Ngọc Túy Vân

08:28 05/03/2014

CAO HUY THUẦN
              Tùy bút

Con chim én bay về phía mùa xuân, bay suốt ngày, tối đến dừng cánh nghỉ dưới một mái rơm, giữa đồng hoang.

Ảnh: internet

Nó ríu mắt, toan ngủ, bỗng thấy một con vật gì xấu xí lần mò đến bên cạnh. Én sợ, vỗ cánh bay, nhưng con vật kia đã giữ chân nó lại, ôn tồn nhỏ nhẹ, dỗ dành:

- Đừng sợ, cô bé, ta đợi cô bé đã ba đêm rồi. Ta là cú đây, dáng ta xấu xí, nhưng lòng ta không xấu. Cô bé chịu khó ở với ta chốc lát thôi, nghe ta kể câu chuyện thần tiên này, rồi sau đó ta sẽ để cô bé ngủ yên.

Én vẫn chưa hết sợ khi nhìn bộ mặt quái dị kia, nhưng giọng nói chân thành, cảm động của cú làm nó vững tâm hơn. Cú bắt đầu kể:

Trong một tiền kiếp xa xăm, ta là một công chúa dung nhan diễm lệ, trong như ngọc, sáng như trăng. Giữa tuổi mười tám, một hôm đang hái hoa trong vườn, cô gái bị gai chích vào tay, máu hồng thấm mấy giọt vào tà áo trắng tinh. Cô gái nằm xuống cỏ nhắm mắt ngủ một giấc ngàn thu, tà áo trắng hóa thành cánh hạc bay thẳng lên mây, mấy giọt máu đào biến thành đôi chân hồng thắm. Ta xưa kia như thế đấy. Sau đó, không biết ta đã phạm lỗi lầm gì, mà từ chốn thần tiên mây bay hạc duỗi, ta bị đày đọa xuống làm thân cú xấu xa từ kiếp này qua kiếp khác, không bao giờ được thấy mặt trời.

Từ lúc vừa biết bay, ta đã làm nhà trên nóc một ngôi chùa bỏ trống giữa vùng đồi núi hoang vu. Cảnh đã thê lương lại càng thê lương hơn mỗi khi ta cất tiếng kêu giữa đêm khuya để báo hiệu một sinh vật vừa lìa trần. Nhưng một đêm kia, một sư cụ đâu từ phương xa thắp đuốc bước vào chùa, gối đầu lên tay nải ngủ, rồi ở luôn đấy. Bắt đầu từ đó, ta nghe kinh kệ, thấm mùi hương trầm, nhìn ông sư già ngủ an lành trên thềm rêu, rồi ta bỗng thấy trong lòng đổi khác, đêm đêm ta không còn muốn cất tiếng kêu hãi hùng nữa. Cứ như thế, ta sống ba năm trên nóc chùa cổ, cho đến ngày ông sư già tịch, ngôi chùa lại bỏ hoang, đồi núi hoang vu không còn vọng tiếng chuông sớm tối. Mấy hôm sau khi ông sư già chết, ta nhớ tiếng kinh tiếng kệ quá, đánh bạo bay xuống đậu trên chiếc mõ. Ta đậu như thế cho đến canh ba, bỗng ta có cảm tưởng như ta bắt đầu hóa kiếp. Ta không rời khỏi chiếc mõ trong ba hôm liền. Đêm cuối cùng, ta thấy một quang cảnh đẹp như chưa bao giờ ta thấy, và ta biết đó là quê hương xứ sở thần tiên trong tiền kiếp của ta. Ta thấy trên một đỉnh núi cao ngất, cao đến nỗi không biết đâu là đỉnh núi, đâu là mây trời, một hồ nước nhỏ trong suốt, không gợn một hạt bụi, không phớt một bóng mây, một hồ nước sáng long lanh trên một vũng đá xanh, cạnh một khóm trúc vàng. Ngay cả đến mây cũng không dám quấy rối vẻ thanh tịnh tinh khiết của hồ nước, gió có lướt ngang qua, cũng chỉ dám đi nhè nhẹ. Duy chỉ một con hạc trắng thỉnh thoảng từ trong mây nhẹ nhàng đáp xuống, nhúng mỏ trong hồ uống một giọt nước, rồi ung dung vỗ cánh bay vào lại trong mây.

Ta thấy được cả lai lịch của hồ nước thần tiên đó. Cách đây ba trăm năm, một vị thiện nhân, sau khi cứu nhân độ thế suốt cả một đời, đã chọn đỉnh núi này làm nơi nhắm mắt. Người bước lên núi cao, thong dong như đi giữa đường bằng, gậy trúc chống vào mây, phút chốc đã lên đến đỉnh. Mặt trời đã dọn sẵn một chỗ nằm ấm trên một phiến đá bằng. Người cắm gậy trúc vào đá, nằm xuống bên cạnh, ngủ một giấc bình an. Hôm sau, thân xác người tan biến mất, chỉ còn lại một vũng nước trong suốt, đọng lại trên đá thành hồ. Chiếc gậy trúc hút nước, nở lá xanh trên những cành vàng óng.

Ta nghe như có tiếng nói vào tai ta rằng kẻ nào uống một giọt nước nơi hồ kia sẽ sống nhẹ nhàng, thanh thoát như con hạc trắng trong mây. Rồi ta bỗng nghĩ rằng nếu ta được rửa mắt trong nước hồ kia, mắt ta sẽ thấy lại ánh sáng mặt trời, ta sẽ chấm dứt nghiệp cũ, trở về với chốn thần tiên. Từ đó, ta quyết chí tìm đến cho kỳ được hồ nước thần tiên, dù ta biết rằng với đôi cánh của ta, không bao giờ ta có thể bay lên đỉnh núi cao ngất kia.

Ta từ giã chiếc mõ ngay đêm ấy, tìm hướng núi mà bay. Ta bay đã trên một ngàn đêm rồi, nhưng đường xa vạn dặm, sức ta đã kiệt, đôi cánh bệnh hoạn như muốn rời khỏi tấm thân già. Ta nằm đợi chết ở đây đã ba đêm rồi, nhưng niềm tin kỳ lạ vẫn không rời khỏi ta, ta tin rằng mắt ta sẽ được rửa trong hồ nước kia trước khi ta chết. Từ ba hôm nay, ta nghe mùa đông xa dần, mùa xuân đang đến. Ta nghĩ đến những con chim én vượt hàng vạn dặm đường từ những vùng băng tuyết bay đến những nơi vừa hé nắng mùa xuân, rồi bỗng một ý nghĩ nóng hổi vụt đến với ta khiến ta tràn trề hy vọng. Ta thành tâm cầu nguyện rằng một trong hàng vạn con én giang hồ kia sẽ ngừng cánh ở đây, nơi mái rơm lẻ loi này trước khi ta hấp hối, để ta gởi gắm chí nguyện của ta. Ta đã nuôi chí nguyện đó suốt đời, từ khi mới lớn cho đến lúc chết, lẽ nào chí nguyện đó không thành? Quả nhiên cô bé đã đến đây, lòng thành của ta và hơi ấm mùa xuân đã mang cô bé đến đây với ta trong đêm ta lìa đời. Ta sắp nhờ cô bé một chuyện, chắc cô bé không nỡ chối từ.

Giọng con cú yếu dần như sắp tắt. Nó xích lại gần hơn nữa bên cạnh én, hơi thở thoi thóp. Trên trời, sao nhấp nhánh.

Ta sắp nhờ cô bé một chuyện vĩ đại, khó ai nghĩ ra. Trong hai con mắt của ta, một con đã hỏng cách đây khá lâu, sau một đêm bay không nghỉ. Con mắt kia bỗng tinh hơn trước, khiến ta có cảm tưởng ta thấy đường rõ hơn với một mắt hơn là với hai. Từ ba hôm nay, ta nghe ta chết dần dần, chết trong từng phút từng giây, chết từ đôi cánh đến đôi chân, đến ngực, đến bụng... Tất cả sự sống còn lại, ta dồn lên mắt này, ta muốn mắt này sẽ chết cuối cùng sau khi toàn thân đã chết, và sẽ còn sống tiếp một thời gian sau khi thân xác ta tiêu tan. Ta muốn nhờ cô bé mang mắt này, con mắt đã thấy được tiền kiếp trên chiếc mõ khai quang, bay lên đỉnh núi cao ngất kia, nhúng trong hồ nước thần tiên: mắt này nhúng trong nước kia sẽ sáng như ngọc minh châu, sẽ lấp lánh mây trời nơi ta từng sống.

Con cú già nói ngang đó thì tắt thở.

Chim én mổ vào mắt cú, ngậm chiếc mắt tròn trong miệng, bay ngay vào đêm hôm đó. Én bay bay mãi, bay suốt ba ngày ba đêm không nghỉ, bay cho đến khi thấy núi hiện ra sừng sững. Nó bay lên đỉnh, bay rã cánh, vẫn không thấy đâu là đỉnh, đâu là mây trời. Con én kiệt sức, hơi lạnh trên cao áp vào ngực làm nó không thở được nữa. Trong phút chốc, nó biết nó sắp chết, chết với con mắt đang ngậm trong miệng, chết mà sứ mạng không thành. Nó dẫy dụa đôi cánh, cố nhìn lên núi vẫn cao ngất, không biết đâu là đỉnh, đâu là trời xanh. Nó chết đã đành phận nó, nhưng mắt kia biết để vào đâu? Bỗng một ý nghĩ vụt nhanh qua đầu nó: hồ nước thần tiên kia chẳng có gì khác hơn là trái tim của vị thiện nhân; ta không nhúng mắt này vào tim kia được thì ta sẽ nhúng nó vào tim ta. Con én nuốt mắt vào lòng, hai cánh lẩy bẩy không mở ra được nữa, nó rơi từ trên mây cao chót vót xuống mặt đất thăm thẳm sâu.

Gió đưa xác con én lạc vào một làng nhỏ không xa chân núi, ba trăm năm trước đây, trước khi chết, vị thiện nhân đã ở tại làng này, khi đây còn là nơi trú ẩn của bọn côn đồ giết người không gớm tay. Từ đó, làng trở lại lương thiện, dân làng cày cấy, dệt vải, sống cuộc đời an lành, no ấm. Duy chỉ có một người đúc kiếm nhất định không bỏ nếp sống cũ, không đổi tính. Nhưng, lạ thật, cũng chỉ một mình người đúc kiếm này thấy vị thiện nhân chống gậy trúc đi lên núi cao thong dong như đi giữa đường bằng. Anh ta chợt tỉnh ngộ, bỏ nghề đúc kiếm, để tâm suốt năm trời đúc tượng ông già, vai còng dưới khổ đau của thế gian, tay ngửa ra như để đón nhận mọi đau khổ.

Gió đưa xác con én lạc vào làng, nơi đúng vào lòng bàn tay của bức tượng, ít hôm sau, xác con én tan rữa, một em bé tình cờ cho trâu ăn cỏ gần đấy thấy trong lòng bàn tay bức tượng một viên ngọc, một viên ngọc long lanh phản chiếu mây trời.

***

Giờ thăm bệnh đã hết từ lâu khi cụ Nguyễn kể cho tôi nghe xong câu chuyện hạt ngọc. Tôi biết tôi đến thăm cụ lần này là lần cuối. Vài ngày nữa, chắc tôi sẽ nhận được tin cụ qua đời. Tôi tần ngần đứng dậy, toan cáo biệt, thì cụ cầm áo tôi, bảo ngồi lại thêm lát nữa. Tôi đi không đành, im lặng nhìn cụ. Chậm rãi, cụ hỏi tôi:

- Ông có biết chùa Túy Vân ở Huế không? Hình như xây đâu từ hồi Minh Mạng. Chót vót trên cao, ba mặt lồng lộng trông ra biển. Túy Vân, cái tên nghe hay quá, ông nhỉ. Mây biếc, hay là uống gió nhiều thì say. Huế mà không có mây thì Huế không còn là Huế. Cho nên chân vừa bước đến Huế thì mắt đã gặp mây ở Hải Vân. Lúc trẻ, có hôm tôi leo lên mái chùa Túy Vân, ngồi xổm trên nóc, nhìn mây bay. Mây bay như say thật, ông ạ, mây Phú Xuân bay trên kinh thành Huế... Quê hương tôi đó ông. Xứ sở thần tiên trong tiền kiếp diễm lệ của tôi đó ông. Hai con rồng tranh nhau viên ngọc trên nóc Túy Vân, bây giờ có còn không ông nhỉ? Ngọc sáng như mắt nhìn bốn bể bát ngát trời mây, nhìn non, nhìn nước, nhìn ba trăm năm về trước, nhìn ba trăm năm về sau, nhìn suối tiên chảy ra từ một trái tim hiền. Biết nhờ ai, ông nhỉ, biết nhờ ai mang mắt này gắn lên thượng đỉnh của nóc chùa Túy Vân?

C.H.T
(SH29/02-88)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).

  • PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

  • PHẠM THỊ CÚC                       KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                        Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

  • THÁI VŨ        Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.

  • PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

  • LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.

  • PHẠM THỊ CÚC                         Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…

  • LÊ VĨNH THÁI                Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.

  • TRƯƠNG ĐÌNH MINH                                 Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                              Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.

  • TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.

  • PHẠM THỊ ANH NGA       Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.

  • TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.

  • CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...

  • NGUYỄN HỮU THÔNG                             Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)