còn độc lập. Rồi Ba tham gia lãnh đạo Việt Minh tỉnh Thừa Thiên. Bác Hồ kêu gọi thực hiện 3 chống. Thanh niên rầm rộ lên tàu “Nam Tiến” chống giặc ngoại xâm. Bờ rừng, bờ ao, bờ hồ được dân tấp nập trồng khoai sắn chống giặc đói. Ba và các bác trí thức lập Nha Bình Dân học vụ là đầu não để chống giặc dốt. Huế những ngày độc lập rất hạnh phúc, vui tươi đoàn kết theo lời Bác dạy để thực hiện 3 chống. Từ đó gia đình tôi lại được trở về với ngôi nhà rường thân yêu tại quê hương. Một đêm cuối thu 1946, gió heo mây lạnh, mưa phùn rơi trên sân cải bông vàng. Cành tre la ngà trên bờ hói trước nhà xào xạc đu đưa trước gió, tàu cau rơi, mít rụng, ễnh ương hát liên hồi. Phía Nam Huế có tiếng súng đại bác xa xa. Bỗng tiếng gõ cửa dồn dập. Ba tôi về sau cả tuần lễ chúng tôi lo lắng chờ Ba. Tôi và Mẹ vụt dậy. Ba nói: “Tây sắp tràn đến Huế, mình xếp quần áo vô túi cho Ba. Cơ quan Ba phải dời đi. Bộ đội ta đang chống cự quyết liệt - một thời gian yên Ba sẽ về”. Tôi hốt hoảng: “Ba ơi, cho con theo ba được không? Tây đến con sợ quá!” Ba nói: “Ba đã bàn với Cậu, sẽ đưa cả nhà lên núi An Đô một thời gian, bộ đội đuổi hết giặc ta trở về, Ba cũng về”. Ba vội vàng đi các bác các chú đang chờ Ba. Hôm sau cả nhà cùng cậu mợ, các em đi sơ tán trên núi. Những ngày đó, suốt ngày đêm tiếng súng nổ rền. Tây đã chiếm Huế. Im tiếng súng, cậu mợ, Mẹ và chúng tôi trở về làng. Mới bước vô nhà, Mệ ngoại cho biết, cậu Bùi Văn Phò là cậu của tôi. Mẹ tôi có hai em trai - cậu Phò đi biệt tin theo cách mạng. Ngày độc lập cậu xuất hiện là sĩ quan Vệ Quốc Đoàn. Tây đến tỉnh nhà, đơn vị của cậu đánh Tây từ phía Nam Huế, lực lượng ta yếu nên hy sinh gần hết. Đơn vị cậu rút vào Nội thành Huế, vừa đánh vừa hô “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Tây bắt họ tại Đại Nội lúc hết viên đạn cuối cùng. Tây đem cả đội cảm tử do cậu Phò chỉ huy ra bãi chém An Hòa. Tây xẻo thịt tẩm xăng đốt cho các chiến sĩ chết dần. Vậy mà các chiến sỹ vẫn hô “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Dân 3 làng An Vân, An Hòa, Đốc Sơ Tây bắt đến chứng kiến, thấy cảnh đó nhân dân căm thù tột độ. Nghe Mệ và dân làng kể lại, tôi vô cùng thương tiếc người cậu ruột. Trong tôi bắt đầu nhen nhóm lòng căm thù từ đó, từ sự hy sinh của người cậu ruột và sự ra đi của cha. Chỉ 2 ngày sau khi đi sơ tán về, Tây lính đến nhà hỏi Ba tôi đi đâu. Mẹ tôi khai: “Nghe tin Tây đến, chồng tôi trốn Việt Minh để vô Đà Lạt ở với mụ hầu.” Tây vặn: “Vô Đà Lạt mà ở đâu làm gì?” Mẹ đáp: “Tôi không biết làm gì! Nhưng ở tại địa chỉ này (Mẹ đưa địa chỉ số 22 đường Đồng Khánh, Đà Lạt) là nhà gia đình tôi đã ở đó.” Sau hôm Tây đến, cả làng đồn Ba tôi làm Việt gian trong Đà Lạt, vì mẹ tôi đưa cho Tây cái hình Ba chụp với Tỉnh trưởng Đà Lạt. Thế là nhà tôi được Tây để yên, nhưng rất xấu hổ vì tiếng đồn của làng xóm. Những năm đó Huế đói, tôi phải lao động cật lực cùng với Mẹ để kiếm sống cho cả gia đình 6 người. Tôi không mơ ước gì được trở lại trường. Thấm thoát, Ba biệt tin tức đã 3 năm. Tôi trở thành một bé gái nhà quê có khi phải chân bùn tay lấm để phụ với Mẹ mà nuôi em. Vào một đêm mùa thu 1948, trong ngôi nhà rường rộng rãi thoáng mát, sao tôi không ngủ được, vậy nên nghe tiếng rì rầm, tiếng chèo ghe sột soạt, tiếng chân bước vào sân cải vàng. Rồi giọng loa vang lên: “Nhà bà Phán nghe đây! Nghe đây! Việt Minh đã về! Ông Phán làm Việt gian trong Đà Lạt! Hãy trở về với dân với nước kẻo thiệt mạng! Nghe đây! Việt Minh đã trở về”. Ôi tiếng loa vang vang giữa đêm khuya tĩnh mịch. Mẹ tôi sợ quá ngất xỉu té xuống chân giường. Tôi bàng hoàng run tay run chân rồi cố bò ra khe cửa. Nhìn ra sân, một người to lớn cầm cái loa cứ nói đi nói lại những lời “kỳ quặc” đó. Ba tôi theo cụ Hồ sao lại nói là Việt gian? Tôi sợ cãi lại thì mật thám sẽ nghe… Rồi có tiếng kêu nhỏ: “Mở cửa, mở cửa”. Tôi nói: “Cửa tôi không mở được, ông nói chi thì nói”. Người đàn ông cầm loa tiến đến cửa nhét vô một tờ giấy rồi nói rồi khẽ: “Thư của Ba cháu đây. Mẹ cháu và cháu cứ nói Ba làm cho Tây. Tối mai các chú sẽ đến”. Nói xong họ biến mất. Cầm cái thư trong tay, tôi lảo đảo ôm cái cột nhà, mất hồn mất vía! Tỉnh lại đọc thư tôi reo lên! Ôi Mẹ ơi đúng nét chữ của Ba! Mẹ ơi! Nước mắt tôi trào ra như xối. “Mình và các con, Ba vẫn khỏe mạnh làm việc với cách mạng ở đất cụ Hồ. Bộ đội ta đang mạnh, thắng lớn nhiều trận ở biên giới. Chờ Ba, độc lập Ba về. Quỳ, con đã 13 tuổi lớn rồi, tập lao động giúp Mẹ nuôi em. Người đem thư này là người tốt, con cố gắng giúp họ làm nhiệm vụ tức là con đã theo cùng một chí hướng với Ba”. Tối hôm sau, Việt Minh đến nhà tôi 6 người toàn mặc áo quần đen. Mẹ tôi vui sướng được gặp họ. Mẹ đồng ý ngay, cho họ làm trụ sở liên lạc, giao ngay nhà trên đêm đó cho họ. Mẹ và chúng tôi xuống ở dưới nhà bếp. Sáng dậy tôi ra sau vườn thấy một đống đất mới, tôi tưởng họ chôn tài liệu, (lúc đó tôi chưa biết họ đã đào hầm bí mật dưới nền nhà rường) nên lấy lá tre khô phủ lên đống đất. Anh đội trưởng hỏi: “Ba em nói em sẽ giúp các anh, mà phải đi ngang qua đồn bốt em có sợ không?” - “Dạ có”. -“Sợ thì giúp sao được?” - “Anh bày vẽ cho em, em sẽ cố gắng cho Ba vui lòng”. Kể từ đó họ sai đi đâu tôi cũng đi và cố gắng không sợ. Mấy năm sau, khi phải khai lý lịch vô Đảng, tôi hỏi Đội trưởng: -“Lâu nay em theo kháng chiến mà em làm việc chi, khai thế nào?”. Đội trưởng nói: “Em là cộng tác viên của Đội Công an tình báo Lê Cảnh Tân hoạt động tại Huế”. Tôi lạnh xương sống với chữ tình báo. Té ra họ là công an tình báo! Và đã 3 năm rồi tôi tham gia hoạt động tình báo! Lúc đó tôi mới 16 tuổi. Mẹ tôi và Bà nội lo lắng sợ Tây bắt, nên nói tôi đã 18 tuổi để gả chồng lên Huế ở. Vì vậy tôi tưởng Mệ nói thật nên tôi khai lý lịch 18 tuổi để kết nạp Đảng. Chỉ 2 đồng chí cấp ủy tổ chức kết nạp Đảng cho tôi trong một cái chòi không có chủ ở vùng bị chiếm. Đầu năm 1950 bị lộ do một đồng chí bị Tây bắt khai báo, tôi phải trốn theo văn phòng ủy ban xã sơ tán gần chợ Thông, vùng Kim Long- Huế. Ba tôi đang công tác ở Ủy ban Liên khu Bốn đóng ở Nghệ An, tình nguyện theo quyết định của Khu ủy tăng cường cho tỉnh nhà đang lúc quyết liệt với kẻ thù. Ba băng rừng Trường Sơn về nhận nhiệm vụ Ủy viên Thường vụ Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Thừa Thiên đóng ở chiến khu. Ba đón tôi lên chiến khu Dương Hòa với Ba. Hai tháng sau, có đoàn ra Liên khu Bốn, Ba gửi tôi đi theo. Tôi băng rừng Trường Sơn ra Nghệ An để trở lại trường học. Từ đó tôi xa quê, xa ngôi nhà rường đầy kỷ niệm gắn bó, trong đó có một giai đoạn đáng tự hào nhất trong đời, là thời gian tôi tham gia đội công an tình báo Huế. Ba đã dẫn dắt để tôi bước vào kháng chiến khi còn rất trẻ. Tôi học ở Nghệ An phải xa cha mẹ rất thiếu thốn. Rồi chỉ một năm sau. Một tờ điện tín mang tin sấm sét dội đến, báo tin Ba tôi đã hy sinh sau những trận càn quét bao vây của địch lên chiến khu Dương Hòa. Tôi và em trai đang ở Nghệ An. Mẹ và 3 em nhỏ ở Huế làm sao tới được chiến khu Dương Hòa tiễn ba tôi về chín suối! Lúc đó tôi đau khổ lắm, ốm một trận rụng hết tóc và bị mất trí nhớ hai tháng. Bạn đồng hương Huế cùng học đã giúp tôi qua khỏi cơn hoạn nạn đó. Tôi học văn hóa dở dang, phải thi vô học Dược để có nghề. Em trai tôi vào thanh niên xung phong rồi trở thành chiến sĩ Điện Biên Phủ. Hai chị em mỗi người một phía ở miền Bắc, dù gian khổ nhưng hai chị em tôi luôn phấn đấu hết mình để khỏi phụ lòng cha mẹ. Hòa bình nửa đất nước, không về quê được vì Huế bên kia vĩ tuyến 17. Đến ngày thống nhất, Ba tôi và Cậu tôi được trao bằng “Tổ Quốc Ghi Công”. Năm 1992, cả nước đi “tìm nguồn”, gia đình mới tìm được mộ Ba trên chiến khu Dương Hòa. Hai mươi lăm năm xa quê, tôi trở về gặp Mẹ ở nhà em gái tại Đà Nẵng. Mẹ bệnh nặng, tôi đưa Mẹ vô TP HCM ở với vợ chồng tôi trị bệnh. Mẹ kể nhiều chuyện của Mẹ: - “Con đi rồi thì lính vô tra hỏi, Mẹ nói con đi theo chồng rồi. Nó bảo con là Việt Minh nhỏ mà nguy hiểm. Nó bắt Mẹ lên đồn khai báo Ba con ở mô, con đi mô, nó dọa dẫm Mẹ thật khổ nhưng Mẹ chỉ nói không biết. Rồi Mẹ ở tù thời Diệm gần 1 năm, cũng khai không biết, nó thả về, chính quyền miệt thị bắt lên khai báo hoài. Bà con thì xa lánh sợ liên lụy. Cực chẳng đã, Mẹ đành bán bớt đất và ngôi nhà rường, có tiền 3 đứa em con vô Đà Lạt. Tôi hốt hoảng: - “Mẹ ơi! Cái nhà đó Ngoại cho, bao kỷ niệm, Mẹ bán rồi à?” Tôi chảy nước mắt vì tiếc nuối cái nhà rường bề thế, đẹp đẽ có một góc cho tôi và kỷ niệm 3 năm tôi hoạt động cách mạng. Cái nhà đó cũng là nơi cán bộ cùng với Ba thường nhóm họp với hình thức bên ngoài đàn ca, tổ tôm, tài bàn, nhưng bên trong là bàn bạc công việc của Cách mạng tiền khởi nghĩa. Mất cái nhà đó rồi ư! Tôi hỏi Mẹ: -“Ở dưới nhà có cái hầm bí mật Mẹ biết không?”. Mẹ nói: -“Lúc con trốn đi thì đội trưởng bị bắt, nên họ về lấp cái hầm sợ nhà mình liên lụy. À con ơi, hai bụi tre la ngà trước nhà, lính cũng về đốn sạch vì nó biết Việt Minh trốn ở đó.” Tôi ngẩn ngơ, hiện lên những ký ức xưa, đã 25 năm trước. Bụi tre la ngà và hầm bí mật là nơi trú ẩn của Đội Lê Cảnh Tân lúc giặc đi càn. Mỗi lần biết Tây đến, họ lội xuống hói vài bước, chui vô bụi tre la ngà có thể ngồi 3 đến 5 người, hoặc chạy xuống hầm bí mật dưới nền nhà rường này, cả hai nơi đều an toàn. Tôi thường đem cơm nước tiếp tế cho họ. Cả hai dấu vết đó nay không còn nữa!
Mẹ lành bệnh, tôi đưa Mẹ về thăm quê sau 20 năm Mẹ xa quê. Mẹ cảm động lắm. Mẹ dự chạp họ bên chồng, thăm nhà thờ họ Bùi của Mẹ và nhà thờ ông Ngoại. Tôi và Mẹ đến nhà vườn mình xưa, trải chiếu nằm trên cái nền nhà của Mẹ còn lại. Trời có trăng sao rọi xuống nền nhà. Vườn Mẹ đã bán đất hai bên, nên vườn xơ xác không còn mít, chuối, cau um tùm như xưa. Hai lăm năm trở về quê nhà, lòng đau thắt ruột gan. Nơi đây chứa đựng một quãng đời đau khổ của Mẹ, khi Mẹ được báo tin Ba hy sinh, rồi Mẹ bị tù, 2 con lớn và một con nuôi ngoài Bắc, 3 con nhỏ thơ dại. Mẹ nói trong thổn thức: -“Mẹ bán bớt đất nhưng chừa lại khoảnh vườn xưa. Nhà rường Mẹ bán nhưng chừa lại cái nền. Đây là tình thương của Ngoại cho Mẹ, dù nghèo mấy cũng không bán, vì Mẹ tin tưởng các con ngoài Bắc sẽ về, các con trong nầy đều có học hành có nghề nghiệp, chắc các con sẽ làm lại nhà để Mẹ không bị mất tình thương của Ngoại”. Tôi đã hứa với Mẹ đêm ấy, tôi sẽ làm lại cái nhà của Mẹ. Từ đó trong lòng tôi canh cánh điều đã hứa với Mẹ. Nhưng gia đình cũng phải phục hồi dần, vì đã bị chia ra sống hai chế độ, mà thống nhất đất nước thì gia đình cũng nảy sinh ra bao việc. Lúc đó tôi và chồng tôi đều gánh nhiệm vụ nặng nề. Chồng tôi là bác sĩ làm giám đốc một bệnh viện lớn. Tôi là dược sĩ làm giám đốc một xí nghiệp Dược Trung ương. Tôi nhớ lời Mẹ nhưng hoàn cảnh lúc đó của tôi không cho phép. Mãi cho đến năm 2009 tôi mới chủ trì bàn bạc với gia đình với các em để làm nhà cho Mẹ, toàn thể gia đình nhất trí lập kế hoạch tiến hành. Nhớ ngày Mẹ sắp ra đi ở tuổi 95, vào năm 2006. Đêm ấy Mẹ kể chuyện ngày cưới của Mẹ, Ngoại làm nhà cho Mẹ, và Mẹ nói: -“Con ơi! Ngôi nhà Ngoại cho là nơi Mẹ chuyển dạ để sanh con vào 30 tháng 12 năm Quý Dậu mà con lọt ra 2 giờ sáng năm Tuất nên ông Ngoại đặt tên con là Mực cùng tên với con chó Mực”. Đó là lời nói cuối cùng khi Mẹ sắp đi xa. Mẹ nhắc lại chuyện ngôi nhà của Ngoại cho một cách rất tình cảm. Mẹ nói nơi đó tôi được sinh ra, như là Mẹ nhắc nhở nhiệm vụ của tôi nên tôi càng thấm thía. Tôi là chị cả nên đã đứng ra chủ trì cùng con cháu của hai gia đình liệt sĩ để tiến hành làm nhà trên cái nền nhà Mẹ để lại. Bắt đầu khởi công vào mồng 10 Tết Canh Dần đến ngày 30-4-2010 nhà đã hoàn công. Ngày 21-5-2010, đúng ngày 8-4 Canh Dần kỵ Mẹ tôi lần thứ 5, chúng tôi tổ chức lễ khánh thành Nhà tưởng niệm 2 vị liệt sĩ là Ba tôi và cậu ruột tôi Bùi Văn Phò. Chính giữa nhà có bàn thờ 2 tầng. Tầng trên thờ liệt sĩ Phan Tấn Huyên, liệt sĩ Bùi Văn Phò. Tầng dưới thờ Mẹ tôi - quả phụ của liệt sĩ. Đến dự lễ khánh thành “Nhà tưởng niệm liệt sỹ” và kỵ Mẹ tôi có đông đủ họ hàng bà con. Đặc biệt có lẵng hoa của Tỉnh ủy, HĐND và Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thừa Thiên Huế; lẵng hoa của Thành ủy, HĐND, Mặt trận Tổ quốc thành phố Huế chúc mừng; tranh chúc mừng của các phường Hương Sơ, phường An Hòa, Trường tiểu học An Hòa và Hội đồng Phan tộc tỉnh. Hai gia đình cùng họ hàng thắp nhang cúng Cha Mẹ và Cậu tôi. Chúng tôi vui mừng nhà làm xong trong dịp kỷ niệm 120 ngày sinh của Bác và kỷ niệm 35 năm thống nhất đất nước. Ngôi nhà thể hiện đang xây đắp sự gắn bó từ xưa của hai bên Nội và Ngoại của chúng tôi. Ngôi nhà là nơi Cha Mẹ và Cậu sẽ về quây quần với con cháu, mà đã 50 năm qua, nay mới làm được. Những ngày về quê tôi lại được sống trong ngôi nhà mới mà nền cũ của Mẹ. Tôi cũng có một góc như Mẹ dành cho tôi ở đây từ thuở ấu thơ. Đêm đêm của những ngày trở lại ngôi nhà của Mẹ, tôi thắp nhang tôi thì thầm với Cha Mẹ và Cậu: - “Con đã về nhà của Ngoại rồi Cha Mẹ ơi! Cậu ơi!”. Ngày 21 tháng 5 năm 2010 P.T.T.Q (257/7-10) |
Tải mã QRCode
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGGhi chép 1.Tôi tự đặt ra một “hạng mục” đinh cho chuyến đi thực tế sáng tác ở A Lưới lần này, và hạ quyết tâm thực hiện bằng được, đó là: phải lên được Đồi Thịt Băm!
LGT: Liên Thục Hương là một nhà văn Trung Quốc đương đại, tự ví mình là con mèo đêm co mình nằm trên nóc nhà, nhìn cuộc sống thành phố tấp nập đi qua đáy mắt. Liên Thục Hương còn ký bút danh Liên Gián, có số lượng bản thảo lên tới hơn hai triệu chữ. Năm 2003, “Bài bút ký đầy nước mắt” đã được post lên mạng và năm 2004 nó đã được dựng thành phim và bộ phim ngắn này làm tiền đề cho tác phẩm điện ảnh đoạt giải thưởng của Trung Quốc. Sông Hương xin giới thiệu câu chuyện này qua bản dịch của nữ nhà văn Trang Hạ.
NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.
BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.
PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.
XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.
NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.
TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.
NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!
Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.
NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com
VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.
TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.
TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.
TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…
MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.
NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.
HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.
NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.