Ngôi nhà của mẹ

14:49 26/07/2010
PHAN THỊ THU QUỲ(Kỷ niêm ngày thương binh - liệt sỹ 27.7)
Tôi được sinh ra trong ngôi nhà rường của Ngoại làm cho Ba Mẹ tôi lúc mới cưới. Nhà giáp hai làng, Đốc Sơ làng Nội, Đức Bưu làng Ngoại. Hai làng dọc theo bờ hói nước trong xanh từ sông Hương chảy vào. Bên những bến nước, bà con tắm giặt, họ thường nở nụ cười trìu mến đón tôi khi tôi chạy lăng xăng ra Ngoại, vô Nội hồi thơ ấu. Đến tuổi đi học, Ba tôi làm việc trên Huế thường đón đưa tôi đến trường Đồng Khánh với xe kéo của Ba. Ba làm tòa Khâm sứ Pháp, qua Kho Bạc, rồi bị đổi vô Đà Lạt đột ngột. Gia đình phải theo vô Đà Lạt, ba tôi làm ở Tòa Sứ. Vì phải xa cái nhà rường gắn bó của tôi, cũng có một góc nhỏ của tôi nên tôi nhớ và buồn lắm. Cách mạng tháng Tám thành công, Ba công khai hoạt động trong Ủy Ban Cách mạng lâm thời. Tây đến Đà Lạt họ mời Ba trở lại Tòa sứ làm việc song Ba từ chối, đưa cả nhà về Huế còn độc lập. Rồi Ba tham gia lãnh đạo Việt Minh tỉnh Thừa Thiên. Bác Hồ kêu gọi thực hiện 3 chống. Thanh niên rầm rộ lên tàu “Nam Tiến” chống giặc ngoại xâm. Bờ rừng, bờ ao, bờ hồ được dân tấp nập trồng khoai sắn chống giặc đói. Ba và các bác trí thức lập Nha Bình Dân học vụ là đầu não để chống giặc dốt. Huế những ngày độc lập rất hạnh phúc, vui tươi đoàn kết theo lời Bác dạy để thực hiện 3 chống. Từ đó gia đình tôi lại được trở về với ngôi nhà rường thân yêu tại quê hương.

Một đêm cuối thu 1946, gió heo mây lạnh, mưa phùn rơi trên sân cải bông vàng. Cành tre la ngà trên bờ hói trước nhà xào xạc đu đưa trước gió, tàu cau rơi, mít rụng, ễnh ương hát liên hồi. Phía Nam Huế có tiếng súng đại bác xa xa. Bỗng tiếng gõ cửa dồn dập. Ba tôi về sau cả tuần lễ chúng tôi lo lắng chờ Ba. Tôi và Mẹ vụt dậy.

Ba nói: “Tây sắp tràn đến Huế, mình xếp quần áo vô túi cho Ba. Cơ quan Ba phải dời đi. Bộ đội ta đang chống cự quyết liệt - một thời gian yên Ba sẽ về”.

Tôi hốt hoảng: “Ba ơi, cho con theo ba được không? Tây đến con sợ quá!”

Ba nói: “Ba đã bàn với Cậu, sẽ đưa cả nhà lên núi An Đô một thời gian, bộ đội đuổi hết giặc ta trở về, Ba cũng về”. Ba vội vàng đi các bác các chú đang chờ Ba.

Hôm sau cả nhà cùng cậu mợ, các em đi sơ tán trên núi. Những ngày đó, suốt ngày đêm tiếng súng nổ rền. Tây đã chiếm Huế. Im tiếng súng, cậu mợ, Mẹ và chúng tôi trở về làng. Mới bước vô nhà, Mệ ngoại cho biết, cậu Bùi Văn Phò là cậu của tôi. Mẹ tôi có hai em trai - cậu Phò đi biệt tin theo cách mạng. Ngày độc lập cậu xuất hiện là sĩ quan Vệ Quốc Đoàn. Tây đến tỉnh nhà, đơn vị của cậu đánh Tây từ phía Nam Huế, lực lượng ta yếu nên hy sinh gần hết. Đơn vị cậu rút vào Nội thành Huế, vừa đánh vừa hô “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Tây bắt họ tại Đại Nội lúc hết viên đạn cuối cùng. Tây đem cả đội cảm tử do cậu Phò chỉ huy ra bãi chém An Hòa. Tây xẻo thịt tẩm xăng đốt cho các chiến sĩ chết dần. Vậy mà các chiến sỹ vẫn hô “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Dân 3 làng An Vân, An Hòa, Đốc Sơ Tây bắt đến chứng kiến, thấy cảnh đó nhân dân căm thù tột độ. Nghe Mệ và dân làng kể lại, tôi vô cùng thương tiếc người cậu ruột. Trong tôi bắt đầu nhen nhóm lòng căm thù từ đó, từ sự hy sinh của người cậu ruột và sự ra đi của cha. Chỉ 2 ngày sau khi đi sơ tán về, Tây lính đến nhà hỏi Ba tôi đi đâu.

Mẹ tôi khai: “Nghe tin Tây đến, chồng tôi trốn Việt Minh để vô Đà Lạt ở với mụ hầu.”

Tây vặn: “Vô Đà Lạt mà ở đâu làm gì?”

Mẹ đáp: “Tôi không biết làm gì! Nhưng ở tại địa chỉ này (Mẹ đưa địa chỉ số 22 đường Đồng Khánh, Đà Lạt) là nhà gia đình tôi đã ở đó.”

Sau hôm Tây đến, cả làng đồn Ba tôi làm Việt gian trong Đà Lạt, vì mẹ tôi đưa cho Tây cái hình Ba chụp với Tỉnh trưởng Đà Lạt. Thế là nhà tôi được Tây để yên, nhưng rất xấu hổ vì tiếng đồn của làng xóm.

Những năm đó Huế đói, tôi phải lao động cật lực cùng với Mẹ để kiếm sống cho cả gia đình 6 người. Tôi không mơ ước gì được trở lại trường. Thấm thoát, Ba biệt tin tức đã 3 năm. Tôi trở thành một bé gái nhà quê có khi phải chân bùn tay lấm để phụ với Mẹ mà nuôi em.

Vào một đêm mùa thu 1948, trong ngôi nhà rường rộng rãi thoáng mát, sao tôi không ngủ được, vậy nên nghe tiếng rì rầm, tiếng chèo ghe sột soạt, tiếng chân bước vào sân cải vàng. Rồi giọng loa vang lên: “Nhà bà Phán nghe đây! Nghe đây! Việt Minh đã về! Ông Phán làm Việt gian trong Đà Lạt! Hãy trở về với dân với nước kẻo thiệt mạng! Nghe đây! Việt Minh đã trở về”.

Ôi tiếng loa vang vang giữa đêm khuya tĩnh mịch. Mẹ tôi sợ quá ngất xỉu té xuống chân giường. Tôi bàng hoàng run tay run chân rồi cố bò ra khe cửa. Nhìn ra sân, một người to lớn cầm cái loa cứ nói đi nói lại những lời “kỳ quặc” đó. Ba tôi theo cụ Hồ sao lại nói là Việt gian? Tôi sợ cãi lại thì mật thám sẽ nghe… Rồi có tiếng kêu nhỏ: “Mở cửa, mở cửa”. Tôi nói: “Cửa tôi không mở được, ông nói chi thì nói”. Người đàn ông cầm loa tiến đến cửa nhét vô một tờ giấy rồi nói rồi khẽ: “Thư của Ba cháu đây. Mẹ cháu và cháu cứ nói Ba làm cho Tây. Tối mai các chú sẽ đến”. Nói xong họ biến mất.

Cầm cái thư trong tay, tôi lảo đảo ôm cái cột nhà, mất hồn mất vía! Tỉnh lại đọc thư tôi reo lên! Ôi Mẹ ơi đúng nét chữ của Ba! Mẹ ơi! Nước mắt tôi trào ra như xối. “Mình và các con, Ba vẫn khỏe mạnh làm việc với cách mạng ở đất cụ Hồ. Bộ đội ta đang mạnh, thắng lớn nhiều trận ở biên giới. Chờ Ba, độc lập Ba về. Quỳ, con đã 13 tuổi lớn rồi, tập lao động giúp Mẹ nuôi em. Người đem thư này là người tốt, con cố gắng giúp họ làm nhiệm vụ tức là con đã theo cùng một chí hướng với Ba”.

Tối hôm sau, Việt Minh đến nhà tôi 6 người toàn mặc áo quần đen. Mẹ tôi vui sướng được gặp họ. Mẹ đồng ý ngay, cho họ làm trụ sở liên lạc, giao ngay nhà trên đêm đó cho họ. Mẹ và chúng tôi xuống ở dưới nhà bếp. Sáng dậy tôi ra sau vườn thấy một đống đất mới, tôi tưởng họ chôn tài liệu, (lúc đó tôi chưa biết họ đã đào hầm bí mật dưới nền nhà rường) nên lấy lá tre khô phủ lên đống đất.

Anh đội trưởng hỏi: “Ba em nói em sẽ giúp các anh, mà phải đi ngang qua đồn bốt em có sợ không?” - “Dạ có”. -“Sợ thì giúp sao được?” - “Anh bày vẽ cho em, em sẽ cố gắng cho Ba vui lòng”. Kể từ đó họ sai đi đâu tôi cũng đi và cố gắng không sợ. Mấy năm sau, khi phải khai lý lịch vô Đảng, tôi hỏi Đội trưởng: -“Lâu nay em theo kháng chiến mà em làm việc chi, khai thế nào?”. Đội trưởng nói: “Em là cộng tác viên của Đội Công an tình báo Lê Cảnh Tân hoạt động tại Huế”. Tôi lạnh xương sống với chữ tình báo. Té ra họ là công an tình báo! Và đã 3 năm rồi tôi tham gia hoạt động tình báo!

Lúc đó tôi mới 16 tuổi. Mẹ tôi và Bà nội lo lắng sợ Tây bắt, nên nói tôi đã 18 tuổi để gả chồng lên Huế ở. Vì vậy tôi tưởng Mệ nói thật nên tôi khai lý lịch 18 tuổi để kết nạp Đảng. Chỉ 2 đồng chí cấp ủy tổ chức kết nạp Đảng cho tôi trong một cái chòi không có chủ ở vùng bị chiếm. Đầu năm 1950 bị lộ do một đồng chí bị Tây bắt khai báo, tôi phải trốn theo văn phòng ủy ban xã sơ tán gần chợ Thông, vùng Kim Long- Huế. Ba tôi đang công tác ở Ủy ban Liên khu Bốn đóng ở Nghệ An, tình nguyện theo quyết định của Khu ủy tăng cường cho tỉnh nhà đang lúc quyết liệt với kẻ thù. Ba băng rừng Trường Sơn về nhận nhiệm vụ Ủy viên Thường vụ Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Thừa Thiên đóng ở chiến khu.

Ba đón tôi lên chiến khu Dương Hòa với Ba. Hai tháng sau, có đoàn ra Liên khu Bốn, Ba gửi tôi đi theo. Tôi băng rừng Trường Sơn ra Nghệ An để trở lại trường học.

Từ đó tôi xa quê, xa ngôi nhà rường đầy kỷ niệm gắn bó, trong đó có một giai đoạn đáng tự hào nhất trong đời, là thời gian tôi tham gia đội công an tình báo Huế. Ba đã dẫn dắt để tôi bước vào kháng chiến khi còn rất trẻ. Tôi học ở Nghệ An phải xa cha mẹ rất thiếu thốn. Rồi chỉ một năm sau. Một tờ điện tín mang tin sấm sét dội đến, báo tin Ba tôi đã hy sinh sau những trận càn quét bao vây của địch lên chiến khu Dương Hòa. Tôi và em trai đang ở Nghệ An. Mẹ và 3 em nhỏ ở Huế làm sao tới được chiến khu Dương Hòa tiễn ba tôi về chín suối! Lúc đó tôi đau khổ lắm, ốm một trận rụng hết tóc và bị mất trí nhớ hai tháng. Bạn đồng hương Huế cùng học đã giúp tôi qua khỏi cơn hoạn nạn đó.

Tôi học văn hóa dở dang, phải thi vô học Dược để có nghề. Em trai tôi vào thanh niên xung phong rồi trở thành chiến sĩ Điện Biên Phủ. Hai chị em mỗi người một phía ở miền Bắc, dù gian khổ nhưng hai chị em tôi luôn phấn đấu hết mình để khỏi phụ lòng cha mẹ. Hòa bình nửa đất nước, không về quê được vì Huế bên kia vĩ tuyến 17. Đến ngày thống nhất, Ba tôi và Cậu tôi được trao bằng “Tổ Quốc Ghi Công”.

Năm 1992, cả nước đi “tìm nguồn”, gia đình mới tìm được mộ Ba trên chiến khu Dương Hòa. Hai mươi lăm năm xa quê, tôi trở về gặp Mẹ ở nhà em gái tại Đà Nẵng. Mẹ bệnh nặng, tôi đưa Mẹ vô TP HCM ở với vợ chồng tôi trị bệnh. Mẹ kể nhiều chuyện của Mẹ: - “Con đi rồi thì lính vô tra hỏi, Mẹ nói con đi theo chồng rồi. Nó bảo con là Việt Minh nhỏ mà nguy hiểm. Nó bắt Mẹ lên đồn khai báo Ba con ở mô, con đi mô, nó dọa dẫm Mẹ thật khổ nhưng Mẹ chỉ nói không biết. Rồi Mẹ ở tù thời Diệm gần 1 năm, cũng khai không biết, nó thả về, chính quyền miệt thị bắt lên khai báo hoài. Bà con thì xa lánh sợ liên lụy. Cực chẳng đã, Mẹ đành bán bớt đất và ngôi nhà rường, có tiền 3 đứa em con vô Đà Lạt. Tôi hốt hoảng: - “Mẹ ơi! Cái nhà đó Ngoại cho, bao kỷ niệm, Mẹ bán rồi à?”

Tôi chảy nước mắt vì tiếc nuối cái nhà rường bề thế, đẹp đẽ có một góc cho tôi và kỷ niệm 3 năm tôi hoạt động cách mạng. Cái nhà đó cũng là nơi cán bộ cùng với Ba thường nhóm họp với hình thức bên ngoài đàn ca, tổ tôm, tài bàn, nhưng bên trong là bàn bạc công việc của Cách mạng tiền khởi nghĩa. Mất cái nhà đó rồi ư! Tôi hỏi Mẹ: -“Ở dưới nhà có cái hầm bí mật Mẹ biết không?”. Mẹ nói: -“Lúc con trốn đi thì đội trưởng bị bắt, nên họ về lấp cái hầm sợ nhà mình liên lụy. À con ơi, hai bụi tre la ngà trước nhà, lính cũng về đốn sạch vì nó biết Việt Minh trốn ở đó.”

Tôi ngẩn ngơ, hiện lên những ký ức xưa, đã 25 năm trước. Bụi tre la ngà và hầm bí mật là nơi trú ẩn của Đội Lê Cảnh Tân lúc giặc đi càn. Mỗi lần biết Tây đến, họ lội xuống hói vài bước, chui vô bụi tre la ngà có thể ngồi 3 đến 5 người, hoặc chạy xuống hầm bí mật dưới nền nhà rường này, cả hai nơi đều an toàn. Tôi thường đem cơm nước tiếp tế cho họ. Cả hai dấu vết đó nay không còn nữa!

Tác giả (trái) bên cạnh bàn thờ hai liệt sĩ Phan Văn Huyên - Bùi Văn Phò


Mẹ lành bệnh, tôi đưa Mẹ về thăm quê sau 20 năm Mẹ xa quê. Mẹ cảm động lắm. Mẹ dự chạp họ bên chồng, thăm nhà thờ họ Bùi của Mẹ và nhà thờ ông Ngoại. Tôi và Mẹ đến nhà vườn mình xưa, trải chiếu nằm trên cái nền nhà của Mẹ còn lại. Trời có trăng sao rọi xuống nền nhà. Vườn Mẹ đã bán đất hai bên, nên vườn xơ xác không còn mít, chuối, cau um tùm như xưa. Hai lăm năm trở về quê nhà, lòng đau thắt ruột gan. Nơi đây chứa đựng một quãng đời đau khổ của Mẹ, khi Mẹ được báo tin Ba hy sinh, rồi Mẹ bị tù, 2 con lớn và một con nuôi ngoài Bắc, 3 con nhỏ thơ dại. Mẹ nói trong thổn thức: -“Mẹ bán bớt đất nhưng chừa lại khoảnh vườn xưa. Nhà rường Mẹ bán nhưng chừa lại cái nền. Đây là tình thương của Ngoại cho Mẹ, dù nghèo mấy cũng không bán, vì Mẹ tin tưởng các con ngoài Bắc sẽ về, các con trong nầy đều có học hành có nghề nghiệp, chắc các con sẽ làm lại nhà để Mẹ không bị mất tình thương của Ngoại”.

Tôi đã hứa với Mẹ đêm ấy, tôi sẽ làm lại cái nhà của Mẹ. Từ đó trong lòng tôi canh cánh điều đã hứa với Mẹ. Nhưng gia đình cũng phải phục hồi dần, vì đã bị chia ra sống hai chế độ, mà thống nhất đất nước thì gia đình cũng nảy sinh ra bao việc. Lúc đó tôi và chồng tôi đều gánh nhiệm vụ nặng nề. Chồng tôi là bác sĩ làm giám đốc một bệnh viện lớn. Tôi là dược sĩ làm giám đốc một xí nghiệp Dược Trung ương. Tôi nhớ lời Mẹ nhưng hoàn cảnh lúc đó của tôi không cho phép. Mãi cho đến năm 2009 tôi mới chủ trì bàn bạc với gia đình với các em để làm nhà cho Mẹ, toàn thể gia đình nhất trí lập kế hoạch tiến hành.

Nhớ ngày Mẹ sắp ra đi ở tuổi 95, vào năm 2006. Đêm ấy Mẹ kể chuyện ngày cưới của Mẹ, Ngoại làm nhà cho Mẹ, và Mẹ nói: -“Con ơi! Ngôi nhà Ngoại cho là nơi Mẹ chuyển dạ để sanh con vào 30 tháng 12 năm Quý Dậu mà con lọt ra 2 giờ sáng năm Tuất nên ông Ngoại đặt tên con là Mực cùng tên với con chó Mực”. Đó là lời nói cuối cùng khi Mẹ sắp đi xa. Mẹ nhắc lại chuyện ngôi nhà của Ngoại cho một cách rất tình cảm. Mẹ nói nơi đó tôi được sinh ra, như là Mẹ nhắc nhở nhiệm vụ của tôi nên tôi càng thấm thía. Tôi là chị cả nên đã đứng ra chủ trì cùng con cháu của hai gia đình liệt sĩ để tiến hành làm nhà trên cái nền nhà Mẹ để lại. Bắt đầu khởi công vào mồng 10 Tết Canh Dần đến ngày 30-4-2010 nhà đã hoàn công. Ngày 21-5-2010, đúng ngày 8-4 Canh Dần kỵ Mẹ tôi lần thứ 5, chúng tôi tổ chức lễ khánh thành Nhà tưởng niệm 2 vị liệt sĩ là Ba tôi và cậu ruột tôi Bùi Văn Phò. Chính giữa nhà có bàn thờ 2 tầng. Tầng trên thờ liệt sĩ Phan Tấn Huyên, liệt sĩ Bùi Văn Phò. Tầng dưới thờ Mẹ tôi - quả phụ của liệt sĩ.

Đến dự lễ khánh thành “Nhà tưởng niệm liệt sỹ” và kỵ Mẹ tôi có đông đủ họ hàng bà con. Đặc biệt có lẵng hoa của Tỉnh ủy, HĐND và Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thừa Thiên Huế; lẵng hoa của Thành ủy, HĐND, Mặt trận Tổ quốc thành phố Huế chúc mừng; tranh chúc mừng của các phường Hương Sơ, phường An Hòa, Trường tiểu học An Hòa và Hội đồng Phan tộc tỉnh. Hai gia đình cùng họ hàng thắp nhang cúng Cha Mẹ và Cậu tôi. Chúng tôi vui mừng nhà làm xong trong dịp kỷ niệm 120 ngày sinh của Bác và kỷ niệm 35 năm thống nhất đất nước. Ngôi nhà thể hiện đang xây đắp sự gắn bó từ xưa của hai bên Nội và Ngoại của chúng tôi. Ngôi nhà là nơi Cha Mẹ và Cậu sẽ về quây quần với con cháu, mà đã 50 năm qua, nay mới làm được.

Những ngày về quê tôi lại được sống trong ngôi nhà mới mà nền cũ của Mẹ. Tôi cũng có một góc như Mẹ dành cho tôi ở đây từ thuở ấu thơ. Đêm đêm của những ngày trở lại ngôi nhà của Mẹ, tôi thắp nhang tôi thì thầm với Cha Mẹ và Cậu: - “Con đã về nhà của Ngoại rồi Cha Mẹ ơi! Cậu ơi!”.

Ngày 21 tháng 5 năm 2010
P.T.T.Q
(257/7-10)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHAN TÂM        (Kỷ niệm 240 năm sinh thi hào Nguyễn Du 1765-2005)Tháng Hai 1994:Từ Vinh qua cầu Bến Thủy, rẽ trái độ mười cây nữa, đến xã Xuân Tiên (Tiên Điền), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.Khu đất cao ráo ở ngay đầu xã, bên bờ sông Lam, cạnh bến Giang Đình, là khu nhà cũ, khu lưu niệm Nguyễn Du.

  • LTS: Phát hành tới hàng trăm ngàn bản, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là cuốn sách duy nhất (có thể nói như vậy) gây được xúc động cho các thế hệ độc giả trong và sau chiến tranh, cho cả hai phía xâm lược và chống xâm lược nhờ tính chân thực của nó.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số trang trong cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và hai bài viết liên quan đến cuốn sách

  • NGUYỄN QUANG HÀ                        Truyện kýHoà thượng Thích Đôn Hậu gọi đại đức Thích Trí Diệm lên phòng riêng:- Ta đang mắc công chuyện không thể xa Huế được trong thời gian này, nên ta cử thầy vào chùa Hải Đức, Nha Trang tham gia cuộc thuyết pháp quan trọng tại đó. Thầy đi được chớ?Đại đức Thích Trí Diệm cúi đầu thưa:- Dạ, được ạ.

  • VĨNH NGUYÊN                Truyện kýSau “vụ” gặp em, tôi băn khoăn lắm lắm. Là bởi trước đó - trước quả rốc-két mà chiếc F4H phóng xuống và em bị thương dưới đùi, em đang chờ tháo dây thuyền ở hốc đá, còn tôi thì giữ lấy ống ti-dô cho nước vào hai cái thùng phuy trên thuyền cho em. Hai chiếc thùng phuy 400 lít nước sắp tràn đầy. Như vậy là quá đủ thời gian cho chúng ta có thể hiểu biết về nhau, tên tuổi, quê hương bản quán.

  • ĐẶNG VĂN SỞ          Ghi chépKhông hiểu sao tôi lại đi tìm anh - anh Nguyễn Đức Thuận - người anh chú bác ruột cùng chung sống dưới một mái nhà với tôi. Tôi chỉ nhớ là hồi đó chồng của cô tôi nằm mơ thấy anh, và bác vào tận Nha Trang để đi tìm anh Mậu, người đồng đội và là người chứng kiến lúc chôn cất anh.

  • NGUYỄN QUANG HÀMột buổi sáng vợ chồng anh Thảo, chị Ái đang đèo nhau, phóng xe Honda trên đường Nguyễn Trãi, một con đường lớn của thành phố Huế, bỗng có một người lao thẳng vào xe anh Thảo. Nhờ tay lái thiện nghệ, nên anh Thảo đã phanh xe kịp. Hai vợ chồng dựng xe, ra đỡ nạn nhân dậy.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGBút kýAnh đã xứng đáng với danh hiệu "Nghệ sĩ Nhân dân" của nhà nước ta phong tặng. Riêng Hội Nghệ sĩ điện ảnh Nhật Bản đã tặng cho anh giải thưởng vẻ vang dành cho người nghệ sĩ thuật lại sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh...

  • ĐÀO XUÂN QUÝĐã lâu lắm, có đến hơn hai năm, kể từ khi bị tai nạn ở chân tôi chưa đi vào các hiệu sách, kể cả các hiệu sách ở Nha Trang. Đi tới các hiệu sách thì xa quá, đi bộ thì không đi nổi, mệt và nóng lắm, mà đi xe thuê thì cũng khó, vì họ không phải chỉ đưa mình tới nơi mà còn phải đợi hàng giờ khi mình phải tìm chọn sách nơi này nơi nọ, quầy này quầy khác v.v...

  • NGUYỄN THANH CHÍHai mươi tám tuổi, nó không biết chữ và không quen đi dép, mặc áo quần dài; lầm lũi, ít nói nhưng rất khoẻ mạnh... Với nó rừng là nhà, các lối mòn trong rừng thì thuộc như lòng bàn tay... Đó là Trương Ngọc Hoàng, sinh năm 1977.

  • NGUYỄN TRỌNG BÍNHMọi chuyện xẩy ra suốt 55 ngày đêm ở đơn vị trong cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi đều nhớ như in. Thế mà, lạ lùng thay, suốt thời gian đó, hàng ngày mình ăn thế nào, lại không nhớ nổi. Chỉ nhớ mang máng có lúc ăn cơm nắm, ăn lương khô. Về giấc ngủ, có thể là tranh thủ nửa ngủ nửa thức giữa 2 trận đánh hoặc lúc ngồi trên xe trong đội hình hành tiến. Cố hình dung, tôi nhớ được bữa cơm chiều ở dinh Độc Lập, hôm 30-4-1975.

  • NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.

  • HUỲNH KIM PHONG(Chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2005)

  • LÊ HOÀNG HẢICon người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt... Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nhìn sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm cứ nghĩ khó mà bơi sang sông được. Mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học ngày càng khám phá không gian, vũ trụ thì chạm đến cõi vô cùng.

  • HỒ NGỌC PHÚTôi về lại Huế sau trận lụt tuy muộn nhưng khá lớn vào gần cuối tháng 12 năm 2004. Ngồi ở quán cà phê Sơn bên bờ chân cầu Trường Tiền, nhìn sông Hương vào lúc sáng sớm sao thấy khang khác, trong có vẻ như sáng hơn ngày thường.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.

  • NGUYỄN THẾ QUANG(Chuyện tình chưa kể của nhà thơ Hoàng Cầm)

  • VÕ NGỌC LANTôi sinh ra và lớn lên tại vùng Kim Long, một làng nhỏ thuộc vùng cận sơn, không xa Huế là bao. Bởi thuở nhỏ chỉ loanh quanh trong nhà, trong làng ít khi được “đi phố” nên đối với tôi, Huế là một cái gì thật xa cách, thật lạ lùng. Đến nỗi tôi có ý nghĩ buồn cười: “Huế là của người ta, của ai đó, chứ không phải là Huế của tôi”, ngôi chợ mái trường, một khoảng sông xanh ngắt và tiếng chuông chùa Linh Mụ... mấy thứ ấy mới là của tôi.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhân một lần ghé ngang Paris , võ sư người Huế Nguyễn Văn Dũng đã đi thăm sông Seine. Đứng lặng lẽ bên dòng sông thơ mộng bậc nhất nước Pháp, bỗng lòng ông nhớ sông Hương quá trời. Về lại Việt , ngồi bên bờ sông Hương, ông vẫn hãy còn thấy nhớ cồn cào cái dòng chảy thầm thì trong sương mù như một nhát cắt ngọt ngào giữa trái tim đa cảm.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGTôi rẽ vào nhà Thiệp để đưa bé Miên Thảo đi học. Cô bé hét vang nhà để bắt tìm cho ra chiếc dép đi trời mưa lạc nơi đâu không biết. Miên Thảo mặc chiếc quần Jean xanh và khoác áo len đỏ, choàng một chiếc phu la cổ màu đen trông thật đỏm dáng.

  • NGUYỄN QUANG HÀSông Bồ là con sông không dài, nhưng đẹp ở về phía Bắc Huế. Phía tả ngạn, hữu ngạn vùng thượng lưu sông là hai huyện Phong Điền và Hương Trà, vùng hạ lưu sông chảy qua Quảng Điền rồi đổ vào phá Tam Giang. Làng xóm hai bên bờ sông khá trù mật.