Lý luận văn học Việt Nam từ điểm nhìn toàn cầu hóa: nhìn lại, suy ngẫm và dự phóng

08:35 20/05/2009
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

I.2. Nền văn hóa mạng internet là phương tiện và cũng là “làn sóng văn minh thứ ba” làm cho lý luận văn học trở nên toàn cầu hóa này. Qua mạng, người ta tò mò, “bị sốc” vì cái khác mình, nhưng cũng từ đó kích thích sự tìm hiểu, nhận thức và cũng từ đó tự nhìn lại lý luận của mình. Một cú nhấp chuột mở ra một thế giới mới về lý luận văn học, biết thêm một ngoại ngữ mở ra một chân trời.

I.3. Toàn cầu hóa về kinh tế thúc đẩy sự giao lưu, tiếp biến, đối thoại trong văn hóa nói chung và trong lĩnh vực lý luận văn học nói riêng. Quốc gia nào, khu vực nào hội nhập sâu vào kinh tế, ắt cũng hội nhập sâu vào văn hóa và văn học. Ngoại ngữ và dịch thuật là những kênh tạo nên động lực của sự hiện đại hóa lý luận văn học.

II. Lý luận văn học Châu Âu và Bắc Mỹ - Tính chủ đạo, hệ quy chiếu tất yếu đối với LLVH thế giới:

Lý luận văn học Châu Âu và Bắc Mỹ ở thế kỉ vừa qua và những năm đầu XXI đạt được thành tựu lớn nhất trong tiến trình lịch sử của lĩnh vực khoa học này. Nó thực hiện các cuộc cách mạng trong lĩnh vực với sự đa dạng, phong phú các khuynh hướng, các trường phái, đề cập, tiếp cận mọi bình diện của văn học. Có thể nói ở phương Tây không chỉ có một thứ lí luận văn học đơn nhất, mà nhiều thứ lý luận văn học gắn với các quan điểm khác nhau. Có sự đa nguyên của Lý luận văn học, hoặc có thể nói các vấn đề của Lý luận văn học được nhìn từ đa quan điểm. Các quan điểm, các góc nhìn, các khuynh hướng này làm cho các vấn đề, các bình diện văn học hiện ra phức tạp hơn, nhưng cũng toàn diện hơn, đúng với bản chất của văn học hơn. Có thể nói các quan điểm, các khuynh hướng này đang đối thoại, tương tác, thâm nhập lẫn nhau, làm phong phú cho nhau. Thành tựu và những đặc trưng của lý luận phê bình Châu Âu và Bắc Mỹ đã và đang trở thành một khung quy chiếu tất yếu đối với các quốc gia và khu vực khác, khung quy chiếu này như tiêu chí để đảm bảo sự hiện đại hóa lý luận của các quốc gia khác mà hai trường hợp lý luận Trung Quốc và Nga là hai trường hợp tiêu biểu.

III. Lý luận văn học Trung Quốc và Nga hiện đại:

III.1. Lý luận văn học của hai quốc gia này trước đây vài thập niên đang còn ở trong thế biệt lập, khép kín nay đã vươn rộng, vươn xa, vươn sâu vào lý luận thế giới. Có một nỗ lực học hỏi tiếp biến phi thường bằng dịch thuật, tổng thuật, nghiên cứu các thành tựu lý luận Phương tây thuộc cộng đồng các nhà khoa học của lĩnh vực ở hai quốc gia này với những lăng kính riêng của họ nhằm xây dựng lý luận văn học hiện đại, kiểu Trung Quốc, kiểu Nga, cho nên việc tổng kết chúng sẽ tạo được bài học kinh nghiệm quý báu cho lý luận Văn học Việt Nam, nó vừa là “bộ lọc” giúp chúng ta đỡ lạc lối, đỡ mất thì giờ, nhanh chóng tìm được những đường nét lớn để đi.

III.2. Lý luận văn học Nga có 3 di sản lớn mà thế giới nể trọng và chúng ta cần khai thác, đó là Lý luận của trường phái “Hình thức chủ nghĩa Nga”, Lý luận văn học của Mikhaïl Bakhtine và nhóm của ông, Lý luận văn học theo khuynh hướng ký hiệu họclý thuyết thông tin của trường phái Tartou mà đại diện là I.Lotmann. Trong đó, chúng ta cần có những chuyên luận thật sâu về lý luận của Bakhtine, đặc biệt là xem lý thuyết về “tính đối thoại” của ông như là nguyên tắc để xử lý các lý thuyết văn học của Phương Tây.

III.3. Lý luận văn học hiện đại Trung Quốc có thể cung cấp những bài học, những mô hình cho chúng ta về sự tiếp thu thành tựu của lý luận đa dạng của thế giới trong tính đối thoại với các nguyên tắc của một chủ nghĩa Marx linh hoạt, uyển chuyển, cũng như khai thác lại di sản lý luận cổ điển Trung Quốc dưới góc nhìn hiện đại hoá.

IV. Lý luận văn học từ thời kỳ đổi mới của Việt Nam:

Lý luận văn học từ thời kỳ đổi mới của Việt cũng đang ở trong xu thế vận động của toàn cầu hóa, thế giới hóa, nó đang chứng tỏ sự hội nhập sâu của mình. Sự nhạy bén và khao khát cái mới cũng là một đặc điểm của giới khoa học, giới nghiên cứu và giảng dạy ở nước ta. “Chủ nghĩa hiện đại” và “chủ nghĩa hậu hiện đại”, “Thi pháp học”, “Tự sự học” (Trần thuật học), “lý thuyết Tiếp nhận”, “Văn học so sánh”, “Văn học huyễn tưởng, kỳ ảo”, “Phân tâm học-văn học”, “Lý luận về văn học nữ, cách viết nữ và nữ quyền”, “Văn hóa - văn học”... đang trở thành các “từ chìa khóa”, “từ then chốt”. Các lĩnh vực này đang thu hút cộng đồng nghiên cứu. Các bài viết nghiên cứu, phê bình gắn với các khái niệm và các lĩnh vực nói trên càng ngày càng nhiều, càng có chất lượng và càng hay hơn. Có thể nói lý luận văn học Việt đang cố vươn lên để định vị mình chung quanh mặt bằng trung bình của lý luận thế giới. Tuy nhiên có thể nói chúng ta tiếp biến chưa sâu, chưa tạo được nền tảng vững chắc để hiểu và tiêu hoá lý luận của thế giới. Chúng ta còn chưa có một kế hoạch dài hạn để dịch, giới thiệu sâu rộng lý luận của thế giới để tạo một bước chuyển mình khỏi tụt hậu một cách chắc chắn.

V. Về một nền lý luận văn học Việt Nam ở thế kỷ XXI:

V.1. Việc tổng kết 3 nền lý luận lớn của thế giới : Phương Tây hiện đại, Trung Quốc hiện đại, Nga hiện đại và việc nhìn lại lý luận văn học Việt Nam trong thời gian đổi mới vừa qua có tác dụng mở đường, dẫn đạo cho lý luận Việt Nam thế kỷ XXI vận động trong xu hướng toàn cầu hóa. Đó là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thời sự sâu sắc.

V.2. Trước mắt để xây dựng được một nền lý luận văn học Việt Nam thế kỷ XXI cần phải khởi động một kế hoạch dịch và giới thiệu sâu khoảng 100 cuốn sách lý luận văn học của thế giới, trong đó cần dành 50 cuốn cho Phương Tây và 50 cuốn cho Trung Quốc và Nga hiện đại. Các cuốn sách này phải bao quát các lĩnh vực mà chúng ta cần quan tâm: Tự sự học, Ký hiệu học, Văn học so sánh, Lý thuyết tiếp nhận, Phân tâm học, Văn hoá - Văn học... Đặc biệt cần đi sâu hơn về Ký hiệu học nơi mà lý luận của chúng ta chưa vươn tới một cách có chủ định. Việc dịch thuật, giới thiệu và tổ chức hội thảo các cuốn sách quan trọng cần được sự tài trợ của Nhà nước, các Đại sứ quán, các Tổng công ty, các doanh nhân...

V.3. Cần có một phương pháp luận xử lý để liên kết hàng chục, hàng trăm thứ lý luận rải rác, biệt lập của thế giới. Phương pháp luận đó dựa vào “nguyên tắc đối thoại” của Bakhtine, phép biện chứng của Hégel và Marx, nguyên tắc “đa hệ thống” của Itaman Even-Zoha. Và một hệ vấn đề theo chúng tôi cần được xử lý dưới đây.

- Đầu tiên chúng ta cần xử lý mối quan hệ giữa Théorie littéraire (Lý thuyết học văn chương) và Théories de la littérature (Những lý thuyết văn chương), tức là mối quan hệ kép giữa l’un và le multiple (le littéraire và la littérature, tức là “Lý luận nền tảng, bản thể” và “các lý luận bộ phận hoặc tổng thể dưới đa học thuyết” theo Marc Angelnot, Jean Besnière, Dowe Fokkema), hoặc La métathéorie (siêu lý thuyết văn chương) và Les théories de la littérature (Những lý thuyết văn chương, theo Terry Eagleton), xác định một lý thuyết mang tính tổng thể bản thể luận về các lý thuyết và các lý thuyết có tính chất bộ phận và số nhiều.

- Sau đó chúng ta cần xử lý các mối quan hệ biện chứng giữa các “lý thuyết bên ngoài” và các “lý thuyết bên trong” (theo René Welled và Austin Warren). Các lý thuyết văn chương bên ngoài phải xuyên thấm “tính văn chương” của lý thuyết bên trong, ngược lại các lý thuyết bên trong vốn mang tính hình thức phải gắn kết với nội dung xã hội học, lịch sử và văn hoá để biến thành các kiểu sociopoétique (thi pháp xã hội học, theo Viala).

- Tiếp đến chúng ta cần liên kết các lý thuyết biểu hiện (expressive), các lý thuyết khách quan (objective), các lý thuyết mô phỏng (mimetic) và các lý thuyết thực dụng (pragmatic) (theo M.H.Abrams) với lý thuyết tiếp nhận của trường phái Constance và lý thuyết hồi ứng độc giả (Reader-reponse) của Mỹ thành một chỉnh thể hữu cơ xuyên thấu và có mối quan hệ biện chứng lồng vào nhau.

- Rồi chúng ta cần xử lý các lý thuyết normative (khởi đi từ chuẩn mực, quy phạm như của Lukacs và Adorno) và các lý thuyết descriptive (miêu tả khách quan thiên về quy nạp, theo Heide Göttner).

- Cuối cùng chúng ta cần xử lý các lý thuyết theo hệ hình lịch sử (kiểu Lanson đầu thế kỷ XX và trường phái lịch sử văn chương của R. Fayolle và H. Béhar cuối thế kỷ XX), mang tính “động”, và các lý thuyết sử dụng loại hình học (typologie, mang tính “tĩnh tại”) của các trường phái cấu trúc hình thức hoặc ký hiệu học cấu trúc nhân loại học của Pháp, tức là chúng ta tính đến tính biện chứng giữa loại hình và lịch sử, giữa tĩnh và động.

- Về lý thuyết “phản ánh luận” văn học của Lênin, chúng ta cần xử lý mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể sáng tạo gắn với tính thẩm mỹ và sự hư cấu mang cá tính sáng tạo của nhà văn. Cũng như chúng ta cần phối kết các lý thuyết phản ánh và các lý thuyết biểu trưng (symbol) đặc biệt của I.Lotmann trong mối quan hệ biện chứng lồng vào nhau.

V.4. Tóm lại, để xây dựng được một nền lý luận văn học Việt Nam không tụt hậu ở thế kỷ XXI, chúng ta cần xử lý trước hết phương pháp luận về các lý thuyết văn học một cách khoa học, và sau đó ngoài việc dịch thuật giới thiệu thì cần có nhiều chuyên luận sâu như của Huỳnh Như Phương về “chủ nghĩa hình thức”, Trương Đăng Dung về “văn bản và tác phẩm”, Phương Lựu về “chủ nghĩa Marx Phương Tây trong văn học”, Trần Đình Sử về “thi pháp học” và “tự sự học”, Đỗ Lai Thúy về “phân tâm học”, “văn hóa - văn học”, Trịnh Bá Đĩnh về “chủ nghĩa cấu trúc và văn học”, Nguyễn Văn Dân về “văn học so sánh”... và đồng thời cần dựng được bức tranh đa dạng về các lý thuyết văn học trong một chỉnh thể hữu cơ như là mối quan hệ biện chứng giữa “điểm” và “diện”.

BỬU NAM
(242/04-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Ở thời điểm này, có thể rất nhiều người đang muốn hỏi một câu: Bộ trưởng Y tế của các quốc gia trên thế giới thường từ chức vì lý do như thế nào?

  • Việt Nam cũng có sự “phân biệt chủng tộc”. Báo chí nước ngoài bảo vậy. Cái “chủng tộc” ở đây được phân định bằng hộ khẩu.

  • Suốt gần 20 năm qua, nghệ sĩ Sébastien Laval, đến từ vùng Poitou Charentes - nước Pháp, đã rong ruổi khắp mọi miền trên dải đất hình chữ S để cảm nhận và “ghi” lại những hình ảnh sống động nhưng rất đỗi bình dị trong cuộc sống đời thường của con người Việt Nam. Chính sự lao động nghệ thuật không mệt mỏi của người nghệ sĩ tài hoa này đã đem đến sự mới lạ tại Festival Huế 2014 với bộ ảnh độc đáo về 54 dân tộc Việt...

  • NGUYỄN CƯƠNG

    Chiến tranh đã lùi vào quá khứ mấy chục năm. Nhưng hậu quả của nó để lại thì chưa biết khi nào mới khắc phục xong, trong đó có di chứng chất độc hóa học dioxin, đến nay đã di truyền sang thế hệ thứ 3 và không biết sẽ đến thế hệ thứ bao nhiêu? Vì chất dioxin tồn lưu trong lòng đất có thời gian bán phân hủy lên tới hàng trăm năm!

  • Đây thật sự là một quyết định rất hợp lý, đúng với nguyện vọng của đông đảo nhân dân cả nước.

  • TÂM VĂN

    Năm 1980 xã tôi trống dong cờ mở, mổ bò ăn mừng xã được công nhận xóa nạn mù chữ, phổ cập bổ túc văn hóa lớp năm; nhân dịp về quê, được UBND xã mời dự, tôi xắm rắm đi, ông nội tôi nói: “Họ mần quá bậy, dân dốt mất thôi”.

  • LƯU THỦY

    Thừa Thiên Huế đang tăng tốc trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương. Cuộc làm việc mới đây giữa đoàn khảo sát Trung ương với lãnh đạo tỉnh đã định hình phương án cấu trúc đô thị tương lai. Còn rất nhiều việc phải thực hiện để cuộc chuyển mình đưa Thừa Thiên Huế lên thành phố trực thuộc Trung ương; nhưng có một điều phải luôn lưu ý: phải hết sức giữ gìn để phát huy các giá trị di sản, sinh thái, cảnh quan, môi trường hết sức đặc trưng của nó.

  • Mở đầu chuyến thăm Việt Nam lần thứ 5, Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa - bậc thầy giác ngộ tâm linh quốc tế - vừa có cuộc trò chuyện với các đại diện Hội Nhà văn VN tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chọn và đọc câu hỏi.

  • Năm 2010, Đức Pháp Vương Gyalwang Dpukpa đã viếng thăm Việt Nam. Trong dịp này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã có một cuộc trò chuyện với Ngài. Vào 8h30 ngày 05/4/2014, Đức Pháp Vương với sự cộng tác của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều sẽ có cuộc đối thoại giữa với các nhà văn Việt Nam tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội. VanVN.Net xin đăng tải cuộc trò chuyện giữa Đức Pháp Vương và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cách đây 4 năm.

  • Một sử gia người Na Uy trong nhiều năm ròng đã nghiên cứu về lịch sử Việt Nam với nhiều tình cảm đặc biệt. Mới đây, ông đã cho đăng tải bộ sưu tập gồm 122 số báo Việt Nam Độc Lập do Mặt trận Việt Minh xuất bản từ năm 1941-1945.

     

  • Sau này tôi cũng đã điều chỉnh suy nghĩ. Tôi cho rằng những lầm lẫn trong xã hội, nếu có, có lẽ trách nhiệm ở chính người dân chúng ta, chiếm 51%.

  • 39 năm trước, Chiến dịch Huế- Đà Nẵng với mốc son đáng nhớ là ngày 26-3 toàn tỉnh Thừa Thiên- Huế được giải phóng hoàn toàn. 

  • Bức thư của một bạn trẻ tự xưng là du học sinh Nhật Bản tại Việt Nam đang gây xôn xao cộng đồng mạng những ngày qua.

  • Hạnh phúc là điều ai cũng hướng tới, tìm kiếm, mỏi mong có được. Và, hạnh phúc, đối với mỗi người hoàn toàn không giống nhau, cách gọi tên hạnh phúc khác nhau do hoàn cảnh sống sai biệt và do cách nhìn về cuộc sống không như nhau.

  • Sự thật là một điều không dễ dàng tìm cho ra, cho nên con người phải phát triển khoa học, phát triển công nghệ trên mọi lĩnh vực.

  • Đó là ý kiến của Bộ trưởng Bộ GDĐT Phạm Vũ Luận tại phiên họp ngày 25.2 của Hội đồng Quốc gia về giáo dục và phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2015, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

  • Hình như khi Thượng đế sinh ra một thiên tài, người đều đặt vào họ những thói tật kỳ dị, khác người? Sự vĩ đại của họ đôi khi được làm nên từ những “mặt trái” - dị thường này? GS.BS. Tôn Thất Tùng là một thiên tài như vậy.

  • TRÊN TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG THỪA THIÊN HUẾ TRỞ THÀNH THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

    LÊ VĂN LÂN

  • 5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979,  hơn 120.000 lính Trung Quốc tràn vào Việt Nam, mở đầu cho cuộc chiến nhà cầm quyền Bắc Kinh huy động tới hơn 600.000 quân tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Tổ quốc ta. 

  • HỒ TƯ

    Huế có Hoàng thành, quần thể lăng tẩm, đền đài của người xưa để lại, nay đã trở thành di sản văn hóa thế giới, hiện đang được trùng tu, tôn tạo và khai thác du lịch, có nhã nhạc cung đình cũng là một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.