Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý - Ảnh: internet
Lời thơ hòa bình từ hai phía NGUYỄN HỮU QUÝ Phùng Ân Khải, cậu bé Việt Nam 11 tuổi có bức tranh màu nước mang tên Vũ khí không còn ác nữa. Bầu trời xanh thắm, những đám mây màu trắng lững thững bay cùng con bướm xinh, cánh diều giấy lim dim, vầng dương tươi hồng như một đóa hoa, chim bồ câu đậu, một cô bé đeo trên nòng pháo đen sì cùng mấy em bé ngồi nằm bên cỗ vũ khí từng giết người này. Từ Bảo tàng chứng tích chiến tranh ở thành phố Hồ Chí Minh, bức tranh đến nước Mỹ, trong một cuộc triển lãm tại Trường Đại học Kent State, bang Ohio nhân kỉ niệm 40 năm ngày 4 sinh viên Mỹ đã bị bắn chết và 13 sinh viên khác bị thương vì phản đối chiến tranh Việt Nam làm xúc động không ít người. Một nhóm học sinh lớp 7, trường Marcia Skidmore, Ohio sau khi xem tranh đã làm bài thơ Tại sao? (Why not?): Tại sao không biến quả ngư lôi thành chú cá heo biết yêu?/ Tại sao không làm mềm hàng rào thép gai để làm que đan áo?/ Em nhìn viên đạn bay xuyên qua không khí, và em nghĩ, sao không là chú chim duyên dáng?... Thay vì chiến tranh, tại sao không phải hòa bình? Thay vì chiến tranh, tại sao không phải hòa bình? Câu thơ - Câu hỏi như một phán xét quá khứ, nhắc nhở hiện tại và khát vọng của tương lai. Câu thơ - Câu hỏi dành cho mọi người, từ các vị nguyên thủ quốc gia đến thường dân. Hàn gắn những vết thương dĩ vãng cũng là lối dẫn tới hòa giải, hòa hợp, hòa bình. Thiết tha hơn cả thiết tha. Đòi hỏi hơn cả đòi hỏi. Ước mơ hơn cả ước mơ. Có một chiều thu giữa lòng Hà Nội. Chúng tôi được trò chuyện đọc thơ với các bạn Mỹ. Buổi giao lưu bắt đầu bằng một đề nghị của tiến sĩ, bác sĩ tâm lý, nhà văn Edward Tick, Giám đốc tổ chức Trái tim người lính đang ở thăm Việt Nam: Ai là cựu chiến binh xin đứng dậy. Hai phần ba người có mặt trong hội trường Hội Nhà văn Việt Nam đứng lên. Phía bạn có các cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam như John W. Fisher là bác sĩ tâm lý - nhà văn, Al Plapp, Joe Caley, Charles Howard Victor, Ronald John Oskar, Ralph Edwin Knerem, Michael Alywyn Phillips, Charles Caffery Forsyth, Thomas Michael Saal và hai cựu binh từng chiến đấu ở I Rắc là Michael Blake, Nathan John Lewis. Phía ta có các nhà văn, nhà thơ đã và đang mặc áo lính như Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Hoa, Đào Thắng, Nguyễn Việt Chiến, Đặng Huy Giang, Trần Quang Quý, Nguyễn Hữu Quý… Chúng tôi bắt tay, ôm hôn, tặng thơ cho những người lính từng là kẻ thù. Đúng nhẽ thôi, khi Việt Nam muốn khép lại quá khứ hướng tới tương lai làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, thì các nhà văn chúng ta cũng rất muốn cởi bỏ hận thù, giao hòa với muôn phương. Một cái nhìn về chiến tranh và hòa bình được đặt trong tiến trình lịch sử cụ thể, một phía đầy những ăn năn và hy vọng, một bên ăm ắp những độ lượng và cảm thông. Xích lại gần nhau để chia sẻ và yêu thương là ứng xử tốt đẹp của thời hậu chiến. Không một chút đãi bôi, xã giao Edward Tick bộc bạch: Thưa các bạn, tôi biết tiếng Việt rất ít (cười) bởi đây là thứ tiếng rất khó học. Nhưng trái tim tôi đầy ắp tình thương yêu các bạn. Tôi tin Hà Nội, tôi tin Việt Nam sẽ được sống trong tình thương yêu đầy ắp của loài người. Chúng ta cùng đi với nhau trên một con đường; đó là con đường hòa hợp hòa giải những vết thương chiến tranh. Chúng ta cùng nhau ôn lại những đau đớn trong cuộc chiến đã qua, để chia sẻ trong tình yêu thương và không phải than khóc nữa. Thuốc men và triết lý không đủ điều kiện để điều trị cho trái tim đâu. Tôi học được điều đó trong những chuyến đi về Việt Nam, đất nước tươi đẹp của các bạn. Chính người Việt Nam dạy tôi điều đó. Phải dùng tình thương để hóa giải thù hận. Thương người như thể thương thân, hình như nhân dân các bạn rất thích câu đó. Chúng ta phải lấy thơ ca làm nhịp cầu hòa giải. Thơ ca đi trước mọi phong trào dẫn tới hòa bình. Tôi vô cùng bất ngờ và xúc động khi đọc bài thơ Bài hát người phụ nữ Việt Nam của Edward Tick. Ông không phải là cựu chiến binh Mỹ nhưng nhà thơ này đã hiểu chiến tranh Việt Nam sâu sắc qua hình ảnh những người phụ nữ anh hùng, nhân hậu của đất nước ta: Tôi sẽ dâng hiến cha tôi, chồng tôi, các con/ Ban phúc cho họ ra đi dù không ngày gặp lại/ Tôi sẽ cầu mong cho các người trở về trong vòng tay của mẹ các người và tha thứ cho các người mặc dù các người lấy đi tất cả của tôi. Ông lý giải chiến thắng của dân tộc ta và sự thất bại của kẻ xâm lược qua người phụ nữ Việt Nam rất khái quát và giản dị: Tôi là bà, mẹ, vợ, con/ Làm cho tôi tức giận, các người không thể đúng/ Làm cho tôi đau đớn, các người không thể công bằng/ Làm tôi chiến đấu các người không thể thắng/ Làm tôi đứng lên các người phải ngã xuống/ Hãy trở lại trong hòa bình và cho tôi xem vết thương/ Tôi sẽ băng bó với tình yêu và gọi các người là anh em. (Nguyễn Phan Quế Mai dịch). Ông Giám đốc tổ chức Trái tim người lính này đã 10 lần đưa các đoàn nhà văn, nhà thơ, cựu chiến binh đến Việt Nam và có nhiều tác phẩm viết về đất nước chúng ta như Chiến tranh và Tâm hồn (War and the Soul); tập thơ và bút ký Rùa vàng: Những chuyến trở lại Việt Nam (The Golden Tortoise: Journeys in Viet Nam); Núi thiêng: Những cuộc chạm trán với con thú chiến tranh Việt Nam (Sacred Mountain: Encounters of the Viet Nam Beast)... Ông đặc biệt thích thú với truyền thuyết hồ Hoàn Kiếm, một minh chứng tuyệt vời về tình yêu hòa bình của người Việt Nam, ông nói. Thomas Michael Saal từng là lính thủy đánh bộ Mỹ tại chiến trường Việt Nam, năm 1968 ông bị trúng mìn của ta. Cuộc chiến tranh ở đất nước cách xa Mỹ hàng vạn cây số đường không, đường biển trở thành nỗi ám ảnh ghê gớm của gia đình ông. Thomas Saal tâm sự: Gia đình tôi bị ảnh hưởng sâu sắc chiến tranh Việt Nam. Bố mẹ tôi cấm không được nhắc đến cuộc chiến tranh ấy vì nó quá đau đớn. Các bạn biết không, tôi bị mắc bệnh trầm cảm vì chiến tranh Việt Nam. Tôi là một người căm thù chiến tranh. Ai đó từng nói: nước Mỹ đang bị tổn thương sâu sắc bởi chiến tranh. Tôi đồng ý điều đó. Khi xem bức tranh Nụ cuộc sống của em Võ Thanh Mai 12 tuổi, Thomas Saal đã rơi nước mắt và bài thơ Nhìn tôi ra đời: Nhìn tôi!/ Hãy nhìn tôi đây!/ Nhìn nước mắt này/ Nhìn sự sợ hãi/ Trên gương mặt tôi/ Gây ra bởi cuộc chiến tranh của các người…/ Nhìn tôi!/ Hãy nhìn tôi đây!/ Tù túng trong một chiếc bong bóng hoa/ Bị nhốt bên trong/ Không có chìa khóa/ Không thể thoát ra. Hình ảnh em bé - một nạn nhân chiến tranh - bị nhốt trong chiếc bong bóng hoa thật ám ảnh và chiếc chìa khóa để giải thoát sự tù túng ấy phải chăng là tình yêu thương của con người. Nhà văn - bác sỹ tâm lý John W.Fisher, cũng là một cựu binh từng đến Việt Nam 6 lần, tác giả của Không được chào đón khi về nhà (Not welcome home) và Những thiên thần ở Việt Nam (Angels in Vietnam) viết về hòa bình: Tình yêu và hòa bình có lẽ là hai khát vọng lớn nhất của nhân loại kể từ thuở bình minh. Nếu coi tình yêu là một tác phẩm của nguồn sức mạnh siêu việt, thì hòa bình phải là trách nhiệm của con người. Chúng ta thừa nhận rằng sức mạnh ấy đã và sẽ luôn đóng góp vai trò của nó trong mục tiêu tốt đẹp này, thì con người, nếu còn tiếp tục tiến hành các cuộc chiến tranh, nghĩa là không đóng góp phần mình vào đó. Xin nhắc lại, những người từng là kẻ thù của nhau đã ôm choàng lấy nhau, lau nước mắt cho nhau, tặng thơ và tặng hoa cho nhau. Đó chính là tác phẩm đẹp nhất của cuộc sống. Nó sẽ được bay lên bởi đôi cánh hòa bình trắng muốt. Trong lòng nó, vâng, trong lòng nó rộn ràng ngọn lửa yêu thương đầy ắp vị tha như lời Phật dạy: Hận thù diệt hận thù/ Đời này không thể có/ Từ bi diệt hận thù/ Là định luật thiên thu. Hận thù sẽ tiêu diệt những nụ sống, cũng như chiến tranh là con đường tự sát của nhân loại, chỉ có hòa bình, hòa bình tạm thời và hòa bình vĩnh cửu mới làm cho cuộc sống trường tồn, hành tinh xanh mãi mãi là quà tặng của vũ trụ vô tận vô biên dành cho con người. Tình yêu hòa bình của những cựu binh Mỹ đã gặp gỡ hòa trộn với tình yêu hòa bình của những cựu binh và quân nhân Việt Nam. Sự hòa trộn rất con người ấy không thuộc về những công ty xuyên quốc gia, những dự án kinh tế mang tầm vóc toàn cầu, càng rất xa với vũ khí hạt nhân mà nó ở trong những con người bé nhỏ, nhạy cảm: những nhà thơ. Hòa bình ngân rung trong những cung bậc hiếm hoi cất lên dưới tầm bom đạn năm nào trong thơ Hữu Thỉnh: Em hát về rừng em hát về cây/ Em hát về người đang nghe em hát/ Anh bỗng quên vừa qua cơn sốt/ Rừng bỗng quên vừa trận bom đau. Con người biết nhớ nhưng cũng phải biết quên. Quên đi nỗi đau, nỗi mất mát của mình, quên đi hận thù từng được khắc ghi muôn đời muôn kiếp không tan để hướng tới cái đẹp hơn của cuộc sống. Con người cần sự tha thứ, tha thứ để sống an hòa cùng nhau mà sự biểu hiện đôi khi thật bình dị như nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã viết tặng một nhà thơ Mỹ: Những tâm tình bao năm chiến tranh/ Như hòa lẫn trong cốc bia sủi bọt.../ Thành phố Boston tôi và anh/ Và mặt trời rót tràn men ánh sáng. Trong Cẩm thạch và cỏ xanh, Nguyễn Việt Chiến run rẩy một khúc nguyện cầu bình yên cho con người: Hỡi những ai đã yên nằm dưới cỏ/ Cỏ bốn mùa xanh một khúc ru/ Hỡi những ai chưa phải nằm dưới đó/ Đừng làm đau một ngọn cỏ bao giờ. Đi qua chiến tranh tàn khốc những người lính rất dễ bị cỗi cằn, úa héo, kể cả tình yêu từng tốt tươi trong họ. Nhưng không, với Trần Quang Quý thì quà tặng của người lính trận vẫn là tiếng hát của yêu thương: Anh đây/ Em đừng lạ và em đừng nhìn vậy/ Nếu vết thương anh có thể trên mình/ Anh nguyên vẹn bằng trái tim không đổi khác/ Em lại đến thế là anh lại hát/ Một nồng nàn vồng ngực tặng em đây. Và, nhà thơ trẻ Nguyễn Phan Quế Mai khi đứng trước bức tường chiến tranh Việt Nam ở Washington đã bốc cháy: 58.267 cái tên đã nã súng vào tôi/ Mũi giày họ còn loang vết máu/ Tôi muốn chôn họ thêm lần nữa/ Chất độc da cam rực lên màu lửa/ Nguyễn Thị Kim Phúc bốc cháy băng qua những hàng tên và nhòa lệ: Từng cái tên khảm vào da thịt tôi thành từng khuôn mặt 58.267 người đã chết/ Đỏ quạch Washinton chiều nay/ Hoàng hôn hay nước mắt? Khi được giới thiệu phát biểu tôi nói: năm 1964, lúc tôi 8 tuổi, máy bay Mỹ ném quả bom đầu tiên xuống làng tôi. Năm 1968, khi tôi 12 tuổi, mẹ tôi bị chết vì bom bi Mỹ. Tôi từng nghĩ: tôi sẽ mang mối thù này hết cuộc đời mình, sống để dạ chết mang theo như người Việt Nam nói. Nhưng các bạn biết đấy, đến hôm nay, đến bây giờ nỗi đau mất mẹ trong tôi dẫu vẫn còn nhưng sự hận thù đã vơi cạn và hầu như không còn nữa. Tôi bắt tay, tôi ôm hôn các bạn như những người thân. Bởi vì, tôi nghĩ hận thù không làm cho con người lớn lên được. Chỉ có hòa giải hòa hợp cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Yêu hòa bình, đó là cái chung của chúng ta. Rồi tôi rưng rưng đọc Bông huệ trắng bài thơ được tặng thưởng thơ hay nhất Văn nghệ quân đội năm 1995 nay đã được Nguyễn Phan Quế Mai và tiến sĩ nhà thơ Edward Tick dịch qua tiếng Anh. Tôi chuyển đến các bạn Mỹ giấc mơ của những người mẹ Việt Nam sau chiến tranh: Những người lính trở về têm cho mẹ miếng trầu cay/ giấc mơ mẹ đỏ tươi từng giọt máu/ những người lính trở về xòe tay trên bếp khói/ giấc mơ mẹ mình đơm óng ả hạt mùa chiêm/ những người lính trở về đánh rạ dọn rơm/ giấc mơ mẹ bay la dòng sữa trắng/ những người lính trở về cười ngượng nghịu/ giấc mơ người bật dậy tiếng oa…oa. Nhiều đôi mắt của các bạn Mỹ ngân ngấn nước. Có bạn nói: tôi sẽ mang câu chuyện của Quý về nước Mỹ. Một kỷ niệm buồn về chiến tranh, cái chết của mẹ tôi, chỉ ngần ấy thôi. Quên quá khứ là có tội với người đã khuất, nhưng quan trọng và cần thiết hơn vẫn là hiện tại và tương lai. Chính vì thế, không gì đúng hơn, đẹp hơn, thiết thực hơn như nhà thơ trẻ người Mỹ J.FossenBell đã viết: Ngay cả bây giờ chiến tranh cũng chưa chấm dứt ở nơi nào đó,/ và cứ thế chúng ta phải tự nuôi sống mình bằng hòa bình tạm thời,/ và cứ thế và cứ thế chúng ta đi bỏ lại sau lưng quá khứ... Vâng, bỏ lại quá khứ đau buồn tang tóc sau lưng để cùng tiến về phía trước: Tương lai! Đồng Xa 15.10.2010 N.H.Q (261/11-10) |
Tải mã QRCode
Rất nhiều hoa, rất nhiều nụ cười đã hiện diện một cách cởi mở và đầm ấm trong buổi chiều ngày 18.7.2008 tại Trung tâm Du lịch và Dịch vụ Festival - Huế, nơi diễn ra Lễ kỷ niệm 25 năm Tạp chí Sông Hương phát hành số báo đầu tiên (1983-2008).
HỒ THẾ HÀĐến nay, Tạp chí Sông Hương đã tròn một phần tư thế kỷ (1983-2008) kể từ số đầu tiên được ra mắt bạn đọc. Hai mươi lăm năm đủ để vui buồn ôn lại những chặng thác ghềnh và phẳng lặng của một dòng sông từ nguồn ra biển.
ĐẶNG VĂN VIỆTKỷ niệm 63 năm Cách mạng Tháng TámSau ngày đảo chính (9-3-1945), Nhật lật đổ Pháp. Phong trào Việt Minh như một luồng gió mạnh, thổi từ miền Bắc vào miền Trung, miền Nam, thức tỉnh lòng yêu nước, thương nòi của người dân đất Việt, thúc giục mọi người sẵn sàng để chớp thời cơ, giành lại chính quyền về tay nhân dân.
TRẦN THÙY MAIThuở trước, mỗi đêm cuối năm, anh Hải Bằng bao giờ cũng đến thăm trụ sở Hội Văn nghệ, rồi túc tắc ngự trên chiếc xe babeta màu đỏ, ghé thăm nhà bạn bè thân hữu đó đây trước khi quay về để kịp đón giao thừa.
NGUYỄN QUANG HÀCuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cả nước xôn xao về vụ án Trần Dụ Châu.
NGUYỄN KHẮC PHÊTrong một cuộc vui gần đây, nhân nhắc đến việc bình chọn các nhân vật, sự kiện nổi bật trong năm trên báo chí, có ý kiến phong cho nhà văn Hồng Nhu là người đạt nhiều cái “nhất” nhất trong làng văn ở Huế.
TRẦN THỊ TRƯỜNG - Chúng ta lại thắng rồi. Thỉnh thoảng lão lại reo lên như thế khi bất chợt gặp một người mà lão coi là bạn. Lão nói câu ấy cả khi lão đang thoi thóp trên giường bệnh, miệng méo xệch lão nói một cách khó khăn nhưng vừa nói lão vừa cười khiến cho người ta yên tâm là lão bắt đầu sống trở lại, cái chết còn lâu mới quật được lão.
PHẠM QUANG TRUNGAnh Cao Xuân Hạo kính mến!Trước tiên, xin thú nhận, tôi là người mê say tên tuổi anh đã từ lâu. Tuổi trẻ và sau đó là những năm tháng trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu, phê bình văn chương đã đưa tôi đến những trang dịch văn xuôi Nga – Xô viết đầy sức cuốn hút của anh, như Chuyện núi đồi và thảo nguyên, Chiến tranh và hòa bình, Truyện ngắn Gorki, Con đường đau khổ, Tội ác và trừng phạt…
VINH HUỲNHLTS: Có bạn đọc gửi thư đến Toà soạn chúng tôi đề nghị nếu chọn topten sự kiện nổi bật trong làng báo chí năm 2001 thì không nên bỏ qua “hội chứng” đánh vào các trường đại học, trong đó có Đại học Nghệ thuật Huế và trường Viết văn Nguyễn Du.
NGUYỄN KHẮC THẠCH(Tham luận đọc trong hội thảo)Cho đến đầu thế kỷ 21 này, chúng ta vẫn đang đứng trước nguy cơ tụt hậu về mặt kinh tế đã là điều đáng sợ nhưng cái đáng sợ hơn là nguy cơ vong bản về mặt văn hoá. Xu thế toàn cầu hoá đang xâm nhiễm và xâm thực vào đời sống chúng ta một cách ngọt ngào mà chua cay, dịu êm mà đẫm máu.
TRẦN HOÀNLTS: Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2001 đã diễn ra cuộc tập huấn - hội thảo báo chí văn nghệ địa phương tại thủ đô Hà Nội. Nhạc sĩ Trần Hòan, Phó Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Phó Chủ tịch UBTQ.LH các Hội V.H.N.T Việt Nam đã đọc báo cáo đề dẫn hội nghị. Sông Hương xin trích đăng một phần trong báo cáo đó (đầu đề do chúng tôi đặt).
NGUYỄN KHOA ĐIỀM(TBT: 1983 - 1986)Bây giờ nhìn lại những số Sông Hương đầu tiên (số 1 ra mắt tháng 6-1983) không khỏi cảm thấy tờ tạp chí như một… cô gái quê, giản dị, khiêm nhường, có vẻ… tồi tội. Giấy đen. Bìa mỏng. Bát chữ typo chỗ đậm chỗ nhạt. Sông Hương làm sang cho in ảnh tác giả, khốn nỗi, ảnh loè nhoè, không rõ mặt. Giá bao cấp 7 đồng/số, vẫn bị chê đắt. Được cái lượng bản in ngay số đầu là 4.000 bản. Trông khí sắc cuốn tạp chí vẫn chưa xa cái thời tranh đấu chống Mỹ, in sách báo trong gác trọ sinh viên.
TÔ NHUẬN VỸ(TBT: 1986 - 1989)Có năm kỷ vật của Hải Bằng tặng tôi và gia đình, từ ngày anh còn sống cho đến nay, sau 10 năm anh mất, tôi vẫn nhìn ngắm và chăm sóc hàng ngày. Đó là bức tranh hồ sen, là hai câu thơ anh viết trên giấy đặc biệt, là tất cả các tập thơ anh in từ sau 1975, là đôi chim hạc anh tạo bằng rễ cây và con chó Jò bé xíu.
NGUYỄN KHẮC PHÊ(TBT: 1991)Tôi có may mắn được làm Phó Tổng biên tập nhiều năm cho hai “đời” Tổng biên tập nổi tiếng là Nguyễn Khoa Điềm và Tô Nhuận Vỹ, nhưng đến “phiên” mình được gánh vác trọng trách thì chỉ đảm đương được một thời gian ngắn. Đã đành do tài hèn sức mọn, nhưng cũng vì đó là giai đoạn khó khăn sau “Đổi Mới”, chúng ta đang phải tìm đường, nhiều quan niệm - nhất là về văn học nghệ thuật chưa dễ được nhất trí…
HỒNG NHU(TBT: 1992 - 1997)Thời gian như bóng câu qua cửa. Mới đó mà đã một phần tư thế kỷ, tờ tạp chí Sông Hương có mặt cùng bạn đọc trong và ngoài nước.
NGUYỄN KHẮC THẠCH(TBT: 2000 - 2008)Vậy là đã tròn một phần tư thế kỷ. Ngày ấy, cũng vào mùa “Hạ trắng” nắng lên thắp đầy như nhạc Trịnh, tờ Tạp chí Sông Hương - tạp chí sáng tác lý luận phê bình nghiên cứu văn học nghệ thuật của xứ Huế được ra đời và đi qua cái ngưỡng “vạn sự khởi đầu nan” một cách kỳ diễm, đầy ấn tượng.
MAI VĂN HOANSáng 8 - 5 - 2008, ghé quán 26 Lê Lợi (trụ sở Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế) ngồi uống cà phê với hai nhà thơ Kiều Trung Phương và Ngàn Thương, tôi vô cùng sửng sốt khi Ngàn Thương cho biết người suốt đời đi tìm chân dung Hàn Mạc Tử là anh Phạm Xuân Tuyển đã mất cách đây gần 7 tháng tại Phan Thiết.
I.Con người ấy từng mang tên Nguyễn Sinh Cung, và tên chữ Nguyễn Tất Thành, trước khi đến với tên Nguyễn Ái Quốc, đã trải một tuổi thơ vất vả vào những năm kết thúc thế kỉ XIX, để bước vào thế kỉ XX với một niềm khao khát lớn: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ: tự do, bình đẳng, bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thủa ấy tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn sau những chữ ấy...” (1)
Từ rất nhiều năm nay tôi rất muốn bày tỏ đôi điều về những bi kịch cuộc đời mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) từng chịu đựng và trăn trở, từng nén vào lòng để sống và sáng tác.
Chiều 17.11 vừa rồi, ở địa chỉ 26 Lê Lợi đã diễn ra cuộc tọa đàm giữa đoàn nhà văn Trung Quốc với Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế. Nhà thơ Phạm Tiến Duật, Phó Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ đã tháp tùng đoàn nhà văn bạn từ Hà Nội tới Huế.