Mười năm đi tìm hai bài thơ “Khuya nặng” và “Xuân tù” của Tố Hữu

15:25 09/12/2008
NHẬT HOA KHANH Mười năm những mấy ngàn ngày... (Tố Hữu: Mười năm )

Năm 1992, lần đầu tiên tôi được nhà văn Nguyễn Đình Thi trả lời phỏng vấn. Cuộc gặp diễn ra tại một căn hộ trên tầng lầu, tôi không nhớ là tầng mấy, của một khu tập thể khá lớn đường Hải Thượng Lãn Ông (quận 5, TP Hồ Chí Minh). Trong cuộc gặp gỡ ấy, nhân nói đến cuộc đổi mới đang diễn ra trong thơ Việt Nam, Nguyễn Đình Thi cho biết: năm 1946, ông có được đọc hai bài thơ Tố Hữu, một làm theo thể tự do với câu mở đầu “Đầu hắn mang mũ sắt” nhưng quên đầu đề và một thuộc thể tám chữ, hình như là Xuân tù nhưng không nhớ đăng trên báo nào.
Sau khi được biết điều này, tôi lần lượt gặp khá nhiều nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo, nhà báo và văn nghệ sĩ thuộc thế hệ cách mạng Tháng Tám để hỏi cho rõ nhưng kết quả vẫn là một số không.
Từ cuối năm 1992 đến cuối năm 1996, trong những chuyến đi nghiên cứu (tự túc kinh phí) tại Cần Thơ, Long An, Đà Lạt, Đà Nẵng, Huế, Tây Nguyên, v.v..., tôi đều dành thời gian cho việc tìm kiếm “tung tích” hai bài. Tại những địa phương ấy, tôi đã vào các thư viện tỉnh hoặc thành phố nhưng không tìm ra một đầu mối nào.

Chiều tối ngày 26 - 4 - 1997, tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng - Hà Nội, lần đầu tiên tôi được Tố Hữu, dù không khoẻ lắm, tiếp chuyện nồng nhiệt. Cuộc trò chuyện kéo dài suốt mấy tiếng đồng hồ.
Trong cuộc gặp, nhân nhắc đến bài thơ Mười năm mà Tố Hữu quên hẳn chính ông là tác giả, tôi hỏi Tố Hữu về hai bài thơ do Nguyễn Đình Thi kể lại như trên. Tố Hữu trả lời ông chỉ nhớ mang máng một bài tên Xuân tù và bài kia tên Khuya nặng nhưng không rõ lâu nay chúng “lưu lạc” nơi đâu.
Mấy hôm sau, từ Hà Nội, trên đường trở lại TP Hồ Chí Minh, tôi ghé qua Huế một lần nữa. Tại đây, trong một hiệu sách cũ, tôi tình cờ được gặp một cựu chiến binh thời kháng chiến chống Pháp rất yêu những bài thơ Tố Hữu làm từ đầu cuộc kháng chiến toàn quốc (tháng 12 - 1946) trở về trước. Vị cựu chiến binh cho biết ông đã được đọc bài thơ Khuya nặng. Bài này, theo ông nhớ, vẽ lại hình ảnh thảm hại của một tên lính canh là người Pháp hoặc lê dương. Vị cựu chiến binh cũng nói thêm: sổ tay của ông có chép bài này nhưng từ lâu đã bị thất lạc. Còn bài Xuân tù, ông chưa bao giờ được đọc, chưa bao giờ được nghe tên.

Rời Huế, tôi ghé qua Đà Nẵng sau mấy năm xa cách. Tại một số cửa hàng sách cũ của thành phố sông Hàn, tôi tìm những tài liệu liên quan đến thơ Tố Hữu nhưng cũng không được biết gì về Khuya nặngXuân tù.
Giữa tháng 5 - 1997, trở về TP Hồ Chí Minh, tôi đến gặp ngay một trong những chủ tiệm sách báo cũ mà mình quen để hỏi về vấn đề này. Chủ tiệm đã từng tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1974 (theo lời anh tự giới thiệu với tôi từ khi tôi mới biết tiệm của anh nhiều năm trước). Anh trả lời: gay quá nhưng em sẽ hết sức tìm kiếm hoặc “huy động” các đồng nghiệp giúp bác.
Cuối năm 1998, chủ tiệm nói trên giới thiệu cho tôi một người chuyên buôn bán sách báo cũ về thơ. Người này cho tôi xem mấy bản danh mục thơ Tố Hữu. Tôi xem nhưng không thấy Xuân tùKhuya nặng!
Tháng Giêng - 2001, trong một hội thảo kéo dài suốt một ngày về mấy vấn đề văn hoá dân tộc tổ chức tại tầng hai (tức lầu một) Nhà Khách dinh Thống Nhất (đường Nguyễn Du, TP Hồ Chí Minh), tôi thấy Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi và Huy Cận cùng ngồi trên Đoàn Chủ tịch với một vài người khác. Cả ba nhà thơ đều béo mập hơn những năm trước một chút nhưng bước đi hơi chậm, gương mặt hơi xệ kèm theo nhiều nếp nhăn hiện rõ vẻ già yếu, nhất là Tố Hữu. Tuy nhiên, trên Đoàn Chủ tịch, cả ba ông đều ngồi dự suốt cả hai buổi sáng chiều.

Nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân là một trong những khách mời của hội thảo. Anh đưa cho tôi chiếc máy ảnh của anh và nhờ tôi chụp hình anh khi anh đọc tham luận. Tôi đã làm đúng ý của Nguyễn Đắc Xuân.
Tối hôm đó, trong bữa tiệc đứng của hội thảo (vắng mặt Nguyễn Đình Thi và Huy Cận), tôi thấy Tố Hữu, mặc dầu không được khoẻ và mặc dầu đã làm việc suốt sáng và chiều, vẫn có mặt từ đầu đến cuối bữa tiệc.
Vì giờ giải lao buổi sáng, tôi đã chào Tố Hữu và nhắc lại cuộc phỏng vấn của mình tại Hà Nội hồi cuối tháng 4 - 1997 cho nên khi thấy tôi trong phòng tiệc đứng, Tố Hữu ngồi xuống một chiếc ghế nhỏ cách bàn tiệc khoảng hơn một mét và bảo tôi ngồi xuống chiếc ghế nhỏ bên cạnh.
Khoảng nửa tiếng, vừa ăn qua loa mấy món nhẹ, Tố Hữu vừa thân mật trò chuyện với tôi. Tôi trình bày với nhà thơ mấy vấn đề trong đó có việc tôi viết một cuốn sách nghiên cứu thơ ông và việc lâu nay đi tìm Khuya nặng và Xuân tù nhưng chưa thấy.

Ông bảo: Anh nhiệt tình với thơ tôi quá; bao giờ tìm ra, nhớ cho mình biết. Rồi Tố Hữu nhắc nhở: Hãy cố gắng nghiên cứu nhân vật lịch sử Võ Nguyên Giáp theo hướng tôi đã phát biểu với anh năm 1997. Cố gắng nhé! Khó! Khó lắm! Nhưng phải vượt khó! Khi nghiên cứu, cần luôn luôn nhớ rằng: anh Văn là một vẻ đẹp lung linh về tư tưởng, về phẩm chất và về sự nghiệp. Khi nào có dịp gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh cứ nói: anh Lành chưa bao giờ hiểu khác về anh Văn dù chỉ một phút giây!
Tôi nhận rõ Tố Hữu có điều gì muốn nhắn gửi tới Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Vừa nói với tôi, Tố Hữu vừa nắm bàn tay phải của tôi bằng bàn tay trái của ông.
Lúc này, một thanh niên từ bên bàn tiệc đến gần Tố Hữu và hỏi về thơ ông. Ông vui vẻ trả lời. Tôi vội đứng lên xin phép nhà thơ cho tôi được nhường chỗ cho người bạn trẻ.

Nửa tiếng sau, khoảng 20 giờ rưỡi, cuối bữa tiệc đứng, Tố Hữu ra về. Tác giả Nước non ngàn dặm đi chầm chậm. Tôi và mấy người nữa cùng tiễn chân ông tới chiếc ô tô đen đậu sẵn ngoài sân. Một người nào đó mở cửa xe. Nhà thơ lên xe, giơ tay vẫy chào tạm biệt. Chiếc ô tô hướng ra cổng, phía đường Nguyễn Du, từ từ chuyển bánh...
Hơn một năm sau buổi tối đầu năm 2001 đó, năm 2002, anh Lành mãi mãi ra đi! Đó là lần cuối cùng tôi được gặp Tố Hữu!
Cuối năm 2001, tại TP Hồ Chí Minh, tôi đến gặp anh chủ tiệm nói trên và hỏi về việc tìm kiếm hai bài thơ. Anh lắc đầu: em vẫn chưa giải quyết được yêu cầu quá cao của bác!
Chính hôm ấy, tôi có cuộc phỏng vấn một cựu chiến binh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Vị lão tướng cựu chiến binh cho biết: ông còn giữ một cuốn sổ tay ghi thơ của Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Tố Hữu, Đoàn Phú Tứ cùng một số bài hát của Nguyễn Xuân Khoát, Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Lương Ngọc Trác, Dương Thiệu Tước, Hùng Lân và một số văn nghệ sĩ khác. Cuốn sổ, theo lời ông, ghi trong thời gian từ tháng 8 - 1945 đến cuối 1947. Vị tướng vào buồng trong, tự tay khênh ra một thùng thiếc nhỏ và lấy ra cuốn sổ (tuy cũ nhưng không trang nào bị rách). Ông cho tôi xem những trang chép Khuya nặngXuân tù. Nét mực nói chung đã phai mờ nhiều, hầu hết các dòng không đọc được. Thật đáng tiếc!!!
Vị lão tướng nói: tôi chép hai bài thơ này từ mấy số báo Quyết Thắng nhưng không nhớ là số nào, chỉ nhớ là Quyết Thắng năm 1946, thế thôi.
Rồi ông tiếp tục phát biểu cảm nghĩ của mình về Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Hôm sau, tôi đến gặp ngay chủ tiệm, nhờ anh tìm giúp báo Quyết Thắng 1946.
Sau đó mấy ngày, một buổi sáng đầu tháng Giêng - 2002, tôi lại đến cửa hàng. Chủ tiệm nhào tới siết chặt tay tôi và nói: đây, đây, Xuân tù và Khuya nặng!!!

Đi rất nhanh về phía cuối căn buồng toàn sách báo cũ, anh lấy ra cho tôi mấy trang phô-tô-cóp-py hai bài thơ đó kèm theo một tập Quyết Thắng đóng bìa cứng.
Tôi sung sướng nhìn rõ: Xuân tù in cuối trang 3 và trang 4 số Tết Bính Tuất 1946 báo Quyết Thắng (cơ quan của Việt Minh Trung Bộ). Còn Khuya nặng in đầu trang nhất Quyết Thắng, năm thứ hai, số 51, ra ngày 22-6-1946.
Tôi điện thoại luôn cho vị lão tướng nói trên. Ông chúc mừng tôi liên tiếp năm lần.
Nhớ tới lần phỏng vấn Nguyễn Đình Thi năm 1992, mười năm về trước, tôi lập tức điện thoại cho tác giả Con nai đen theo số điện thoại 51 Trần Hưng Đạo - Hà Nội. Đầu dây bên kia trả lời: bác Thi tuần này đi công tác vắng.
Buổi tối cùng ngày, tôi bấm số điện thoại của Tố Hữu nhiều lần nhưng lần nào cũng chỉ thấy vọng về những tiếng chuông reo.

Tràn đầy hào hứng, hôm sau, tôi và anh chủ tiệm tận tình, mỗi người một xe gắn máy, bay tới Nhà ăn Công đoàn TP Hồ Chí Minh (đường Bùi Thị Xuân, quận 1), một nhà ăn vừa ngon vừa không đắt.
Tôi chưa kịp gửi Xuân tùKhuya nặng tới Tố Hữu thì năm 2002, ông đột ngột qua đời!
Anh Lành thân mến, Mười năm những mấy ngàn ngày...
Sau mấy ngàn ngày, tôi đã tìm thấy Xuân tùKhuya nặng của anh...
TP Hồ Chí Minh, Xuân Quý Mùi 2003
Cố đô Thăng Long, Xuân Bính Tuất 2006

 N.H.K

TỐ HỮU

Xuân tù

Mời các bạn vui một ngày trọn vẹn,
Đây đến rồi, xuân tết của thiên nhiên,
Ngoài sân lao, trời đã thí nắng hiền,
Ra sưởi chút cho máu chuyền mạch nóng!

ờ ngộ quá! Hôm nay trong mả sống,
Những đoàn ma trọc lóc cũng vui xuân,
Khoác vai nhau lững thững bước quanh sân,
Môi cũng nở một hoa cười xanh rợn!
Sang trọng lắm, những con ma bé lớn
Hôm nay đều lễ phục đúng thời trang:
áo chàm phai, thẳng nếp, cánh hai gang,
Quần đóng hộp, đàng hoàng chuôi quá gối.

Đây một lũ quây tròn quanh gốc gội
Như đàn con sum họp một gia đình,
Những chàng trai nhí nhảnh nghịch như...tinh
Chắp tay vái các bố già chúc...thọ!
Và các bố nheo mắt cười, nhún cổ,
Vuốt râu vàng, mừng tuổi lũ con...yêu

ở đàng kia, trơ tráo một phường chèo,
Mặt rằn rện những lọ nồi, son đá,
Hoa tay múa, đi một bài "tẩu mã",
Xoe mắt rồng giả một tướng Phiên bang,
Hét "ba quân" tưởng tượng ra sa tràng
Tay giục trống trên một...thùng gỗ rỗng!
Có thằng nhỏ, một mình đi bước mộng
Làm thi nhân theo hái một vần thơ,
Cảm vui xuân trong nắng mới, chim tơ
Dừng chân lại, ngâm một bài "xuân ý".
1940
(Báo Quyết Thắng, cơ quan của Việt Minh Trung Bộ, số Xuân Bính Tuất 1946,  trang 3 và trang 4)

Khuya nặng
                                   
Tặng người tri kỷ

Đầu hắn mang mũ sắt,
Vai hắn vác liên thanh,
Sỏi lăn từng cục trong mí mắt,
Mệt. Ngó dài ghê một phút canh!
Trong bóng cây khuya nặng,
Đít dựa lan can.
Hắn buồn tình, tréo cẳng,
Đứng lặng, nhìn sang
                                    Một thiên đàng
                                                Ôi Chúa!
Nhạc hồng nổi dậy trong nghiêng ngửa,
Những cánh tay diu, trịu ái ân.
Tóc xoã mây vàng mơn cổ sữa,
Bạc viền lấp lánh vai tướng quân...
                        Ai đó say đêm xuân
                                    Rượu tràn cốc.
                                    Môi tràn tình:
Đây một mình ai, đứng lặng thinh,
Trong bóng cây khuya nặng,
Nghe gan ứa lên một dòng mật đắng,
                        Và lửa gì
            Đốt cháy cả đôi mi,
            Tim, một cục chì...
Đêm 30-5-1946
(Báo Quyết Thắng, cơ quan của Việt Minh Trung Bộ, năm thứ hai, số 51, ra ngày 22-6-1946, trang nhất)


 

(nguồn: TCSH số 208 - 06 - 2006)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)

  • PHAN TÂM        (Kỷ niệm 240 năm sinh thi hào Nguyễn Du 1765-2005)Tháng Hai 1994:Từ Vinh qua cầu Bến Thủy, rẽ trái độ mười cây nữa, đến xã Xuân Tiên (Tiên Điền), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.Khu đất cao ráo ở ngay đầu xã, bên bờ sông Lam, cạnh bến Giang Đình, là khu nhà cũ, khu lưu niệm Nguyễn Du.

  • LTS: Phát hành tới hàng trăm ngàn bản, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là cuốn sách duy nhất (có thể nói như vậy) gây được xúc động cho các thế hệ độc giả trong và sau chiến tranh, cho cả hai phía xâm lược và chống xâm lược nhờ tính chân thực của nó.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số trang trong cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và hai bài viết liên quan đến cuốn sách

  • NGUYỄN QUANG HÀ                        Truyện kýHoà thượng Thích Đôn Hậu gọi đại đức Thích Trí Diệm lên phòng riêng:- Ta đang mắc công chuyện không thể xa Huế được trong thời gian này, nên ta cử thầy vào chùa Hải Đức, Nha Trang tham gia cuộc thuyết pháp quan trọng tại đó. Thầy đi được chớ?Đại đức Thích Trí Diệm cúi đầu thưa:- Dạ, được ạ.

  • VĨNH NGUYÊN                Truyện kýSau “vụ” gặp em, tôi băn khoăn lắm lắm. Là bởi trước đó - trước quả rốc-két mà chiếc F4H phóng xuống và em bị thương dưới đùi, em đang chờ tháo dây thuyền ở hốc đá, còn tôi thì giữ lấy ống ti-dô cho nước vào hai cái thùng phuy trên thuyền cho em. Hai chiếc thùng phuy 400 lít nước sắp tràn đầy. Như vậy là quá đủ thời gian cho chúng ta có thể hiểu biết về nhau, tên tuổi, quê hương bản quán.

  • ĐẶNG VĂN SỞ          Ghi chépKhông hiểu sao tôi lại đi tìm anh - anh Nguyễn Đức Thuận - người anh chú bác ruột cùng chung sống dưới một mái nhà với tôi. Tôi chỉ nhớ là hồi đó chồng của cô tôi nằm mơ thấy anh, và bác vào tận Nha Trang để đi tìm anh Mậu, người đồng đội và là người chứng kiến lúc chôn cất anh.

  • NGUYỄN QUANG HÀMột buổi sáng vợ chồng anh Thảo, chị Ái đang đèo nhau, phóng xe Honda trên đường Nguyễn Trãi, một con đường lớn của thành phố Huế, bỗng có một người lao thẳng vào xe anh Thảo. Nhờ tay lái thiện nghệ, nên anh Thảo đã phanh xe kịp. Hai vợ chồng dựng xe, ra đỡ nạn nhân dậy.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGBút kýAnh đã xứng đáng với danh hiệu "Nghệ sĩ Nhân dân" của nhà nước ta phong tặng. Riêng Hội Nghệ sĩ điện ảnh Nhật Bản đã tặng cho anh giải thưởng vẻ vang dành cho người nghệ sĩ thuật lại sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh...

  • ĐÀO XUÂN QUÝĐã lâu lắm, có đến hơn hai năm, kể từ khi bị tai nạn ở chân tôi chưa đi vào các hiệu sách, kể cả các hiệu sách ở Nha Trang. Đi tới các hiệu sách thì xa quá, đi bộ thì không đi nổi, mệt và nóng lắm, mà đi xe thuê thì cũng khó, vì họ không phải chỉ đưa mình tới nơi mà còn phải đợi hàng giờ khi mình phải tìm chọn sách nơi này nơi nọ, quầy này quầy khác v.v...

  • NGUYỄN THANH CHÍHai mươi tám tuổi, nó không biết chữ và không quen đi dép, mặc áo quần dài; lầm lũi, ít nói nhưng rất khoẻ mạnh... Với nó rừng là nhà, các lối mòn trong rừng thì thuộc như lòng bàn tay... Đó là Trương Ngọc Hoàng, sinh năm 1977.

  • NGUYỄN TRỌNG BÍNHMọi chuyện xẩy ra suốt 55 ngày đêm ở đơn vị trong cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi đều nhớ như in. Thế mà, lạ lùng thay, suốt thời gian đó, hàng ngày mình ăn thế nào, lại không nhớ nổi. Chỉ nhớ mang máng có lúc ăn cơm nắm, ăn lương khô. Về giấc ngủ, có thể là tranh thủ nửa ngủ nửa thức giữa 2 trận đánh hoặc lúc ngồi trên xe trong đội hình hành tiến. Cố hình dung, tôi nhớ được bữa cơm chiều ở dinh Độc Lập, hôm 30-4-1975.

  • NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.

  • HUỲNH KIM PHONG(Chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2005)

  • LÊ HOÀNG HẢICon người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt... Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nhìn sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm cứ nghĩ khó mà bơi sang sông được. Mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học ngày càng khám phá không gian, vũ trụ thì chạm đến cõi vô cùng.

  • HỒ NGỌC PHÚTôi về lại Huế sau trận lụt tuy muộn nhưng khá lớn vào gần cuối tháng 12 năm 2004. Ngồi ở quán cà phê Sơn bên bờ chân cầu Trường Tiền, nhìn sông Hương vào lúc sáng sớm sao thấy khang khác, trong có vẻ như sáng hơn ngày thường.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.

  • NGUYỄN THẾ QUANG(Chuyện tình chưa kể của nhà thơ Hoàng Cầm)

  • VÕ NGỌC LANTôi sinh ra và lớn lên tại vùng Kim Long, một làng nhỏ thuộc vùng cận sơn, không xa Huế là bao. Bởi thuở nhỏ chỉ loanh quanh trong nhà, trong làng ít khi được “đi phố” nên đối với tôi, Huế là một cái gì thật xa cách, thật lạ lùng. Đến nỗi tôi có ý nghĩ buồn cười: “Huế là của người ta, của ai đó, chứ không phải là Huế của tôi”, ngôi chợ mái trường, một khoảng sông xanh ngắt và tiếng chuông chùa Linh Mụ... mấy thứ ấy mới là của tôi.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhân một lần ghé ngang Paris , võ sư người Huế Nguyễn Văn Dũng đã đi thăm sông Seine. Đứng lặng lẽ bên dòng sông thơ mộng bậc nhất nước Pháp, bỗng lòng ông nhớ sông Hương quá trời. Về lại Việt , ngồi bên bờ sông Hương, ông vẫn hãy còn thấy nhớ cồn cào cái dòng chảy thầm thì trong sương mù như một nhát cắt ngọt ngào giữa trái tim đa cảm.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGTôi rẽ vào nhà Thiệp để đưa bé Miên Thảo đi học. Cô bé hét vang nhà để bắt tìm cho ra chiếc dép đi trời mưa lạc nơi đâu không biết. Miên Thảo mặc chiếc quần Jean xanh và khoác áo len đỏ, choàng một chiếc phu la cổ màu đen trông thật đỏm dáng.