Mười năm đi tìm hai bài thơ “Khuya nặng” và “Xuân tù” của Tố Hữu

15:25 09/12/2008
NHẬT HOA KHANH Mười năm những mấy ngàn ngày... (Tố Hữu: Mười năm )

Năm 1992, lần đầu tiên tôi được nhà văn Nguyễn Đình Thi trả lời phỏng vấn. Cuộc gặp diễn ra tại một căn hộ trên tầng lầu, tôi không nhớ là tầng mấy, của một khu tập thể khá lớn đường Hải Thượng Lãn Ông (quận 5, TP Hồ Chí Minh). Trong cuộc gặp gỡ ấy, nhân nói đến cuộc đổi mới đang diễn ra trong thơ Việt Nam, Nguyễn Đình Thi cho biết: năm 1946, ông có được đọc hai bài thơ Tố Hữu, một làm theo thể tự do với câu mở đầu “Đầu hắn mang mũ sắt” nhưng quên đầu đề và một thuộc thể tám chữ, hình như là Xuân tù nhưng không nhớ đăng trên báo nào.
Sau khi được biết điều này, tôi lần lượt gặp khá nhiều nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo, nhà báo và văn nghệ sĩ thuộc thế hệ cách mạng Tháng Tám để hỏi cho rõ nhưng kết quả vẫn là một số không.
Từ cuối năm 1992 đến cuối năm 1996, trong những chuyến đi nghiên cứu (tự túc kinh phí) tại Cần Thơ, Long An, Đà Lạt, Đà Nẵng, Huế, Tây Nguyên, v.v..., tôi đều dành thời gian cho việc tìm kiếm “tung tích” hai bài. Tại những địa phương ấy, tôi đã vào các thư viện tỉnh hoặc thành phố nhưng không tìm ra một đầu mối nào.

Chiều tối ngày 26 - 4 - 1997, tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng - Hà Nội, lần đầu tiên tôi được Tố Hữu, dù không khoẻ lắm, tiếp chuyện nồng nhiệt. Cuộc trò chuyện kéo dài suốt mấy tiếng đồng hồ.
Trong cuộc gặp, nhân nhắc đến bài thơ Mười năm mà Tố Hữu quên hẳn chính ông là tác giả, tôi hỏi Tố Hữu về hai bài thơ do Nguyễn Đình Thi kể lại như trên. Tố Hữu trả lời ông chỉ nhớ mang máng một bài tên Xuân tù và bài kia tên Khuya nặng nhưng không rõ lâu nay chúng “lưu lạc” nơi đâu.
Mấy hôm sau, từ Hà Nội, trên đường trở lại TP Hồ Chí Minh, tôi ghé qua Huế một lần nữa. Tại đây, trong một hiệu sách cũ, tôi tình cờ được gặp một cựu chiến binh thời kháng chiến chống Pháp rất yêu những bài thơ Tố Hữu làm từ đầu cuộc kháng chiến toàn quốc (tháng 12 - 1946) trở về trước. Vị cựu chiến binh cho biết ông đã được đọc bài thơ Khuya nặng. Bài này, theo ông nhớ, vẽ lại hình ảnh thảm hại của một tên lính canh là người Pháp hoặc lê dương. Vị cựu chiến binh cũng nói thêm: sổ tay của ông có chép bài này nhưng từ lâu đã bị thất lạc. Còn bài Xuân tù, ông chưa bao giờ được đọc, chưa bao giờ được nghe tên.

Rời Huế, tôi ghé qua Đà Nẵng sau mấy năm xa cách. Tại một số cửa hàng sách cũ của thành phố sông Hàn, tôi tìm những tài liệu liên quan đến thơ Tố Hữu nhưng cũng không được biết gì về Khuya nặngXuân tù.
Giữa tháng 5 - 1997, trở về TP Hồ Chí Minh, tôi đến gặp ngay một trong những chủ tiệm sách báo cũ mà mình quen để hỏi về vấn đề này. Chủ tiệm đã từng tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1974 (theo lời anh tự giới thiệu với tôi từ khi tôi mới biết tiệm của anh nhiều năm trước). Anh trả lời: gay quá nhưng em sẽ hết sức tìm kiếm hoặc “huy động” các đồng nghiệp giúp bác.
Cuối năm 1998, chủ tiệm nói trên giới thiệu cho tôi một người chuyên buôn bán sách báo cũ về thơ. Người này cho tôi xem mấy bản danh mục thơ Tố Hữu. Tôi xem nhưng không thấy Xuân tùKhuya nặng!
Tháng Giêng - 2001, trong một hội thảo kéo dài suốt một ngày về mấy vấn đề văn hoá dân tộc tổ chức tại tầng hai (tức lầu một) Nhà Khách dinh Thống Nhất (đường Nguyễn Du, TP Hồ Chí Minh), tôi thấy Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi và Huy Cận cùng ngồi trên Đoàn Chủ tịch với một vài người khác. Cả ba nhà thơ đều béo mập hơn những năm trước một chút nhưng bước đi hơi chậm, gương mặt hơi xệ kèm theo nhiều nếp nhăn hiện rõ vẻ già yếu, nhất là Tố Hữu. Tuy nhiên, trên Đoàn Chủ tịch, cả ba ông đều ngồi dự suốt cả hai buổi sáng chiều.

Nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân là một trong những khách mời của hội thảo. Anh đưa cho tôi chiếc máy ảnh của anh và nhờ tôi chụp hình anh khi anh đọc tham luận. Tôi đã làm đúng ý của Nguyễn Đắc Xuân.
Tối hôm đó, trong bữa tiệc đứng của hội thảo (vắng mặt Nguyễn Đình Thi và Huy Cận), tôi thấy Tố Hữu, mặc dầu không được khoẻ và mặc dầu đã làm việc suốt sáng và chiều, vẫn có mặt từ đầu đến cuối bữa tiệc.
Vì giờ giải lao buổi sáng, tôi đã chào Tố Hữu và nhắc lại cuộc phỏng vấn của mình tại Hà Nội hồi cuối tháng 4 - 1997 cho nên khi thấy tôi trong phòng tiệc đứng, Tố Hữu ngồi xuống một chiếc ghế nhỏ cách bàn tiệc khoảng hơn một mét và bảo tôi ngồi xuống chiếc ghế nhỏ bên cạnh.
Khoảng nửa tiếng, vừa ăn qua loa mấy món nhẹ, Tố Hữu vừa thân mật trò chuyện với tôi. Tôi trình bày với nhà thơ mấy vấn đề trong đó có việc tôi viết một cuốn sách nghiên cứu thơ ông và việc lâu nay đi tìm Khuya nặng và Xuân tù nhưng chưa thấy.

Ông bảo: Anh nhiệt tình với thơ tôi quá; bao giờ tìm ra, nhớ cho mình biết. Rồi Tố Hữu nhắc nhở: Hãy cố gắng nghiên cứu nhân vật lịch sử Võ Nguyên Giáp theo hướng tôi đã phát biểu với anh năm 1997. Cố gắng nhé! Khó! Khó lắm! Nhưng phải vượt khó! Khi nghiên cứu, cần luôn luôn nhớ rằng: anh Văn là một vẻ đẹp lung linh về tư tưởng, về phẩm chất và về sự nghiệp. Khi nào có dịp gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh cứ nói: anh Lành chưa bao giờ hiểu khác về anh Văn dù chỉ một phút giây!
Tôi nhận rõ Tố Hữu có điều gì muốn nhắn gửi tới Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Vừa nói với tôi, Tố Hữu vừa nắm bàn tay phải của tôi bằng bàn tay trái của ông.
Lúc này, một thanh niên từ bên bàn tiệc đến gần Tố Hữu và hỏi về thơ ông. Ông vui vẻ trả lời. Tôi vội đứng lên xin phép nhà thơ cho tôi được nhường chỗ cho người bạn trẻ.

Nửa tiếng sau, khoảng 20 giờ rưỡi, cuối bữa tiệc đứng, Tố Hữu ra về. Tác giả Nước non ngàn dặm đi chầm chậm. Tôi và mấy người nữa cùng tiễn chân ông tới chiếc ô tô đen đậu sẵn ngoài sân. Một người nào đó mở cửa xe. Nhà thơ lên xe, giơ tay vẫy chào tạm biệt. Chiếc ô tô hướng ra cổng, phía đường Nguyễn Du, từ từ chuyển bánh...
Hơn một năm sau buổi tối đầu năm 2001 đó, năm 2002, anh Lành mãi mãi ra đi! Đó là lần cuối cùng tôi được gặp Tố Hữu!
Cuối năm 2001, tại TP Hồ Chí Minh, tôi đến gặp anh chủ tiệm nói trên và hỏi về việc tìm kiếm hai bài thơ. Anh lắc đầu: em vẫn chưa giải quyết được yêu cầu quá cao của bác!
Chính hôm ấy, tôi có cuộc phỏng vấn một cựu chiến binh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Vị lão tướng cựu chiến binh cho biết: ông còn giữ một cuốn sổ tay ghi thơ của Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Tố Hữu, Đoàn Phú Tứ cùng một số bài hát của Nguyễn Xuân Khoát, Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Lương Ngọc Trác, Dương Thiệu Tước, Hùng Lân và một số văn nghệ sĩ khác. Cuốn sổ, theo lời ông, ghi trong thời gian từ tháng 8 - 1945 đến cuối 1947. Vị tướng vào buồng trong, tự tay khênh ra một thùng thiếc nhỏ và lấy ra cuốn sổ (tuy cũ nhưng không trang nào bị rách). Ông cho tôi xem những trang chép Khuya nặngXuân tù. Nét mực nói chung đã phai mờ nhiều, hầu hết các dòng không đọc được. Thật đáng tiếc!!!
Vị lão tướng nói: tôi chép hai bài thơ này từ mấy số báo Quyết Thắng nhưng không nhớ là số nào, chỉ nhớ là Quyết Thắng năm 1946, thế thôi.
Rồi ông tiếp tục phát biểu cảm nghĩ của mình về Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Hôm sau, tôi đến gặp ngay chủ tiệm, nhờ anh tìm giúp báo Quyết Thắng 1946.
Sau đó mấy ngày, một buổi sáng đầu tháng Giêng - 2002, tôi lại đến cửa hàng. Chủ tiệm nhào tới siết chặt tay tôi và nói: đây, đây, Xuân tù và Khuya nặng!!!

Đi rất nhanh về phía cuối căn buồng toàn sách báo cũ, anh lấy ra cho tôi mấy trang phô-tô-cóp-py hai bài thơ đó kèm theo một tập Quyết Thắng đóng bìa cứng.
Tôi sung sướng nhìn rõ: Xuân tù in cuối trang 3 và trang 4 số Tết Bính Tuất 1946 báo Quyết Thắng (cơ quan của Việt Minh Trung Bộ). Còn Khuya nặng in đầu trang nhất Quyết Thắng, năm thứ hai, số 51, ra ngày 22-6-1946.
Tôi điện thoại luôn cho vị lão tướng nói trên. Ông chúc mừng tôi liên tiếp năm lần.
Nhớ tới lần phỏng vấn Nguyễn Đình Thi năm 1992, mười năm về trước, tôi lập tức điện thoại cho tác giả Con nai đen theo số điện thoại 51 Trần Hưng Đạo - Hà Nội. Đầu dây bên kia trả lời: bác Thi tuần này đi công tác vắng.
Buổi tối cùng ngày, tôi bấm số điện thoại của Tố Hữu nhiều lần nhưng lần nào cũng chỉ thấy vọng về những tiếng chuông reo.

Tràn đầy hào hứng, hôm sau, tôi và anh chủ tiệm tận tình, mỗi người một xe gắn máy, bay tới Nhà ăn Công đoàn TP Hồ Chí Minh (đường Bùi Thị Xuân, quận 1), một nhà ăn vừa ngon vừa không đắt.
Tôi chưa kịp gửi Xuân tùKhuya nặng tới Tố Hữu thì năm 2002, ông đột ngột qua đời!
Anh Lành thân mến, Mười năm những mấy ngàn ngày...
Sau mấy ngàn ngày, tôi đã tìm thấy Xuân tùKhuya nặng của anh...
TP Hồ Chí Minh, Xuân Quý Mùi 2003
Cố đô Thăng Long, Xuân Bính Tuất 2006

 N.H.K

TỐ HỮU

Xuân tù

Mời các bạn vui một ngày trọn vẹn,
Đây đến rồi, xuân tết của thiên nhiên,
Ngoài sân lao, trời đã thí nắng hiền,
Ra sưởi chút cho máu chuyền mạch nóng!

ờ ngộ quá! Hôm nay trong mả sống,
Những đoàn ma trọc lóc cũng vui xuân,
Khoác vai nhau lững thững bước quanh sân,
Môi cũng nở một hoa cười xanh rợn!
Sang trọng lắm, những con ma bé lớn
Hôm nay đều lễ phục đúng thời trang:
áo chàm phai, thẳng nếp, cánh hai gang,
Quần đóng hộp, đàng hoàng chuôi quá gối.

Đây một lũ quây tròn quanh gốc gội
Như đàn con sum họp một gia đình,
Những chàng trai nhí nhảnh nghịch như...tinh
Chắp tay vái các bố già chúc...thọ!
Và các bố nheo mắt cười, nhún cổ,
Vuốt râu vàng, mừng tuổi lũ con...yêu

ở đàng kia, trơ tráo một phường chèo,
Mặt rằn rện những lọ nồi, son đá,
Hoa tay múa, đi một bài "tẩu mã",
Xoe mắt rồng giả một tướng Phiên bang,
Hét "ba quân" tưởng tượng ra sa tràng
Tay giục trống trên một...thùng gỗ rỗng!
Có thằng nhỏ, một mình đi bước mộng
Làm thi nhân theo hái một vần thơ,
Cảm vui xuân trong nắng mới, chim tơ
Dừng chân lại, ngâm một bài "xuân ý".
1940
(Báo Quyết Thắng, cơ quan của Việt Minh Trung Bộ, số Xuân Bính Tuất 1946,  trang 3 và trang 4)

Khuya nặng
                                   
Tặng người tri kỷ

Đầu hắn mang mũ sắt,
Vai hắn vác liên thanh,
Sỏi lăn từng cục trong mí mắt,
Mệt. Ngó dài ghê một phút canh!
Trong bóng cây khuya nặng,
Đít dựa lan can.
Hắn buồn tình, tréo cẳng,
Đứng lặng, nhìn sang
                                    Một thiên đàng
                                                Ôi Chúa!
Nhạc hồng nổi dậy trong nghiêng ngửa,
Những cánh tay diu, trịu ái ân.
Tóc xoã mây vàng mơn cổ sữa,
Bạc viền lấp lánh vai tướng quân...
                        Ai đó say đêm xuân
                                    Rượu tràn cốc.
                                    Môi tràn tình:
Đây một mình ai, đứng lặng thinh,
Trong bóng cây khuya nặng,
Nghe gan ứa lên một dòng mật đắng,
                        Và lửa gì
            Đốt cháy cả đôi mi,
            Tim, một cục chì...
Đêm 30-5-1946
(Báo Quyết Thắng, cơ quan của Việt Minh Trung Bộ, năm thứ hai, số 51, ra ngày 22-6-1946, trang nhất)


 

(nguồn: TCSH số 208 - 06 - 2006)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TRUNG SƠNTrong số những con vật gần gũi với con người, con mèo không đứng vị trí thứ nhất thì cũng nhì. Chỉ riêng việc chú mèo có đặc quyền thỉnh thoảng "chung chăn" với con người lúc trời mưa rét cũng đủ để xếp chú đứng ở thứ bậc cao trong mối quan hệ với con người. Cũng vì vậy, trong thành ngữ và tục ngữ có nhiều câu nói đến con mèo ngẫm ra khá thú vị.

  • ĐOÀN MINH TUẤN                     Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.

  • NGUYỄN QUANG HÀHầu như mỗi chúng ta chỉ biết Mai Xuân Hòa là nhạc sĩ. Anh đã ra mắt hai tập nhạc viết cho người lớn: "Nỗi đợi chờ", "Khát vọng",và hai tập cho thiếu nhi: " Những điều em thích", " Những ngôi sao đẹp".

  • PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.