Lời thơ hòa bình từ hai phía

09:28 17/12/2010
Ngày 11 tháng 10 năm 2010, đoàn Trái tim người lính (Mỹ) do tiến sĩ, bác sĩ tâm lý, nhà văn Edward Tick dẫn đầu đã đến thăm và giao lưu với Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội. Đoàn của tổ chức Trái tim người lính có nhiều người là cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam, I-Rắc; các bác sĩ, giáo viên, nhà báo, mục sư và cả học sinh trung học. Buổi gặp gỡ đã diễn ra trong tình cảm ấm áp, thông cảm, chia sẻ quá khứ, vì hiện tại và hướng tới tương lai. Chiến tranh và hòa bình được nhắc đến nhiều hơn cả trong các câu chuyện và thơ của cả bạn và ta. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý là người được dự buổi gặp gỡ giao lưu cảm động này, anh đã có bài viết gửi Sông Hương, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. SH

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý - Ảnh: internet


Lời thơ hòa bình từ hai phía



NGUYỄN HỮU QUÝ

Phùng Ân Khải, cậu bé Việt Nam 11 tuổi có bức tranh màu nước mang tên Vũ khí không còn ác nữa. Bầu trời xanh thắm, những đám mây màu trắng lững thững bay cùng con bướm xinh, cánh diều giấy lim dim, vầng dương tươi hồng như một đóa hoa, chim bồ câu đậu, một cô bé đeo trên nòng pháo đen sì cùng mấy em bé ngồi nằm bên cỗ vũ khí từng giết người này. Từ Bảo tàng chứng tích chiến tranh ở thành phố Hồ Chí Minh, bức tranh đến nước Mỹ, trong một cuộc triển lãm tại Trường Đại học Kent State, bang Ohio nhân kỉ niệm 40 năm ngày 4 sinh viên Mỹ đã bị bắn chết và 13 sinh viên khác bị thương vì phản đối chiến tranh Việt Nam làm xúc động không ít người. Một nhóm học sinh lớp 7, trường Marcia Skidmore, Ohio sau khi xem tranh đã làm bài thơ Tại sao? (Why not?): Tại sao không biến quả ngư lôi thành chú cá heo biết yêu?/ Tại sao không làm mềm hàng rào thép gai để làm que đan áo?/ Em nhìn viên đạn bay xuyên qua không khí, và em nghĩ, sao không là chú chim duyên dáng?... Thay vì chiến tranh, tại sao không phải hòa bình?

Thay vì chiến tranh, tại sao không phải hòa bình?
Câu thơ - Câu hỏi như một phán xét quá khứ, nhắc nhở hiện tại và khát vọng của tương lai. Câu thơ - Câu hỏi dành cho mọi người, từ các vị nguyên thủ quốc gia đến thường dân. Hàn gắn những vết thương dĩ vãng cũng là lối dẫn tới hòa giải, hòa hợp, hòa bình. Thiết tha hơn cả thiết tha. Đòi hỏi hơn cả đòi hỏi. Ước mơ hơn cả ước mơ.

Có một chiều thu giữa lòng Hà Nội. Chúng tôi được trò chuyện đọc thơ với các bạn Mỹ. Buổi giao lưu bắt đầu bằng một đề nghị của tiến sĩ, bác sĩ tâm lý, nhà văn Edward Tick, Giám đốc tổ chức Trái tim người lính đang ở thăm Việt Nam: Ai là cựu chiến binh xin đứng dậy. Hai phần ba người có mặt trong hội trường Hội Nhà văn Việt Nam đứng lên. Phía bạn có các cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam như John W. Fisher là bác sĩ tâm lý - nhà văn, Al Plapp, Joe Caley, Charles Howard Victor, Ronald John Oskar, Ralph Edwin Knerem, Michael Alywyn Phillips, Charles Caffery Forsyth, Thomas Michael Saal và hai cựu binh từng chiến đấu ở I Rắc là Michael Blake, Nathan John Lewis. Phía ta có các nhà văn, nhà thơ đã và đang mặc áo lính như Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Hoa, Đào Thắng, Nguyễn Việt Chiến, Đặng Huy Giang, Trần Quang Quý, Nguyễn Hữu Quý…

Chúng tôi bắt tay, ôm hôn, tặng thơ cho những người lính từng là kẻ thù. Đúng nhẽ thôi, khi Việt Nam muốn khép lại quá khứ hướng tới tương lai làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, thì các nhà văn chúng ta cũng rất muốn cởi bỏ hận thù, giao hòa với muôn phương. Một cái nhìn về chiến tranh và hòa bình được đặt trong tiến trình lịch sử cụ thể, một phía đầy những ăn năn và hy vọng, một bên ăm ắp những độ lượng và cảm thông. Xích lại gần nhau để chia sẻ và yêu thương là ứng xử tốt đẹp của thời hậu chiến.

Không một chút đãi bôi, xã giao Edward Tick bộc bạch: Thưa các bạn, tôi biết tiếng Việt rất ít (cười) bởi đây là thứ tiếng rất khó học. Nhưng trái tim tôi đầy ắp tình thương yêu các bạn. Tôi tin Hà Nội, tôi tin Việt Nam sẽ được sống trong tình thương yêu đầy ắp của loài người. Chúng ta cùng đi với nhau trên một con đường; đó là con đường hòa hợp hòa giải những vết thương chiến tranh. Chúng ta cùng nhau ôn lại những đau đớn trong cuộc chiến đã qua, để chia sẻ trong tình yêu thương và không phải than khóc nữa. Thuốc men và triết lý không đủ điều kiện để điều trị cho trái tim đâu. Tôi học được điều đó trong những chuyến đi về Việt Nam, đất nước tươi đẹp của các bạn. Chính người Việt Nam dạy tôi điều đó. Phải dùng tình thương để hóa giải thù hận. Thương người như thể thương thân, hình như nhân dân các bạn rất thích câu đó. Chúng ta phải lấy thơ ca làm nhịp cầu hòa giải. Thơ ca đi trước mọi phong trào dẫn tới hòa bình.

Tôi vô cùng bất ngờ và xúc động khi đọc bài thơ Bài hát người phụ nữ Việt Nam của Edward Tick. Ông không phải là cựu chiến binh Mỹ nhưng nhà thơ này đã hiểu chiến tranh Việt Nam sâu sắc qua hình ảnh những người phụ nữ anh hùng, nhân hậu của đất nước ta: Tôi sẽ dâng hiến cha tôi, chồng tôi, các con/ Ban phúc cho họ ra đi dù không ngày gặp lại/ Tôi sẽ cầu mong cho các người trở về trong vòng tay của mẹ các người và tha thứ cho các người mặc dù các người lấy đi tất cả của tôi. Ông lý giải chiến thắng của dân tộc ta và sự thất bại của kẻ xâm lược qua người phụ nữ Việt Nam rất khái quát và giản dị: Tôi là bà, mẹ, vợ, con/ Làm cho tôi tức giận, các người không thể đúng/ Làm cho tôi đau đớn, các người không thể công bằng/ Làm tôi chiến đấu các người không thể thắng/ Làm tôi đứng lên các người phải ngã xuống/ Hãy trở lại trong hòa bình và cho tôi xem vết thương/ Tôi sẽ băng bó với tình yêu và gọi các người là anh em. (Nguyễn Phan Quế Mai dịch).

Ông Giám đốc tổ chức Trái tim người lính này đã 10 lần đưa các đoàn nhà văn, nhà thơ, cựu chiến binh đến Việt Nam và có nhiều tác phẩm viết về đất nước chúng ta như Chiến tranh và Tâm hồn (War and the Soul); tập thơ và bút ký Rùa vàng: Những chuyến trở lại Việt Nam (The Golden Tortoise: Journeys in Viet Nam); Núi thiêng: Những cuộc chạm trán với con thú chiến tranh Việt Nam (Sacred Mountain: Encounters of the Viet Nam Beast)... Ông đặc biệt thích thú với truyền thuyết hồ Hoàn Kiếm, một minh chứng tuyệt vời về tình yêu hòa bình của người Việt Nam, ông nói.

Thomas Michael Saal từng là lính thủy đánh bộ Mỹ tại chiến trường Việt Nam, năm 1968 ông bị trúng mìn của ta. Cuộc chiến tranh ở đất nước cách xa Mỹ hàng vạn cây số đường không, đường biển trở thành nỗi ám ảnh ghê gớm của gia đình ông. Thomas Saal tâm sự: Gia đình tôi bị ảnh hưởng sâu sắc chiến tranh Việt Nam. Bố mẹ tôi cấm không được nhắc đến cuộc chiến tranh ấy vì nó quá đau đớn. Các bạn biết không, tôi bị mắc bệnh trầm cảm vì chiến tranh Việt Nam. Tôi là một người căm thù chiến tranh. Ai đó từng nói: nước Mỹ đang bị tổn thương sâu sắc bởi chiến tranh. Tôi đồng ý điều đó. Khi xem bức tranh Nụ cuộc sống của em Võ Thanh Mai 12 tuổi, Thomas Saal đã rơi nước mắt và bài thơ Nhìn tôi ra đời: Nhìn tôi!/ Hãy nhìn tôi đây!/ Nhìn nước mắt này/ Nhìn sự sợ hãi/ Trên gương mặt tôi/ Gây ra bởi cuộc chiến tranh của các người…/ Nhìn tôi!/ Hãy nhìn tôi đây!/ Tù túng trong một chiếc bong bóng hoa/ Bị nhốt bên trong/ Không có chìa khóa/ Không thể thoát ra. Hình ảnh em bé - một nạn nhân chiến tranh - bị nhốt trong chiếc bong bóng hoa thật ám ảnh và chiếc chìa khóa để giải thoát sự tù túng ấy phải chăng là tình yêu thương của con người.

Nhà văn - bác sỹ tâm lý John W.Fisher, cũng là một cựu binh từng đến Việt Nam 6 lần, tác giả của Không được chào đón khi về nhà (Not welcome home) và Những thiên thần ở Việt Nam (Angels in Vietnam) viết về hòa bình: Tình yêu và hòa bình có lẽ là hai khát vọng lớn nhất của nhân loại kể từ thuở bình minh. Nếu coi tình yêu là một tác phẩm của nguồn sức mạnh siêu việt, thì hòa bình phải là trách nhiệm của con người. Chúng ta thừa nhận rằng sức mạnh ấy đã và sẽ luôn đóng góp vai trò của nó trong mục tiêu tốt đẹp này, thì con người, nếu còn tiếp tục tiến hành các cuộc chiến tranh, nghĩa là không đóng góp phần mình vào đó.

Xin nhắc lại, những người từng là kẻ thù của nhau đã ôm choàng lấy nhau, lau nước mắt cho nhau, tặng thơ và tặng hoa cho nhau. Đó chính là tác phẩm đẹp nhất của cuộc sống. Nó sẽ được bay lên bởi đôi cánh hòa bình trắng muốt. Trong lòng nó, vâng, trong lòng nó rộn ràng ngọn lửa yêu thương đầy ắp vị tha như lời Phật dạy: Hận thù diệt hận thù/ Đời này không thể có/ Từ bi diệt hận thù/ Là định luật thiên thu. Hận thù sẽ tiêu diệt những nụ sống, cũng như chiến tranh là con đường tự sát của nhân loại, chỉ có hòa bình, hòa bình tạm thời và hòa bình vĩnh cửu mới làm cho cuộc sống trường tồn, hành tinh xanh mãi mãi là quà tặng của vũ trụ vô tận vô biên dành cho con người.

Tình yêu hòa bình của những cựu binh Mỹ đã gặp gỡ hòa trộn với tình yêu hòa bình của những cựu binh và quân nhân Việt Nam. Sự hòa trộn rất con người ấy không thuộc về những công ty xuyên quốc gia, những dự án kinh tế mang tầm vóc toàn cầu, càng rất xa với vũ khí hạt nhân mà nó ở trong những con người bé nhỏ, nhạy cảm: những nhà thơ. Hòa bình ngân rung trong những cung bậc hiếm hoi cất lên dưới tầm bom đạn năm nào trong thơ Hữu Thỉnh: Em hát về rừng em hát về cây/ Em hát về người đang nghe em hát/ Anh bỗng quên vừa qua cơn sốt/ Rừng bỗng quên vừa trận bom đau. Con người biết nhớ nhưng cũng phải biết quên. Quên đi nỗi đau, nỗi mất mát của mình, quên đi hận thù từng được khắc ghi muôn đời muôn kiếp không tan để hướng tới cái đẹp hơn của cuộc sống. Con người cần sự tha thứ, tha thứ để sống an hòa cùng nhau mà sự biểu hiện đôi khi thật bình dị như nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã viết tặng một nhà thơ Mỹ: Những tâm tình bao năm chiến tranh/ Như hòa lẫn trong cốc bia sủi bọt.../ Thành phố Boston tôi và anh/ Và mặt trời rót tràn men ánh sáng. Trong Cẩm thạch và cỏ xanh, Nguyễn Việt Chiến run rẩy một khúc nguyện cầu bình yên cho con người: Hỡi những ai đã yên nằm dưới cỏ/ Cỏ bốn mùa xanh một khúc ru/ Hỡi những ai chưa phải nằm dưới đó/ Đừng làm đau một ngọn cỏ bao giờ. Đi qua chiến tranh tàn khốc những người lính rất dễ bị cỗi cằn, úa héo, kể cả tình yêu từng tốt tươi trong họ. Nhưng không, với Trần Quang Quý thì quà tặng của người lính trận vẫn là tiếng hát của yêu thương: Anh đây/ Em đừng lạ và em đừng nhìn vậy/ Nếu vết thương anh có thể trên mình/ Anh nguyên vẹn bằng trái tim không đổi khác/ Em lại đến thế là anh lại hát/ Một nồng nàn vồng ngực tặng em đây. Và, nhà thơ trẻ Nguyễn Phan Quế Mai khi đứng trước bức tường chiến tranh Việt Nam ở Washington đã bốc cháy: 58.267 cái tên đã nã súng vào tôi/ Mũi giày họ còn loang vết máu/ Tôi muốn chôn họ thêm lần nữa/ Chất độc da cam rực lên màu lửa/ Nguyễn Thị Kim Phúc bốc cháy băng qua những hàng tên và nhòa lệ: Từng cái tên khảm vào da thịt tôi thành từng khuôn mặt 58.267 người đã chết/ Đỏ quạch Washinton chiều nay/ Hoàng hôn hay nước mắt?

Khi được giới thiệu phát biểu tôi nói: năm 1964, lúc tôi 8 tuổi, máy bay Mỹ ném quả bom đầu tiên xuống làng tôi. Năm 1968, khi tôi 12 tuổi, mẹ tôi bị chết vì bom bi Mỹ. Tôi từng nghĩ: tôi sẽ mang mối thù này hết cuộc đời mình, sống để dạ chết mang theo như người Việt Nam nói. Nhưng các bạn biết đấy, đến hôm nay, đến bây giờ nỗi đau mất mẹ trong tôi dẫu vẫn còn nhưng sự hận thù đã vơi cạn và hầu như không còn nữa. Tôi bắt tay, tôi ôm hôn các bạn như những người thân. Bởi vì, tôi nghĩ hận thù không làm cho con người lớn lên được. Chỉ có hòa giải hòa hợp cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Yêu hòa bình, đó là cái chung của chúng ta. Rồi tôi rưng rưng đọc Bông huệ trắng bài thơ được tặng thưởng thơ hay nhất Văn nghệ quân đội năm 1995 nay đã được Nguyễn Phan Quế Mai và tiến sĩ nhà thơ Edward Tick dịch qua tiếng Anh. Tôi chuyển đến các bạn Mỹ giấc mơ của những người mẹ Việt Nam sau chiến tranh: Những người lính trở về têm cho mẹ miếng trầu cay/ giấc mơ mẹ đỏ tươi từng giọt máu/ những người lính trở về xòe tay trên bếp khói/ giấc mơ mẹ mình đơm óng ả hạt mùa chiêm/ những người lính trở về đánh rạ dọn rơm/ giấc mơ mẹ bay la dòng sữa trắng/ những người lính trở về cười ngượng nghịu/ giấc mơ người bật dậy tiếng oa…oa. Nhiều đôi mắt của các bạn Mỹ ngân ngấn nước. Có bạn nói: tôi sẽ mang câu chuyện của Quý về nước Mỹ. Một kỷ niệm buồn về chiến tranh, cái chết của mẹ tôi, chỉ ngần ấy thôi.

Quên quá khứ là có tội với người đã khuất, nhưng quan trọng và cần thiết hơn vẫn là hiện tại và tương lai. Chính vì thế, không gì đúng hơn, đẹp hơn, thiết thực hơn như nhà thơ trẻ người Mỹ J.FossenBell đã viết: Ngay cả bây giờ chiến tranh cũng chưa chấm dứt ở nơi nào đó,/ và cứ thế chúng ta phải tự nuôi sống mình bằng hòa bình tạm thời,/ và cứ thế và cứ thế chúng ta đi bỏ lại sau lưng quá khứ...

Vâng, bỏ lại quá khứ đau buồn tang tóc sau lưng để cùng tiến về phía trước: Tương lai!

Đồng Xa 15.10.2010
N.H.Q
(261/11-10)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Vậy là tròn một năm kể từ sớm đông ấy Nguyễn Xuân Hoàng giã biệt cõi trần khi Huế còn chìm trong sương giá. Chỉ vỏn vẹn 99 ngày gắn bó, nhưng anh là nỗi ray rứt giữa lúc Sông Hương đang ẩn hình những ngọn sóng... Lật giở hơn ngàn trang bản thảo của anh, mấy ai không giật mình trước sự cay cực đến xót xa để có được một đời văn bình dị?Giỗ đầu, bạn bè và đồng nghiệp Xuân Hoàng đã cùng với Sông Hương thắp lên nén nhang tri ngộ...(Nguyễn Khắc Thạch - Lê Văn Chương - Hoàng Diệp Lạc - T. E - Nguyễn Trương Khánh Thi - Đinh Thu - Ngàn Thương - Trần Hạ Tháp - Nhất Lâm)

  • NGÔ MINHTrong những bài viết trước, chúng tôi đã hé lộ đôi chút về những mối tình sau này của Phùng Quán. Lần này lại một mối tình nữa, mà hình như là mối tình đầu ly kỳ hơn đã được Phùng Quán tự kể và chị Bội Trâm phát hiện ra.

  • HOÀNG VŨ THUẬT           Chưa ai để ý đến đâu           Cây đứng khép mình lặng lẽ...                                        (Cây lặng im)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊMột chiều Xuân bên sông Hương. Mặt trời suốt ngày ẩn sau lớp mây xám nhạt nay đã khuất hẳn dưới dãy Kim Phụng xanh thẫm nhấp nhô đằng xa ở bên kia bờ. Một chiếc thuyền từ phía Ngã Ba Tuần hối hả xuôi dòng, tiếng máy nổ khuấy động giây lát mặt sông phẳng lặng trong màn sương chiều mờ ảo bắt đầu buông xuống.

  • NGÔ MINHMỗi nhà văn có một “gu” ẩm thực riêng, không lẫn. Vũ Bằng, Nguyễn Tuân sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nên rất sành ăn và viết rất hay về các món ăn tinh tế và đài các của Thủ Đô. Nhà văn Phùng Quán cũng có một cá tính ẩm thực rất đặc biệt.

  • TRỊNH THANH SƠN  A. Anh là hoạ sĩ, Nghệ sĩ ưu tú của ngành sân khấu, lại còn là một nhà thơ, nhà viết kịch, nhà báo xông xáo... Ngần ấy công việc anh sắp xếp bố trí theo thời gian như thế nào và anh dành quyết tâm cho việc nào hơn cả?

  • XUÂN ĐÀI(Trích ký sự)Trong gần mấy trăm vòng hoa viếng Phùng Quán, có một vòng hoa rất đặc biệt. Đó là vòng hoa của "những người câu cá trộm" cư ngụ ở những làng dọc đê Yên Phụ, chủ yếu là làng Nghi Tàm, xã Quảng An, Hà Nội. Kèm theo vòng hoa là một phong bì phúng điếu mà số tiền gấp đôi tiền phúng điếu của cơ quan Hội Nhà văn Việt .

  • NGUYỄN TRỌNG HUẤN(Mười năm Kỷ niệm... Một cuộc rong chơi)Trong quan hệ bè bạn lâu năm, có lẽ chưa lần nào chúng tôi có với nhau một cuộc rong chơi đã đời và thú vị như lần ấy. Mà hình như đấy là cuộc đi cuối cùng của Quán trong cõi đời này. Còn những cuộc du hí tiếp theo ở thế giới bên kia với những ai thì cho đến bây giờ tôi cũng không được rõ lắm.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTrong câu chuyện vui của giới văn nghệ sĩ trước những công việc có tính chất tổng kết, phân loại đội ngũ, một số người được anh em phong tặng danh hiệu “nhà-thơ-một-bài”, “nhạc-sĩ-một-bài”...

  • LTS: Do đặc trưng nghề nghiệp nên mỗi nhà văn đều có thiên chức một nhà giáo. Bởi vậy, những người vừa là nhà giáo vừa là nhà văn thì đều có thể gọi họ là những nhà giáo kép.Nhân ngày nhà giáo Việt Nam, Sông Hương trân trọng giới thiệu một số ý kiến của các nhà giáo "kép" ở Huế nói về cái nghiệp dĩ riêng mang tính xã hội cao của họ.

  • HỒ THẾ HÀTrại sáng tác Văn học nghệ thuật năm 2002 do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế và Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức từ ngày 27 - 8 - 2002 đến ngày 6 - 9 - 2002 đã thành công và để lại những trang viết giàu ấn tượng về cuộc sống và con người, đặc biệt là cuộc sống và con người Phú Thuận, Phú Vang - vùng quê có nhiều truyền thống và tiềm năng văn hoá vật chất và phi vật chất vừa trải qua một nỗi đau lớn do thiên tai gây ra.

  • ĐẶNG NHẬT MINHNhững ngày đầu tiên khi bước chân vào con đường sáng tác điện ảnh tôi đã may mắn có nhà văn Hoàng phủ Ngọc Tường ở bên cạnh.

  • TRẦN HUY THANHTừ ngày 1 đến 15/7/2002, được sự giúp đỡ của Bộ Văn hoá Thông tin, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế đã cử đoàn văn nghệ sĩ đi dự trại sáng tác văn học nghệ thuật tại Nhà sáng tác Vũng Tàu.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊBạn đọc cả nước - nhất là những ai quan tâm đến lịch sử và tiểu thuyết lịch sử - hẳn đã biết Nguyễn Mộng Giác là tác giả bộ tiểu thuyết trường thiên “Sông Côn mùa lũ” (SCML) 4 tập, 2000 trang viết về thời Tây Sơn-Nguyễn Huệ (NXB Văn học-Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản năm 1998).

  • "Những bức tranh sơn thủy đầu tiên đã chiêu đãi chúng tôi quýt cam và bánh mỳTrưa no nê nhìn phố xá trăm màu.Tối tìm chỗ ngủ lang thang nhớ mẹ".

  • Sau ngày thất thủ Kinh đô (Huế), vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân đứng lên chống Pháp. Sau ba năm chiến đấu ở rừng sâu, vua Hàm Nghi bị Trương Quang Ngọc làm phản bắt vua nộp cho Pháp. Để cách ly ngọn cờ yêu nước với quốc dân Việt Nam, cuối năm 1888, thực dân Pháp đã lưu đày vua Hàm Nghi qua Algérie thuộc Pháp. Không hy vọng có ngày được trở lại Việt Nam, nên vua Hàm Nghi đã lập gia đình tại Algérie rồi 40 năm sau ông mất ở đó.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGPhương mất đột ngột ở Quảng Trị. Nghe tin anh ra đi, bạn bè văn nghệ Huế không bàng hoàng, cũng không cảm thấy sửng sốt. Chỉ thấy lòng bùi ngùi, như khi ta nhìn thấy một ngôi sao chưa bao giờ sáng bỗng một ngày tắt lịm trong lặng lẽ.

  • LTS: Phan Đăng Lưu là một nhà cách mạng tiền bối, tiêu biểu của Đảng từng hoạt động ở Huế và có ảnh hưởng lớn đến trí thức văn nghệ sĩ yêu nước thời bấy giờ. Chính nhà thơ Tố Hữu cũng đã thổ lộ điều đó trong bài thơ Quê me (Anh Lưu anh Diểu dạy con đi).Nhân 100 năm ngày sinh Phan Đăng Lưu (5.5.1902 – 5.5.2002), Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một số tư liệu về đồng chí, đặc biệt là bức Thư viết từ khám tử hình – bức thư mang đặc trưng "đa nghĩa" của một tác phẩm văn học nên nó đã vượt qua được sự kiểm duyệt khắt khe của kẻ thù.

  • PHÙNG QUÁN... Vì vậy mà có sự rung động bí mật của ý nghĩ, khiến nhà bác học trở thành người thần bí, và thi sĩ thành đấng tiên tri.                                                    (Victor Hugo - Lao động biển cả).

  • NGUYỄN QUANG HÀRa Hà Nội mùa thu này tôi muốn đến thăm anh Lê Khả Phiêu. Những ngày anh đương chức, đến, người ta nghĩ mình cơ hội. Nhưng nay anh đã nghỉ, đến thăm là nghĩa tình đời. Lòng mong muốn ấy của tôi, được anh chấp nhận và hẹn giờ gặp.