CAO HUY THUẦN
Tùy bút
Con chim én bay về phía mùa xuân, bay suốt ngày, tối đến dừng cánh nghỉ dưới một mái rơm, giữa đồng hoang.
Ảnh: internet
Nó ríu mắt, toan ngủ, bỗng thấy một con vật gì xấu xí lần mò đến bên cạnh. Én sợ, vỗ cánh bay, nhưng con vật kia đã giữ chân nó lại, ôn tồn nhỏ nhẹ, dỗ dành:
- Đừng sợ, cô bé, ta đợi cô bé đã ba đêm rồi. Ta là cú đây, dáng ta xấu xí, nhưng lòng ta không xấu. Cô bé chịu khó ở với ta chốc lát thôi, nghe ta kể câu chuyện thần tiên này, rồi sau đó ta sẽ để cô bé ngủ yên.
Én vẫn chưa hết sợ khi nhìn bộ mặt quái dị kia, nhưng giọng nói chân thành, cảm động của cú làm nó vững tâm hơn. Cú bắt đầu kể:
Trong một tiền kiếp xa xăm, ta là một công chúa dung nhan diễm lệ, trong như ngọc, sáng như trăng. Giữa tuổi mười tám, một hôm đang hái hoa trong vườn, cô gái bị gai chích vào tay, máu hồng thấm mấy giọt vào tà áo trắng tinh. Cô gái nằm xuống cỏ nhắm mắt ngủ một giấc ngàn thu, tà áo trắng hóa thành cánh hạc bay thẳng lên mây, mấy giọt máu đào biến thành đôi chân hồng thắm. Ta xưa kia như thế đấy. Sau đó, không biết ta đã phạm lỗi lầm gì, mà từ chốn thần tiên mây bay hạc duỗi, ta bị đày đọa xuống làm thân cú xấu xa từ kiếp này qua kiếp khác, không bao giờ được thấy mặt trời.
Từ lúc vừa biết bay, ta đã làm nhà trên nóc một ngôi chùa bỏ trống giữa vùng đồi núi hoang vu. Cảnh đã thê lương lại càng thê lương hơn mỗi khi ta cất tiếng kêu giữa đêm khuya để báo hiệu một sinh vật vừa lìa trần. Nhưng một đêm kia, một sư cụ đâu từ phương xa thắp đuốc bước vào chùa, gối đầu lên tay nải ngủ, rồi ở luôn đấy. Bắt đầu từ đó, ta nghe kinh kệ, thấm mùi hương trầm, nhìn ông sư già ngủ an lành trên thềm rêu, rồi ta bỗng thấy trong lòng đổi khác, đêm đêm ta không còn muốn cất tiếng kêu hãi hùng nữa. Cứ như thế, ta sống ba năm trên nóc chùa cổ, cho đến ngày ông sư già tịch, ngôi chùa lại bỏ hoang, đồi núi hoang vu không còn vọng tiếng chuông sớm tối. Mấy hôm sau khi ông sư già chết, ta nhớ tiếng kinh tiếng kệ quá, đánh bạo bay xuống đậu trên chiếc mõ. Ta đậu như thế cho đến canh ba, bỗng ta có cảm tưởng như ta bắt đầu hóa kiếp. Ta không rời khỏi chiếc mõ trong ba hôm liền. Đêm cuối cùng, ta thấy một quang cảnh đẹp như chưa bao giờ ta thấy, và ta biết đó là quê hương xứ sở thần tiên trong tiền kiếp của ta. Ta thấy trên một đỉnh núi cao ngất, cao đến nỗi không biết đâu là đỉnh núi, đâu là mây trời, một hồ nước nhỏ trong suốt, không gợn một hạt bụi, không phớt một bóng mây, một hồ nước sáng long lanh trên một vũng đá xanh, cạnh một khóm trúc vàng. Ngay cả đến mây cũng không dám quấy rối vẻ thanh tịnh tinh khiết của hồ nước, gió có lướt ngang qua, cũng chỉ dám đi nhè nhẹ. Duy chỉ một con hạc trắng thỉnh thoảng từ trong mây nhẹ nhàng đáp xuống, nhúng mỏ trong hồ uống một giọt nước, rồi ung dung vỗ cánh bay vào lại trong mây.
Ta thấy được cả lai lịch của hồ nước thần tiên đó. Cách đây ba trăm năm, một vị thiện nhân, sau khi cứu nhân độ thế suốt cả một đời, đã chọn đỉnh núi này làm nơi nhắm mắt. Người bước lên núi cao, thong dong như đi giữa đường bằng, gậy trúc chống vào mây, phút chốc đã lên đến đỉnh. Mặt trời đã dọn sẵn một chỗ nằm ấm trên một phiến đá bằng. Người cắm gậy trúc vào đá, nằm xuống bên cạnh, ngủ một giấc bình an. Hôm sau, thân xác người tan biến mất, chỉ còn lại một vũng nước trong suốt, đọng lại trên đá thành hồ. Chiếc gậy trúc hút nước, nở lá xanh trên những cành vàng óng.
Ta nghe như có tiếng nói vào tai ta rằng kẻ nào uống một giọt nước nơi hồ kia sẽ sống nhẹ nhàng, thanh thoát như con hạc trắng trong mây. Rồi ta bỗng nghĩ rằng nếu ta được rửa mắt trong nước hồ kia, mắt ta sẽ thấy lại ánh sáng mặt trời, ta sẽ chấm dứt nghiệp cũ, trở về với chốn thần tiên. Từ đó, ta quyết chí tìm đến cho kỳ được hồ nước thần tiên, dù ta biết rằng với đôi cánh của ta, không bao giờ ta có thể bay lên đỉnh núi cao ngất kia.
Ta từ giã chiếc mõ ngay đêm ấy, tìm hướng núi mà bay. Ta bay đã trên một ngàn đêm rồi, nhưng đường xa vạn dặm, sức ta đã kiệt, đôi cánh bệnh hoạn như muốn rời khỏi tấm thân già. Ta nằm đợi chết ở đây đã ba đêm rồi, nhưng niềm tin kỳ lạ vẫn không rời khỏi ta, ta tin rằng mắt ta sẽ được rửa trong hồ nước kia trước khi ta chết. Từ ba hôm nay, ta nghe mùa đông xa dần, mùa xuân đang đến. Ta nghĩ đến những con chim én vượt hàng vạn dặm đường từ những vùng băng tuyết bay đến những nơi vừa hé nắng mùa xuân, rồi bỗng một ý nghĩ nóng hổi vụt đến với ta khiến ta tràn trề hy vọng. Ta thành tâm cầu nguyện rằng một trong hàng vạn con én giang hồ kia sẽ ngừng cánh ở đây, nơi mái rơm lẻ loi này trước khi ta hấp hối, để ta gởi gắm chí nguyện của ta. Ta đã nuôi chí nguyện đó suốt đời, từ khi mới lớn cho đến lúc chết, lẽ nào chí nguyện đó không thành? Quả nhiên cô bé đã đến đây, lòng thành của ta và hơi ấm mùa xuân đã mang cô bé đến đây với ta trong đêm ta lìa đời. Ta sắp nhờ cô bé một chuyện, chắc cô bé không nỡ chối từ.
Giọng con cú yếu dần như sắp tắt. Nó xích lại gần hơn nữa bên cạnh én, hơi thở thoi thóp. Trên trời, sao nhấp nhánh.
Ta sắp nhờ cô bé một chuyện vĩ đại, khó ai nghĩ ra. Trong hai con mắt của ta, một con đã hỏng cách đây khá lâu, sau một đêm bay không nghỉ. Con mắt kia bỗng tinh hơn trước, khiến ta có cảm tưởng ta thấy đường rõ hơn với một mắt hơn là với hai. Từ ba hôm nay, ta nghe ta chết dần dần, chết trong từng phút từng giây, chết từ đôi cánh đến đôi chân, đến ngực, đến bụng... Tất cả sự sống còn lại, ta dồn lên mắt này, ta muốn mắt này sẽ chết cuối cùng sau khi toàn thân đã chết, và sẽ còn sống tiếp một thời gian sau khi thân xác ta tiêu tan. Ta muốn nhờ cô bé mang mắt này, con mắt đã thấy được tiền kiếp trên chiếc mõ khai quang, bay lên đỉnh núi cao ngất kia, nhúng trong hồ nước thần tiên: mắt này nhúng trong nước kia sẽ sáng như ngọc minh châu, sẽ lấp lánh mây trời nơi ta từng sống.
Con cú già nói ngang đó thì tắt thở.
Chim én mổ vào mắt cú, ngậm chiếc mắt tròn trong miệng, bay ngay vào đêm hôm đó. Én bay bay mãi, bay suốt ba ngày ba đêm không nghỉ, bay cho đến khi thấy núi hiện ra sừng sững. Nó bay lên đỉnh, bay rã cánh, vẫn không thấy đâu là đỉnh, đâu là mây trời. Con én kiệt sức, hơi lạnh trên cao áp vào ngực làm nó không thở được nữa. Trong phút chốc, nó biết nó sắp chết, chết với con mắt đang ngậm trong miệng, chết mà sứ mạng không thành. Nó dẫy dụa đôi cánh, cố nhìn lên núi vẫn cao ngất, không biết đâu là đỉnh, đâu là trời xanh. Nó chết đã đành phận nó, nhưng mắt kia biết để vào đâu? Bỗng một ý nghĩ vụt nhanh qua đầu nó: hồ nước thần tiên kia chẳng có gì khác hơn là trái tim của vị thiện nhân; ta không nhúng mắt này vào tim kia được thì ta sẽ nhúng nó vào tim ta. Con én nuốt mắt vào lòng, hai cánh lẩy bẩy không mở ra được nữa, nó rơi từ trên mây cao chót vót xuống mặt đất thăm thẳm sâu.
Gió đưa xác con én lạc vào một làng nhỏ không xa chân núi, ba trăm năm trước đây, trước khi chết, vị thiện nhân đã ở tại làng này, khi đây còn là nơi trú ẩn của bọn côn đồ giết người không gớm tay. Từ đó, làng trở lại lương thiện, dân làng cày cấy, dệt vải, sống cuộc đời an lành, no ấm. Duy chỉ có một người đúc kiếm nhất định không bỏ nếp sống cũ, không đổi tính. Nhưng, lạ thật, cũng chỉ một mình người đúc kiếm này thấy vị thiện nhân chống gậy trúc đi lên núi cao thong dong như đi giữa đường bằng. Anh ta chợt tỉnh ngộ, bỏ nghề đúc kiếm, để tâm suốt năm trời đúc tượng ông già, vai còng dưới khổ đau của thế gian, tay ngửa ra như để đón nhận mọi đau khổ.
Gió đưa xác con én lạc vào làng, nơi đúng vào lòng bàn tay của bức tượng, ít hôm sau, xác con én tan rữa, một em bé tình cờ cho trâu ăn cỏ gần đấy thấy trong lòng bàn tay bức tượng một viên ngọc, một viên ngọc long lanh phản chiếu mây trời.
***
Giờ thăm bệnh đã hết từ lâu khi cụ Nguyễn kể cho tôi nghe xong câu chuyện hạt ngọc. Tôi biết tôi đến thăm cụ lần này là lần cuối. Vài ngày nữa, chắc tôi sẽ nhận được tin cụ qua đời. Tôi tần ngần đứng dậy, toan cáo biệt, thì cụ cầm áo tôi, bảo ngồi lại thêm lát nữa. Tôi đi không đành, im lặng nhìn cụ. Chậm rãi, cụ hỏi tôi:
- Ông có biết chùa Túy Vân ở Huế không? Hình như xây đâu từ hồi Minh Mạng. Chót vót trên cao, ba mặt lồng lộng trông ra biển. Túy Vân, cái tên nghe hay quá, ông nhỉ. Mây biếc, hay là uống gió nhiều thì say. Huế mà không có mây thì Huế không còn là Huế. Cho nên chân vừa bước đến Huế thì mắt đã gặp mây ở Hải Vân. Lúc trẻ, có hôm tôi leo lên mái chùa Túy Vân, ngồi xổm trên nóc, nhìn mây bay. Mây bay như say thật, ông ạ, mây Phú Xuân bay trên kinh thành Huế... Quê hương tôi đó ông. Xứ sở thần tiên trong tiền kiếp diễm lệ của tôi đó ông. Hai con rồng tranh nhau viên ngọc trên nóc Túy Vân, bây giờ có còn không ông nhỉ? Ngọc sáng như mắt nhìn bốn bể bát ngát trời mây, nhìn non, nhìn nước, nhìn ba trăm năm về trước, nhìn ba trăm năm về sau, nhìn suối tiên chảy ra từ một trái tim hiền. Biết nhờ ai, ông nhỉ, biết nhờ ai mang mắt này gắn lên thượng đỉnh của nóc chùa Túy Vân?
C.H.T
(SH29/02-88)
Tải mã QRCode
PHAN TÂM (Kỷ niệm 240 năm sinh thi hào Nguyễn Du 1765-2005)Tháng Hai 1994:Từ Vinh qua cầu Bến Thủy, rẽ trái độ mười cây nữa, đến xã Xuân Tiên (Tiên Điền), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.Khu đất cao ráo ở ngay đầu xã, bên bờ sông Lam, cạnh bến Giang Đình, là khu nhà cũ, khu lưu niệm Nguyễn Du.
LTS: Phát hành tới hàng trăm ngàn bản, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là cuốn sách duy nhất (có thể nói như vậy) gây được xúc động cho các thế hệ độc giả trong và sau chiến tranh, cho cả hai phía xâm lược và chống xâm lược nhờ tính chân thực của nó.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số trang trong cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và hai bài viết liên quan đến cuốn sách
NGUYỄN QUANG HÀ Truyện kýHoà thượng Thích Đôn Hậu gọi đại đức Thích Trí Diệm lên phòng riêng:- Ta đang mắc công chuyện không thể xa Huế được trong thời gian này, nên ta cử thầy vào chùa Hải Đức, Nha Trang tham gia cuộc thuyết pháp quan trọng tại đó. Thầy đi được chớ?Đại đức Thích Trí Diệm cúi đầu thưa:- Dạ, được ạ.
VĨNH NGUYÊN Truyện kýSau “vụ” gặp em, tôi băn khoăn lắm lắm. Là bởi trước đó - trước quả rốc-két mà chiếc F4H phóng xuống và em bị thương dưới đùi, em đang chờ tháo dây thuyền ở hốc đá, còn tôi thì giữ lấy ống ti-dô cho nước vào hai cái thùng phuy trên thuyền cho em. Hai chiếc thùng phuy 400 lít nước sắp tràn đầy. Như vậy là quá đủ thời gian cho chúng ta có thể hiểu biết về nhau, tên tuổi, quê hương bản quán.
ĐẶNG VĂN SỞ Ghi chépKhông hiểu sao tôi lại đi tìm anh - anh Nguyễn Đức Thuận - người anh chú bác ruột cùng chung sống dưới một mái nhà với tôi. Tôi chỉ nhớ là hồi đó chồng của cô tôi nằm mơ thấy anh, và bác vào tận Nha Trang để đi tìm anh Mậu, người đồng đội và là người chứng kiến lúc chôn cất anh.
NGUYỄN QUANG HÀMột buổi sáng vợ chồng anh Thảo, chị Ái đang đèo nhau, phóng xe Honda trên đường Nguyễn Trãi, một con đường lớn của thành phố Huế, bỗng có một người lao thẳng vào xe anh Thảo. Nhờ tay lái thiện nghệ, nên anh Thảo đã phanh xe kịp. Hai vợ chồng dựng xe, ra đỡ nạn nhân dậy.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGBút kýAnh đã xứng đáng với danh hiệu "Nghệ sĩ Nhân dân" của nhà nước ta phong tặng. Riêng Hội Nghệ sĩ điện ảnh Nhật Bản đã tặng cho anh giải thưởng vẻ vang dành cho người nghệ sĩ thuật lại sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh...
ĐÀO XUÂN QUÝĐã lâu lắm, có đến hơn hai năm, kể từ khi bị tai nạn ở chân tôi chưa đi vào các hiệu sách, kể cả các hiệu sách ở Nha Trang. Đi tới các hiệu sách thì xa quá, đi bộ thì không đi nổi, mệt và nóng lắm, mà đi xe thuê thì cũng khó, vì họ không phải chỉ đưa mình tới nơi mà còn phải đợi hàng giờ khi mình phải tìm chọn sách nơi này nơi nọ, quầy này quầy khác v.v...
NGUYỄN THANH CHÍHai mươi tám tuổi, nó không biết chữ và không quen đi dép, mặc áo quần dài; lầm lũi, ít nói nhưng rất khoẻ mạnh... Với nó rừng là nhà, các lối mòn trong rừng thì thuộc như lòng bàn tay... Đó là Trương Ngọc Hoàng, sinh năm 1977.
NGUYỄN TRỌNG BÍNHMọi chuyện xẩy ra suốt 55 ngày đêm ở đơn vị trong cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi đều nhớ như in. Thế mà, lạ lùng thay, suốt thời gian đó, hàng ngày mình ăn thế nào, lại không nhớ nổi. Chỉ nhớ mang máng có lúc ăn cơm nắm, ăn lương khô. Về giấc ngủ, có thể là tranh thủ nửa ngủ nửa thức giữa 2 trận đánh hoặc lúc ngồi trên xe trong đội hình hành tiến. Cố hình dung, tôi nhớ được bữa cơm chiều ở dinh Độc Lập, hôm 30-4-1975.
NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.
HUỲNH KIM PHONG(Chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2005)
LÊ HOÀNG HẢICon người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt... Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nhìn sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm cứ nghĩ khó mà bơi sang sông được. Mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học ngày càng khám phá không gian, vũ trụ thì chạm đến cõi vô cùng.
HỒ NGỌC PHÚTôi về lại Huế sau trận lụt tuy muộn nhưng khá lớn vào gần cuối tháng 12 năm 2004. Ngồi ở quán cà phê Sơn bên bờ chân cầu Trường Tiền, nhìn sông Hương vào lúc sáng sớm sao thấy khang khác, trong có vẻ như sáng hơn ngày thường.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.
NGUYỄN THẾ QUANG(Chuyện tình chưa kể của nhà thơ Hoàng Cầm)
VÕ NGỌC LANTôi sinh ra và lớn lên tại vùng Kim Long, một làng nhỏ thuộc vùng cận sơn, không xa Huế là bao. Bởi thuở nhỏ chỉ loanh quanh trong nhà, trong làng ít khi được “đi phố” nên đối với tôi, Huế là một cái gì thật xa cách, thật lạ lùng. Đến nỗi tôi có ý nghĩ buồn cười: “Huế là của người ta, của ai đó, chứ không phải là Huế của tôi”, ngôi chợ mái trường, một khoảng sông xanh ngắt và tiếng chuông chùa Linh Mụ... mấy thứ ấy mới là của tôi.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhân một lần ghé ngang Paris , võ sư người Huế Nguyễn Văn Dũng đã đi thăm sông Seine. Đứng lặng lẽ bên dòng sông thơ mộng bậc nhất nước Pháp, bỗng lòng ông nhớ sông Hương quá trời. Về lại Việt , ngồi bên bờ sông Hương, ông vẫn hãy còn thấy nhớ cồn cào cái dòng chảy thầm thì trong sương mù như một nhát cắt ngọt ngào giữa trái tim đa cảm.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGTôi rẽ vào nhà Thiệp để đưa bé Miên Thảo đi học. Cô bé hét vang nhà để bắt tìm cho ra chiếc dép đi trời mưa lạc nơi đâu không biết. Miên Thảo mặc chiếc quần Jean xanh và khoác áo len đỏ, choàng một chiếc phu la cổ màu đen trông thật đỏm dáng.
NGUYỄN QUANG HÀSông Bồ là con sông không dài, nhưng đẹp ở về phía Bắc Huế. Phía tả ngạn, hữu ngạn vùng thượng lưu sông là hai huyện Phong Điền và Hương Trà, vùng hạ lưu sông chảy qua Quảng Điền rồi đổ vào phá Tam Giang. Làng xóm hai bên bờ sông khá trù mật.