Lý luận văn học Việt Nam từ điểm nhìn toàn cầu hóa: nhìn lại, suy ngẫm và dự phóng

08:35 20/05/2009
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

I.2. Nền văn hóa mạng internet là phương tiện và cũng là “làn sóng văn minh thứ ba” làm cho lý luận văn học trở nên toàn cầu hóa này. Qua mạng, người ta tò mò, “bị sốc” vì cái khác mình, nhưng cũng từ đó kích thích sự tìm hiểu, nhận thức và cũng từ đó tự nhìn lại lý luận của mình. Một cú nhấp chuột mở ra một thế giới mới về lý luận văn học, biết thêm một ngoại ngữ mở ra một chân trời.

I.3. Toàn cầu hóa về kinh tế thúc đẩy sự giao lưu, tiếp biến, đối thoại trong văn hóa nói chung và trong lĩnh vực lý luận văn học nói riêng. Quốc gia nào, khu vực nào hội nhập sâu vào kinh tế, ắt cũng hội nhập sâu vào văn hóa và văn học. Ngoại ngữ và dịch thuật là những kênh tạo nên động lực của sự hiện đại hóa lý luận văn học.

II. Lý luận văn học Châu Âu và Bắc Mỹ - Tính chủ đạo, hệ quy chiếu tất yếu đối với LLVH thế giới:

Lý luận văn học Châu Âu và Bắc Mỹ ở thế kỉ vừa qua và những năm đầu XXI đạt được thành tựu lớn nhất trong tiến trình lịch sử của lĩnh vực khoa học này. Nó thực hiện các cuộc cách mạng trong lĩnh vực với sự đa dạng, phong phú các khuynh hướng, các trường phái, đề cập, tiếp cận mọi bình diện của văn học. Có thể nói ở phương Tây không chỉ có một thứ lí luận văn học đơn nhất, mà nhiều thứ lý luận văn học gắn với các quan điểm khác nhau. Có sự đa nguyên của Lý luận văn học, hoặc có thể nói các vấn đề của Lý luận văn học được nhìn từ đa quan điểm. Các quan điểm, các góc nhìn, các khuynh hướng này làm cho các vấn đề, các bình diện văn học hiện ra phức tạp hơn, nhưng cũng toàn diện hơn, đúng với bản chất của văn học hơn. Có thể nói các quan điểm, các khuynh hướng này đang đối thoại, tương tác, thâm nhập lẫn nhau, làm phong phú cho nhau. Thành tựu và những đặc trưng của lý luận phê bình Châu Âu và Bắc Mỹ đã và đang trở thành một khung quy chiếu tất yếu đối với các quốc gia và khu vực khác, khung quy chiếu này như tiêu chí để đảm bảo sự hiện đại hóa lý luận của các quốc gia khác mà hai trường hợp lý luận Trung Quốc và Nga là hai trường hợp tiêu biểu.

III. Lý luận văn học Trung Quốc và Nga hiện đại:

III.1. Lý luận văn học của hai quốc gia này trước đây vài thập niên đang còn ở trong thế biệt lập, khép kín nay đã vươn rộng, vươn xa, vươn sâu vào lý luận thế giới. Có một nỗ lực học hỏi tiếp biến phi thường bằng dịch thuật, tổng thuật, nghiên cứu các thành tựu lý luận Phương tây thuộc cộng đồng các nhà khoa học của lĩnh vực ở hai quốc gia này với những lăng kính riêng của họ nhằm xây dựng lý luận văn học hiện đại, kiểu Trung Quốc, kiểu Nga, cho nên việc tổng kết chúng sẽ tạo được bài học kinh nghiệm quý báu cho lý luận Văn học Việt Nam, nó vừa là “bộ lọc” giúp chúng ta đỡ lạc lối, đỡ mất thì giờ, nhanh chóng tìm được những đường nét lớn để đi.

III.2. Lý luận văn học Nga có 3 di sản lớn mà thế giới nể trọng và chúng ta cần khai thác, đó là Lý luận của trường phái “Hình thức chủ nghĩa Nga”, Lý luận văn học của Mikhaïl Bakhtine và nhóm của ông, Lý luận văn học theo khuynh hướng ký hiệu họclý thuyết thông tin của trường phái Tartou mà đại diện là I.Lotmann. Trong đó, chúng ta cần có những chuyên luận thật sâu về lý luận của Bakhtine, đặc biệt là xem lý thuyết về “tính đối thoại” của ông như là nguyên tắc để xử lý các lý thuyết văn học của Phương Tây.

III.3. Lý luận văn học hiện đại Trung Quốc có thể cung cấp những bài học, những mô hình cho chúng ta về sự tiếp thu thành tựu của lý luận đa dạng của thế giới trong tính đối thoại với các nguyên tắc của một chủ nghĩa Marx linh hoạt, uyển chuyển, cũng như khai thác lại di sản lý luận cổ điển Trung Quốc dưới góc nhìn hiện đại hoá.

IV. Lý luận văn học từ thời kỳ đổi mới của Việt Nam:

Lý luận văn học từ thời kỳ đổi mới của Việt cũng đang ở trong xu thế vận động của toàn cầu hóa, thế giới hóa, nó đang chứng tỏ sự hội nhập sâu của mình. Sự nhạy bén và khao khát cái mới cũng là một đặc điểm của giới khoa học, giới nghiên cứu và giảng dạy ở nước ta. “Chủ nghĩa hiện đại” và “chủ nghĩa hậu hiện đại”, “Thi pháp học”, “Tự sự học” (Trần thuật học), “lý thuyết Tiếp nhận”, “Văn học so sánh”, “Văn học huyễn tưởng, kỳ ảo”, “Phân tâm học-văn học”, “Lý luận về văn học nữ, cách viết nữ và nữ quyền”, “Văn hóa - văn học”... đang trở thành các “từ chìa khóa”, “từ then chốt”. Các lĩnh vực này đang thu hút cộng đồng nghiên cứu. Các bài viết nghiên cứu, phê bình gắn với các khái niệm và các lĩnh vực nói trên càng ngày càng nhiều, càng có chất lượng và càng hay hơn. Có thể nói lý luận văn học Việt đang cố vươn lên để định vị mình chung quanh mặt bằng trung bình của lý luận thế giới. Tuy nhiên có thể nói chúng ta tiếp biến chưa sâu, chưa tạo được nền tảng vững chắc để hiểu và tiêu hoá lý luận của thế giới. Chúng ta còn chưa có một kế hoạch dài hạn để dịch, giới thiệu sâu rộng lý luận của thế giới để tạo một bước chuyển mình khỏi tụt hậu một cách chắc chắn.

V. Về một nền lý luận văn học Việt Nam ở thế kỷ XXI:

V.1. Việc tổng kết 3 nền lý luận lớn của thế giới : Phương Tây hiện đại, Trung Quốc hiện đại, Nga hiện đại và việc nhìn lại lý luận văn học Việt Nam trong thời gian đổi mới vừa qua có tác dụng mở đường, dẫn đạo cho lý luận Việt Nam thế kỷ XXI vận động trong xu hướng toàn cầu hóa. Đó là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thời sự sâu sắc.

V.2. Trước mắt để xây dựng được một nền lý luận văn học Việt Nam thế kỷ XXI cần phải khởi động một kế hoạch dịch và giới thiệu sâu khoảng 100 cuốn sách lý luận văn học của thế giới, trong đó cần dành 50 cuốn cho Phương Tây và 50 cuốn cho Trung Quốc và Nga hiện đại. Các cuốn sách này phải bao quát các lĩnh vực mà chúng ta cần quan tâm: Tự sự học, Ký hiệu học, Văn học so sánh, Lý thuyết tiếp nhận, Phân tâm học, Văn hoá - Văn học... Đặc biệt cần đi sâu hơn về Ký hiệu học nơi mà lý luận của chúng ta chưa vươn tới một cách có chủ định. Việc dịch thuật, giới thiệu và tổ chức hội thảo các cuốn sách quan trọng cần được sự tài trợ của Nhà nước, các Đại sứ quán, các Tổng công ty, các doanh nhân...

V.3. Cần có một phương pháp luận xử lý để liên kết hàng chục, hàng trăm thứ lý luận rải rác, biệt lập của thế giới. Phương pháp luận đó dựa vào “nguyên tắc đối thoại” của Bakhtine, phép biện chứng của Hégel và Marx, nguyên tắc “đa hệ thống” của Itaman Even-Zoha. Và một hệ vấn đề theo chúng tôi cần được xử lý dưới đây.

- Đầu tiên chúng ta cần xử lý mối quan hệ giữa Théorie littéraire (Lý thuyết học văn chương) và Théories de la littérature (Những lý thuyết văn chương), tức là mối quan hệ kép giữa l’un và le multiple (le littéraire và la littérature, tức là “Lý luận nền tảng, bản thể” và “các lý luận bộ phận hoặc tổng thể dưới đa học thuyết” theo Marc Angelnot, Jean Besnière, Dowe Fokkema), hoặc La métathéorie (siêu lý thuyết văn chương) và Les théories de la littérature (Những lý thuyết văn chương, theo Terry Eagleton), xác định một lý thuyết mang tính tổng thể bản thể luận về các lý thuyết và các lý thuyết có tính chất bộ phận và số nhiều.

- Sau đó chúng ta cần xử lý các mối quan hệ biện chứng giữa các “lý thuyết bên ngoài” và các “lý thuyết bên trong” (theo René Welled và Austin Warren). Các lý thuyết văn chương bên ngoài phải xuyên thấm “tính văn chương” của lý thuyết bên trong, ngược lại các lý thuyết bên trong vốn mang tính hình thức phải gắn kết với nội dung xã hội học, lịch sử và văn hoá để biến thành các kiểu sociopoétique (thi pháp xã hội học, theo Viala).

- Tiếp đến chúng ta cần liên kết các lý thuyết biểu hiện (expressive), các lý thuyết khách quan (objective), các lý thuyết mô phỏng (mimetic) và các lý thuyết thực dụng (pragmatic) (theo M.H.Abrams) với lý thuyết tiếp nhận của trường phái Constance và lý thuyết hồi ứng độc giả (Reader-reponse) của Mỹ thành một chỉnh thể hữu cơ xuyên thấu và có mối quan hệ biện chứng lồng vào nhau.

- Rồi chúng ta cần xử lý các lý thuyết normative (khởi đi từ chuẩn mực, quy phạm như của Lukacs và Adorno) và các lý thuyết descriptive (miêu tả khách quan thiên về quy nạp, theo Heide Göttner).

- Cuối cùng chúng ta cần xử lý các lý thuyết theo hệ hình lịch sử (kiểu Lanson đầu thế kỷ XX và trường phái lịch sử văn chương của R. Fayolle và H. Béhar cuối thế kỷ XX), mang tính “động”, và các lý thuyết sử dụng loại hình học (typologie, mang tính “tĩnh tại”) của các trường phái cấu trúc hình thức hoặc ký hiệu học cấu trúc nhân loại học của Pháp, tức là chúng ta tính đến tính biện chứng giữa loại hình và lịch sử, giữa tĩnh và động.

- Về lý thuyết “phản ánh luận” văn học của Lênin, chúng ta cần xử lý mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể sáng tạo gắn với tính thẩm mỹ và sự hư cấu mang cá tính sáng tạo của nhà văn. Cũng như chúng ta cần phối kết các lý thuyết phản ánh và các lý thuyết biểu trưng (symbol) đặc biệt của I.Lotmann trong mối quan hệ biện chứng lồng vào nhau.

V.4. Tóm lại, để xây dựng được một nền lý luận văn học Việt Nam không tụt hậu ở thế kỷ XXI, chúng ta cần xử lý trước hết phương pháp luận về các lý thuyết văn học một cách khoa học, và sau đó ngoài việc dịch thuật giới thiệu thì cần có nhiều chuyên luận sâu như của Huỳnh Như Phương về “chủ nghĩa hình thức”, Trương Đăng Dung về “văn bản và tác phẩm”, Phương Lựu về “chủ nghĩa Marx Phương Tây trong văn học”, Trần Đình Sử về “thi pháp học” và “tự sự học”, Đỗ Lai Thúy về “phân tâm học”, “văn hóa - văn học”, Trịnh Bá Đĩnh về “chủ nghĩa cấu trúc và văn học”, Nguyễn Văn Dân về “văn học so sánh”... và đồng thời cần dựng được bức tranh đa dạng về các lý thuyết văn học trong một chỉnh thể hữu cơ như là mối quan hệ biện chứng giữa “điểm” và “diện”.

BỬU NAM
(242/04-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.

  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.