Lâm Thị Mỹ Dạ - phía trước cuộc đời

10:25 11/08/2025
(Để nhớ ngày nhà thơ đi xa - 6/7/2023)

Đã có nhiều bài viết của các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học… về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Tựu trung đều thống nhất rằng, thơ Mỹ Dạ là những rung cảm nữ tính, là sự hồn nhiên trong những tứ thơ bất ngờ… Còn về tính cách con người chị, tất cả đều có chung cảm nhận: Lâm Thị Mỹ Dạ là một phụ nữ dịu dàng, nhân ái, luôn dành tình cảm chân thành cho mọi người.

Năm 2008, trong bài tôi viết về người chồng của chị, nhan đề được ghi là: “Hoàng Phủ Ngọc Tường - phía sau tác phẩm”. Trong bài viết này, về chị, không hiểu vì sao, cái nhan đề bỗng dưng vô cớ xuất hiện: “Lâm Thị Mỹ Dạ - phía trước cuộc đời”. Đó là một điều ngoài ý muốn. Vì sao? Phải chăng, đó là một vận động tự nhiên của tâm thức từ sâu kín của bản thân người viết, khi tàng thức bất chợt phát lộ để cho thấy, rằng ấy là sự gắn bó giữa hai cuộc đời Hoàng Phủ và Mỹ Dạ (cũng là hai dòng tâm thức) tồn tại bên nhau suốt nửa thế kỷ? Nếu nói theo ngôn ngữ nhà Phật, đó là sự cộng nghiệp? (Tất cả mọi người đều cộng nghiệp với những người thân gần nhất). Tuy nhiên, dù cộng nghiệp, mỗi người vẫn là một thế giới riêng: Làm sao anh đủ sâu/ Cho em soi hết bóng/ Làm sao anh đủ rộng/ Che mát cho đời em/ Làm sao anh đủ cao/ Để thấy em cho hết…/ Cuộc đời bao nhọc mệt/ Cuộc đời bao dịu êm (Nhỏ bé tựa búp bê). Bài thơ này, Mỹ Dạ viết vào năm 1995, lúc chị đã bước đến gần cái ngưỡng “biết mệnh trời”. Mệnh trời, cũng là mệnh người, sau khi đã trải qua nhiều ngọt-bùi-đắng-chát trong cuộc phù thế.

Mười lăm năm trước, khi xin thơ của chị để in trên báo Đà Nẵng số ra ngày 14/10/2010, trong cái chapeau nhỏ, đã viết vài dòng: Năm 1973, bài thơ Khoảng trời - hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ như một ánh phản chiếu hiện thực chiến tranh, thông qua tâm hồn một người trẻ tuổi. Từ đó, thơ trở thành nỗikhông-rời, với bao ngọt ngào cay đắng. Nhưng dù ở thể loại nào, những yếu tố làm nên giọng thơ riêng ấy, vẫn là trái tim biết sống và yêu thương. Trái tim ấy, dưới góc nhìn thẩm mỹ học và đạo đức học, chính là thái độ sống của nhà thơ. Xa hơn, có thể là của Con Người. Khi nói “xa hơn”, phải chăng là muốn nói về phía trước: Phía trước cuộc đời chị. Những bước-đời đặt lên phía trước ấy cũng là thái độ đạo đức, thái độ sống của Lâm Thị Mỹ Dạ. Của con người. Của con người Lâm Thị Mỹ Dạ.

*

Vẫn thường tự nghĩ: trước khi trở thành nhà thơ, trước hết, phải làm người. Với Lâm Thị Mỹ Dạ trong lần gặp đầu tiên vào năm 1974, đó là một người phụ nữ tốt bụng, hồn nhiên. Lần ấy, khi cùng các anh Hải Bằng, Hà Linh Chi và Trần Nhật Thu đến thăm chị tại Cộn (Đồng Hới), tôi còn có trách nhiệm giao tập di cảo thơ “Sao rừng” của anh Trần Quang Long (hy sinh năm 1968) đến anh Hoàng Phủ Ngọc Tường (nhưng không gặp). Tiếp khách từ miền Nam ra, chị tất tả đuổi bắt gà để đãi cơm chúng tôi. Đã cố ngăn chị, vì thầm biết đó là con gà mái duy nhất đang nuôi để đẻ trứng, có thêm chút “bồi dưỡng” trong những năm thiếu kém ấy. (Hơn 30 năm sau, Mỹ Dạ cũng đã thực lòng “ngăn lại”, khi tôi định thay đổi bút danh). Nghĩ cũng nên “nói dài” một chút rằng, thời kỳ ấy, tình cảm quý trọng thương mến nảy sinh rất nhanh giữa những người mới gặp nhau lần đầu, không phân biệt Bắc - Nam, giới tính, tuổi tác… Với Mỹ Dạ, nét dịu dàng - hồn nhiên là một phía chân dung con người chị. Là tình cảm chân thành của người phụ nữ Việt đối với bằng hữu, nhất là của một nhà thơ như chị. Cái tình ấy càng đằm sâu và đẹp đến rưng rưng khi ôm đứa con đầu lòng: Đôi làn môi con/ Nghiêng về vú mẹ/ Như cây lúa nhỏ/ Nghiêng về phù sa/ Như hương hoa thơm/ Nghiêng về ngọn gió... (Trắng trong).

*

Nhưng không hiểu vì sao, mỗi khi nhớ đến Lâm Thị Mỹ Dạ, lại hiện ra bài thơ “Về bức tranh Giấc ngủ người du mục của Henri Rousseau”: Đêm sa mạc/ Con sư tử cúi nhìn/ Chạm mái tóc nàng/ Ánh mắt như say/ Sư tử hôn nàng hay nuốt chửng ai hay?/ Phải sư tử kia là biểu tượng thời gian/ Với cái ác đồng hành cùng một phía?/ Đêm sa mạc trắng/ Người đàn bà đen/ Cây đàn, bầu rượu/ Đầy trăng…

Hình tượng người-đàn-bà-đen ấy nói lên điều chi, biểu thị cho ẩn ngôn gì? Phải chăng, cái sắc gọi-là-đen ấy lại chính là tinh thể của những giá trị thanh sạch của người? Cái sắc đen ấy lại trở về trong những lần tự-vấn-kiếm-tìm khác, những khoảnh khắc mà Gió mùa xuân choàng qua vai thiếu phụ/ Người đàn bà nói một câu rất nhỏ/ Chỉ để mình nghe/ Chỉ để gió nghe… (Người đàn bà mặc áo choàng đen).

Không, không phải chỉ có gió nghe lời Mỹ Dạ nói, dù trong những thời khắc buồn đau nhất, chị đã rơi vào nỗi tuyệt vọng (như bất cứ nhà thơ chân chính nào khác cũng đã từng trải qua!). Đó là Con Đường của chị, nơi trái tim dịu hiền ngơ ngác ấy phải rỉ máu trước bao ma chiết đời:

Mũi tên ngọt ngào
Mũi tên đau nhói
Trái tim tôi thương tích khắp mình
Những vết - thương - màu - xanh êm buốt!

                                                (Dalida)

Nỗi đau ấy của Mỹ Dạ, cũng là của Phận Người. Nhưng lạ kỳ thay (và cũng may thay), chính nỗi đau lại trở thành cây cầu dẫn đến sự thức giấc để có thể bước ra khỏi vùng tối của tâm thức. Nói khác, nỗi đau là quà tặng của cuộc sống dành cho những ai biết bôi xóa cái Tôi chật hẹp để tan hòa vào cái Ta rộng lớn trong nỗ lực soi bóng mình vào Thời gian. Như thế, khác với thói thường nhân thế là chạy trốn, nhà thơ luôn biết dành vị trí trân trọng cho sự cô đơn; để từ đó ý thức dự phóng xuất hiện như nỗ lực vượt qua đau khổ:

Chẳng thể chôn những ảnh hình tan hiện
Dẫu cho nàng đã cố tình chôn
Trái tim đau là phần đất, có thể
Chiếc quan tài kia đặt xuống nặng nề
Nhưng nàng ơi, cuộc đời không phải thế
Mình tự chôn mình
Ngu ngốc làm sao
Hãy ngước nhìn trời cao sẽ thấy
Xuân còn đầy run rẩy, nôn nao…

             (Người đàn bà mặc áo choàng đen)

Con đường của bất cứ ai, khi đi đến khoảng cuối những tra vấn siêu hình đều có thể dẫn đến chỗ nhận ra ý nghĩa thực của Đời. Với nhà thơ, hiển nhiên Thơ là bệ phóng vừa để ngơi nghỉ vừa để băng lên; nhưng cuối cùng, đến lúc cũng phải từ giã thơ: đó chính là chỗ Dừng lại để chạm mặt với Hư vô, để làm sao có thể lặn sâu vào cái vẫn quen gọi-là Không. Hẳn nhiên, khái niệm về cái Không ấy, ở đây - với Mỹ Dạ, không hề mang màu sắc niềm tin tôn giáo, như The Upanishad từng hiển lộ: “không gian là nơi chúng thực sự bắt đầu, và cuối cùng cũng là nơi chúng kết thúc”. Cũng không phải nhận thức lý tính theo góc nhìn của khoa học hiện đại để diễn bày căn nguyên của vũ trụ, như nhà vật lý lý thuyết John A.Wheeler (1911 - 2008) kết luận: “Vũ trụ có sẵn sự tồn tại chân không… Để tạo ra mọi vật, nguyên tắc không-có-gì của chúng ta là đầy đủ”. Cái điểm đến cuối cùng của nhà thơ, của con người Mỹ Dạ chính là trái quả tất yếu sau những bước chân không dừng lại, trên hành trình làm người, một cuộc đi không nhẹ nhàng với nhiều nghịch lý bên trong và bên ngoài… Có lẽ, đó cũng là phía-trước-cuộc-đời chị. Của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Và của những ai biết chọn cho mình Lẽ-Sống-Làm-Người. Còn nhớ trong một lần trò chuyện, khi nghe lời bày tỏ rằng: “đến một lúc nào, có lẽ/ những dòng thơ muốn viết/ chỉ còn yên lặng”, Mỹ Dạ đã trung thực đồng cảm, rằng chị cũng “đã ném những câu thơ qua cửa sổ/ Không ghi lại trên trang giấy/ Không ghi lại trong trí nhớ/ Không ghi lại trong trái tim/ Tôi đã ném những câu thơ qua cửa sổ/ Như ném vào tận đáy cuộc đời/ Sự quên lãng chính mình/ Như ném đi phần tuổi trẻ mộng mơ/ Chẳng có ai phía bên đời nhặt lại/ Ai tiếc nuối chi/ Ai đánh thức?/ Những tứ thơ yên nghỉ tới vô cùng/ Rồi cỏ sẽ xanh trên tên tuổi chúng ta/ Dòng sông sương mù trôi mãi/ Những tứ thơ không bao giờ trở lại/ Tôi ném đi rồi qua cửa sổ đời tôi. (Những tứ thơ quên lãng).

*

Thơ có thể sẽ tàn phai. Như niềm thấm tận của Tiên Điền hơn 200 năm trước: Văn chương tàn tức nhược như ty (Văn thơ thoi thóp sợi tơ lay - Chu hành tức sự - Nguyễn Du). Như Lý Bạch từng cảm thán: Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch (Thương tiến tửu - Bao bậc hiền-thánh đều rơi vào quên lãng). Nhưng tình giữa người với người sẽ không phai, dù không ở đời này thì cũng ở một đời khác, nếu nhận biết được rằng sự sống không phải chấm dứt sau mấy mươi năm ngắn ngủi trên cái cuộc ngui ngút ngậm ngùi này, mà luôn tồn tại theo quy luật chớp-tắt của Dòng sống miên viễn. Nơi ấy, biết đâu, sẽ có lần gặp lại. Trong thoảng nhẹ hương bao màu hoa hư ảo thầm lan… Trong mềm dịu ánh sáng hiền nơi cõi trời khác.

5/2025
N.Đ.N
(TCSH437/07-2025)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • NGUYỄN QUANG HÀNgồi đọc NGÀN NĂM SAU mà như đang ngồi nói chuyện tay đôi với Nguyễn Trọng Bính. Giọng thơ anh cũng cứ chân chất, yêu quê hương và say đời như chính con người anh. Từ thời chiến tranh, chúng tôi đã ở trong rừng với nhau. Cứ ngồi với nhau là bộc bạch hết. Một lá thư riêng, một rung động mới, chúng tôi cũng chia sẻ với nhau.

  • PHAN THÀNH MINHĐó cũng là tựa đề tập thơ rất dễ thương của Trần Tịnh Yên - nhà thơ của đất kinh kỳ thơ mộng thuở nào - thú thật  là tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tập thơ này do chính  tác giả gởi tặng, dễ thương ở chỗ khổ giấy nhỏ nhắn, trình bày đẹp trang nhã, sách 80 trang với 46 bài thơ cũng mỏng mảnh như thế nhưng nhìn rất thơ, càng thơ hơn nữa khi chính tác giả tự viết lời phi lộ cho mình, tôi rất hợp với anh ở điểm này bởi lẽ chẳng ai có thể thay thế cho mình bằng mình để nói hộ những gì mình muốn nói...:...năm xưa qua ngõ sân đìnhcó người nhặt được mối tình ai rơi

  • NAM NGỌC            (Về tập truyện ngắn mới nhất của nhà văn Võ Thị Xuân Hà do Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Phụ nữ xuất bản và phát hành quý I năm 2009)Tập truyện gồm 14 truyện  ngắn, với những mô típ khác nhau nhưng cùng chung gam màu thấm đẫm chất liệu hiện thực. Tất cả đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất mà ở đó các nhân vật dù xấu dù tốt cũng đều hướng tới cái đẹp, cái nhân bản của con người. Cách viết truyện lạ cùng với những chi tiết, tình tiết được lắp ghép một cách khéo léo, Võ Thị Xuân Hà đã một lần nữa gây ngạc nhiên cho người đọc bằng bút pháp ẩn không gian đa chiều của mình.

  • BÍCH THUHơn một thập niên trước đây, với hai truyện ngắn Hồi ức của một binh nhì và Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã đoạt giải cao trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992 - 1994. Tôi còn nhớ một trong số các nhà phê bình đã thành danh của nhà số 4 Lý Nam Đế không kìm được cảm xúc của mình với chùm truyện dự thi của Nguyễn Thế Tường lúc ấy đã thốt lên: “Tôi thích truyện ngắn Nguyễn Thế Tường”. Từ đó đến nay, Nguyễn Thế Tường vẫn miệt mài viết và lặng lẽ ra sách. Người đàn bà không hoá đá là lần ra mắt thứ năm của anh.

  • HOÀNG VŨ THUẬT                (Đọc “Trăng đợi trước thềm”, thơ Hải Bằng, NXB Thuận Hoá - 1987)Đổi mới là trách nhiệm vừa là bổn phận đang diễn ra sôi động trong đời sống văn học hôm nay. Nhưng ranh giới giữa cũ và mới không dễ dàng phân định khi đánh giá một tác phẩm văn chương nghệ thuật.

  • ĐINH NAM KHƯƠNG               (Nhân đọc “ru em ru tôi” Thơ Trương Vĩnh Tuấn NXB: Hội nhà văn - 2003)Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo văn nghệ. Nhưng chẳng bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao:                          “...Hình như hắn là nhà quê                          Hình như hắn từ quê ra...”                                                                (Gốc)

  • NGÔ MINHKhông thể đếm là tập thơ đầu tay của cây bút nữ Nguyễn Thị Thái người Huế, sống ở thành phố Buôn Ma Thuột vừa được NXB Thuận Hóa ấn hành. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ với tâm trạng phấn khích. Tập thơ có nhiều bài thơ hay, có nhiều câu thơ và thi ảnh lạ làm phấn chấn người đọc.

  • MINH KHÔICuối tháng bảy vừa qua, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Wayne S.Karlin và nữ phóng viên Valerie, công tác ở một Đài phát thanh thuộc bang Maryland, Mỹ đã đến Huế tìm thăm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, để chuyển cho chị bản hợp đồng in ấn và phát hành tập thơ Green Rice (Cốm Non) do cơ quan xuất bản gửi từ Mỹ sang.

  • FRED MARCHANTCó những vết thương chẳng thể nào lành lặn và có những nỗi đau chẳng bao giờ mất đi. Kinh nghiệm nhân loại khuyên ta không nên “chấp nhận” hay “bỏ đi” hay “vượt lên” chúng. Với một con người mà tâm hồn thương tổn vì đã làm cho người khác khổ đau hay chứng kiến nhiều nỗi đau khổ thì những câu nói như thế hoàn toàn vô nghĩa.

  • BÍCH THU          (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.

  • ĐÔNG HÀVăn hoá và văn học bao giờ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể thấy rằng văn học là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự ảnh hưởng của văn hoá. Khi soi vào một thời kì văn học, người đọc có thể thấy được những khía cạnh về phương diện đời sống văn hoá tinh thần của một thời đại, một giai đoạn của xã hội loài người.

  • HÀ KHÁNH LINHViết được một câu thơ hay có khi phải chiêm nghiệm cả một đời người, hoàn thành một tập truyện, một tập thơ là sự chắt chiu miệt mài suốt cả quá trình, sau Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VII Lê Khánh Mai liên tiếp trình làng tập thơ "Đẹp buồn và trong suốt như gương" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và "Nết" tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Đà Nẵng).

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCó người làm thơ dễ dàng như suối nguồn tuôn chảy không bao giờ vơi cạn. Có người làm thơ khó khăn như đàn bà vượt cạn trong cơn đau sinh nở. Có người không đầy cảm xúc cũng làm được ra thơ. Có người cảm xúc dâng tràn mà trước thơ ngồi cắn bút. Thơ hay, thơ dở, thơ dở dở ương ương tràn ngập chợ thơ như trên trời dưới đất chỉ có thơ. Thơ nhiều đến ngạt thở chứ thơ chẳng còn tự nhiên như hơi thở mà ta vẫn hoài vọng một thời.

  • THẠCH QUỲSuốt đời cần mẫn với công việc, luôn mang tấm lòng canh cánh với thơ, vì thế, ngoài tập “Giọng Nghệ” in riêng và bao lần in chung, nay Ngô Đức Tiến lại cho ra tập thơ này.

  • Trong đội ngũ những người hoạt động văn nghệ tại Thừa Thiên Huế, bên cạnh các Hội chuyên ngành trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (như Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Âm nhạc…) có một tổ chức gọi là “Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên Huế”(CHNV).

  • Hà Khánh Linh xuất thân trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở Huế. Tên khai sinh của chị là Nguyễn Khoa Như Ý. Năm 20 tuổi, đang học dở dự bị đại học Khoa Học Sài Gòn thì chị quyết định bỏ học để gia nhập quân Giải phóng. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu chị đã từng đi dạy, làm phóng viên Đài phát thanh Giải phóng, Đài phát thanh Bình Trị Thiên, làm biên tập, Thư ký Tòa soạn rồi Phó tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Chị quen biết và giao tiếp khá rộng từ các vị quan chức đến các vị đại đức, linh mục, trí thức... cùng những năm tháng gian khổ ở chiến trường Trị Thiên, những chuyến đi thực tế ở Căm pu chia... đã giúp chị có một vốn sống hết sức phong phú.

  • Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên bên bờ sông Kiến Giang thơ mộng. Nhưng tuổi thơ của chị chứa đầy buồn đau và nước mắt: Mẹ không có cửa nhà/  Em đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa? Nỗi tuyệt vọng cứ ám ảnh suốt cả tuổi thơ của chị. Trong một bài thơ đầu tay chị viết: Tuổi thơ tôi như ráng chiều đỏ lựng/ Hắt máu xuống dòng sông đen.

  • Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi chị đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng (1975). Tốt nghiệp vào loại xuất sắc, chị được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở trường đại học Sư phạm Huế. Dạy ở trường đại học Sư phạm Huế được một vài năm, chị chuyển sang làm công tác biên tập ở nhà xuất bản Thuận Hóa. Đây là một quyết định khá táo bạo và sáng suốt. Làm việc ở nhà xuất bản, chị có điều kiện viết lách hơn.

  • LÊ HUỲNH LÂM                 (Đọc Viết bên Hộ Thành hào - thơ Nguyên Quân -, Nxb Thuận Hoá, 2009)Giữa những đổ nát hoang tàn quá khứ và hiện tại, khi mà thang giá trị bị đảo lộn, những mảnh vỡ đang vung vãi mọi nơi, tác giả lại tìm đến Hộ Thành hào để nhìn ngắm cõi lòng đang hỗn hênh mọi thứ và như chợt nhận ra niềm hy vọng mỏng mảnh, anh đã Viết bên Hộ Thành hào.

  • HOÀNG DIỆP LẠCBất chợt giữa một ngày mưa gió, nhìn những hạt nước toé lên từ mặt đất như những đoá hoa mưa. Một loài hoa của ảo giác. Có thể trong tâm trạng như vậy, Lê Tấn Quỳnh chợt hỏi:Hoa vông vangCó hay không