Đã có nhiều bài viết của các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học… về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Tựu trung đều thống nhất rằng, thơ Mỹ Dạ là những rung cảm nữ tính, là sự hồn nhiên trong những tứ thơ bất ngờ… Còn về tính cách con người chị, tất cả đều có chung cảm nhận: Lâm Thị Mỹ Dạ là một phụ nữ dịu dàng, nhân ái, luôn dành tình cảm chân thành cho mọi người.
Năm 2008, trong bài tôi viết về người chồng của chị, nhan đề được ghi là: “Hoàng Phủ Ngọc Tường - phía sau tác phẩm”. Trong bài viết này, về chị, không hiểu vì sao, cái nhan đề bỗng dưng vô cớ xuất hiện: “Lâm Thị Mỹ Dạ - phía trước cuộc đời”. Đó là một điều ngoài ý muốn. Vì sao? Phải chăng, đó là một vận động tự nhiên của tâm thức từ sâu kín của bản thân người viết, khi tàng thức bất chợt phát lộ để cho thấy, rằng ấy là sự gắn bó giữa hai cuộc đời Hoàng Phủ và Mỹ Dạ (cũng là hai dòng tâm thức) tồn tại bên nhau suốt nửa thế kỷ? Nếu nói theo ngôn ngữ nhà Phật, đó là sự cộng nghiệp? (Tất cả mọi người đều cộng nghiệp với những người thân gần nhất). Tuy nhiên, dù cộng nghiệp, mỗi người vẫn là một thế giới riêng: Làm sao anh đủ sâu/ Cho em soi hết bóng/ Làm sao anh đủ rộng/ Che mát cho đời em/ Làm sao anh đủ cao/ Để thấy em cho hết…/ Cuộc đời bao nhọc mệt/ Cuộc đời bao dịu êm (Nhỏ bé tựa búp bê). Bài thơ này, Mỹ Dạ viết vào năm 1995, lúc chị đã bước đến gần cái ngưỡng “biết mệnh trời”. Mệnh trời, cũng là mệnh người, sau khi đã trải qua nhiều ngọt-bùi-đắng-chát trong cuộc phù thế.
Mười lăm năm trước, khi xin thơ của chị để in trên báo Đà Nẵng số ra ngày 14/10/2010, trong cái chapeau nhỏ, đã viết vài dòng: Năm 1973, bài thơ Khoảng trời - hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ như một ánh phản chiếu hiện thực chiến tranh, thông qua tâm hồn một người trẻ tuổi. Từ đó, thơ trở thành nỗikhông-rời, với bao ngọt ngào cay đắng. Nhưng dù ở thể loại nào, những yếu tố làm nên giọng thơ riêng ấy, vẫn là trái tim biết sống và yêu thương. Trái tim ấy, dưới góc nhìn thẩm mỹ học và đạo đức học, chính là thái độ sống của nhà thơ. Xa hơn, có thể là của Con Người. Khi nói “xa hơn”, phải chăng là muốn nói về phía trước: Phía trước cuộc đời chị. Những bước-đời đặt lên phía trước ấy cũng là thái độ đạo đức, thái độ sống của Lâm Thị Mỹ Dạ. Của con người. Của con người Lâm Thị Mỹ Dạ.
*
Vẫn thường tự nghĩ: trước khi trở thành nhà thơ, trước hết, phải làm người. Với Lâm Thị Mỹ Dạ trong lần gặp đầu tiên vào năm 1974, đó là một người phụ nữ tốt bụng, hồn nhiên. Lần ấy, khi cùng các anh Hải Bằng, Hà Linh Chi và Trần Nhật Thu đến thăm chị tại Cộn (Đồng Hới), tôi còn có trách nhiệm giao tập di cảo thơ “Sao rừng” của anh Trần Quang Long (hy sinh năm 1968) đến anh Hoàng Phủ Ngọc Tường (nhưng không gặp). Tiếp khách từ miền Nam ra, chị tất tả đuổi bắt gà để đãi cơm chúng tôi. Đã cố ngăn chị, vì thầm biết đó là con gà mái duy nhất đang nuôi để đẻ trứng, có thêm chút “bồi dưỡng” trong những năm thiếu kém ấy. (Hơn 30 năm sau, Mỹ Dạ cũng đã thực lòng “ngăn lại”, khi tôi định thay đổi bút danh). Nghĩ cũng nên “nói dài” một chút rằng, thời kỳ ấy, tình cảm quý trọng thương mến nảy sinh rất nhanh giữa những người mới gặp nhau lần đầu, không phân biệt Bắc - Nam, giới tính, tuổi tác… Với Mỹ Dạ, nét dịu dàng - hồn nhiên là một phía chân dung con người chị. Là tình cảm chân thành của người phụ nữ Việt đối với bằng hữu, nhất là của một nhà thơ như chị. Cái tình ấy càng đằm sâu và đẹp đến rưng rưng khi ôm đứa con đầu lòng: Đôi làn môi con/ Nghiêng về vú mẹ/ Như cây lúa nhỏ/ Nghiêng về phù sa/ Như hương hoa thơm/ Nghiêng về ngọn gió... (Trắng trong).
*
Nhưng không hiểu vì sao, mỗi khi nhớ đến Lâm Thị Mỹ Dạ, lại hiện ra bài thơ “Về bức tranh Giấc ngủ người du mục của Henri Rousseau”: Đêm sa mạc/ Con sư tử cúi nhìn/ Chạm mái tóc nàng/ Ánh mắt như say/ Sư tử hôn nàng hay nuốt chửng ai hay?/ Phải sư tử kia là biểu tượng thời gian/ Với cái ác đồng hành cùng một phía?/ Đêm sa mạc trắng/ Người đàn bà đen/ Cây đàn, bầu rượu/ Đầy trăng…
Hình tượng người-đàn-bà-đen ấy nói lên điều chi, biểu thị cho ẩn ngôn gì? Phải chăng, cái sắc gọi-là-đen ấy lại chính là tinh thể của những giá trị thanh sạch của người? Cái sắc đen ấy lại trở về trong những lần tự-vấn-kiếm-tìm khác, những khoảnh khắc mà Gió mùa xuân choàng qua vai thiếu phụ/ Người đàn bà nói một câu rất nhỏ/ Chỉ để mình nghe/ Chỉ để gió nghe… (Người đàn bà mặc áo choàng đen).
Không, không phải chỉ có gió nghe lời Mỹ Dạ nói, dù trong những thời khắc buồn đau nhất, chị đã rơi vào nỗi tuyệt vọng (như bất cứ nhà thơ chân chính nào khác cũng đã từng trải qua!). Đó là Con Đường của chị, nơi trái tim dịu hiền ngơ ngác ấy phải rỉ máu trước bao ma chiết đời:
Mũi tên ngọt ngào
Mũi tên đau nhói
Trái tim tôi thương tích khắp mình
Những vết - thương - màu - xanh êm buốt!
(Dalida)
Nỗi đau ấy của Mỹ Dạ, cũng là của Phận Người. Nhưng lạ kỳ thay (và cũng may thay), chính nỗi đau lại trở thành cây cầu dẫn đến sự thức giấc để có thể bước ra khỏi vùng tối của tâm thức. Nói khác, nỗi đau là quà tặng của cuộc sống dành cho những ai biết bôi xóa cái Tôi chật hẹp để tan hòa vào cái Ta rộng lớn trong nỗ lực soi bóng mình vào Thời gian. Như thế, khác với thói thường nhân thế là chạy trốn, nhà thơ luôn biết dành vị trí trân trọng cho sự cô đơn; để từ đó ý thức dự phóng xuất hiện như nỗ lực vượt qua đau khổ:
Chẳng thể chôn những ảnh hình tan hiện
Dẫu cho nàng đã cố tình chôn
Trái tim đau là phần đất, có thể
Chiếc quan tài kia đặt xuống nặng nề
Nhưng nàng ơi, cuộc đời không phải thế
Mình tự chôn mình
Ngu ngốc làm sao
Hãy ngước nhìn trời cao sẽ thấy
Xuân còn đầy run rẩy, nôn nao…
(Người đàn bà mặc áo choàng đen)
Con đường của bất cứ ai, khi đi đến khoảng cuối những tra vấn siêu hình đều có thể dẫn đến chỗ nhận ra ý nghĩa thực của Đời. Với nhà thơ, hiển nhiên Thơ là bệ phóng vừa để ngơi nghỉ vừa để băng lên; nhưng cuối cùng, đến lúc cũng phải từ giã thơ: đó chính là chỗ Dừng lại để chạm mặt với Hư vô, để làm sao có thể lặn sâu vào cái vẫn quen gọi-là Không. Hẳn nhiên, khái niệm về cái Không ấy, ở đây - với Mỹ Dạ, không hề mang màu sắc niềm tin tôn giáo, như The Upanishad từng hiển lộ: “không gian là nơi chúng thực sự bắt đầu, và cuối cùng cũng là nơi chúng kết thúc”. Cũng không phải nhận thức lý tính theo góc nhìn của khoa học hiện đại để diễn bày căn nguyên của vũ trụ, như nhà vật lý lý thuyết John A.Wheeler (1911 - 2008) kết luận: “Vũ trụ có sẵn sự tồn tại chân không… Để tạo ra mọi vật, nguyên tắc không-có-gì của chúng ta là đầy đủ”. Cái điểm đến cuối cùng của nhà thơ, của con người Mỹ Dạ chính là trái quả tất yếu sau những bước chân không dừng lại, trên hành trình làm người, một cuộc đi không nhẹ nhàng với nhiều nghịch lý bên trong và bên ngoài… Có lẽ, đó cũng là phía-trước-cuộc-đời chị. Của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Và của những ai biết chọn cho mình Lẽ-Sống-Làm-Người. Còn nhớ trong một lần trò chuyện, khi nghe lời bày tỏ rằng: “đến một lúc nào, có lẽ/ những dòng thơ muốn viết/ chỉ còn yên lặng”, Mỹ Dạ đã trung thực đồng cảm, rằng chị cũng “đã ném những câu thơ qua cửa sổ/ Không ghi lại trên trang giấy/ Không ghi lại trong trí nhớ/ Không ghi lại trong trái tim/ Tôi đã ném những câu thơ qua cửa sổ/ Như ném vào tận đáy cuộc đời/ Sự quên lãng chính mình/ Như ném đi phần tuổi trẻ mộng mơ/ Chẳng có ai phía bên đời nhặt lại/ Ai tiếc nuối chi/ Ai đánh thức?/ Những tứ thơ yên nghỉ tới vô cùng/ Rồi cỏ sẽ xanh trên tên tuổi chúng ta/ Dòng sông sương mù trôi mãi/ Những tứ thơ không bao giờ trở lại/ Tôi ném đi rồi qua cửa sổ đời tôi”. (Những tứ thơ quên lãng).
*
Thơ có thể sẽ tàn phai. Như niềm thấm tận của Tiên Điền hơn 200 năm trước: Văn chương tàn tức nhược như ty (Văn thơ thoi thóp sợi tơ lay - Chu hành tức sự - Nguyễn Du). Như Lý Bạch từng cảm thán: Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch (Thương tiến tửu - Bao bậc hiền-thánh đều rơi vào quên lãng). Nhưng tình giữa người với người sẽ không phai, dù không ở đời này thì cũng ở một đời khác, nếu nhận biết được rằng sự sống không phải chấm dứt sau mấy mươi năm ngắn ngủi trên cái cuộc ngui ngút ngậm ngùi này, mà luôn tồn tại theo quy luật chớp-tắt của Dòng sống miên viễn. Nơi ấy, biết đâu, sẽ có lần gặp lại. Trong thoảng nhẹ hương bao màu hoa hư ảo thầm lan… Trong mềm dịu ánh sáng hiền nơi cõi trời khác.
5/2025
N.Đ.N
(TCSH437/07-2025)
Tải mã QRCode
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.
Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.
PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.
ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.
NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".
HOÀNG KIM DUNG (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)
PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.
ANH DŨNGLTS: Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.
SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.
NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?
MINH QUANG Trời tròn lưng bánh tét Đất vuông lòng bánh chưng Dân nghèo thương ngày Tết Gói đất trời rưng rưng...
NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.
Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.
NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.
ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.
HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.
FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.
KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.