Cách Huế khoảng chừng 40 km, làng Phước Tích thuộc xã Phong Hòa- huyện Phong Điền từ lâu được biết đến với những ngôi nhà rường in bóng thời gian và nghề gốm truyền thống lâu đời.
Trải qua bao nhiêu năm thăng trầm lịch sử, Phước Tích giờ đây đã được nhiều người biết đến là một trong 2 làng di sản của Việt Nam với phong cảnh hữu tình của làng quê Việt, là điểm dừng chân lí tưởng cho nhiều du khách trong và ngoài nước. Đến Phước Tích cảm nhận đầu tiên đối với du khách là vẻ đẹp hài hòa giữa sông nước hữu tình và thiên nhiên thơ mộng. Một ngôi làng cổ trầm mặc được bao bọc bởi dòng sông Ô Lâu hiện lên quyến rũ với những con đường lát gạch trải dài, những cây bàng, cây thị bên bến nước rũ những chùm rễ in bóng xuống mặt sông.
Không dừng lại ở đó, vào sâu trong làng, du khách sẽ ngạc nhiên với vẻ đẹp của những ngôi nhà thờ họ và những ngôi nhà rường cổ được xây dựng từ xa xưa và đến nay vẫn được con cháu giữ gìn nằm dọc theo bên bờ sông Ô Lâu. Được biết ở Phước Tích hiện đang có 117 nóc nhà và trải qua biến cố thăng trầm vẫn còn đó 27 ngôi nhà cổ tuyệt đẹp nằm khép mình trong những hàng cây xanh mướt, các ngôi nhà thờ họ được thiết kế với kiến trúc độc đáo, đặc sắc mang nét đặc trưng riêng cho làng quê Phước Tích.
Đi vào trong làng, kì thú nhất là những ngõ nhỏ. Màu gạch đỏ phai màu rêu phong theo bước chân thời gian, được bao bọc bởi hàng chè tàu xanh mướt dẫn vào những ngôi nhà rường lặng lẽ núp mình sau những bức bình phong làm cho mỗi du khách khi đến đây sẽ ấn tượng đặc biệt với vẻ đẹp cổ kính, hoài niệm mà lại dân dã lắng đọng. Hiện nơi đây vẫn còn 27 ngôi nhà rường cổ đang được nhà nước và người dân trùng tu, bảo vệ. Vẻ đẹp của các ngôi nhà rường ở ngôi làng cổ đã hấp dẫn cho tất cả những du khách đến đây. Mái ngói đơn sơ thẳng tắp với những cột chèo trụ chống đỡ ngôi nhà. 3 gian 2 chái là đặc trưng nổi bật của các ngôi nhà rường nơi đây.
Nhắc đến làng cổ Phước Tích, không thể không nhắc đến dòng sông Ô Lâu hiền hòa, thơ mộng uốn quanh ôm ấp đã từng ghi dấu bao kỉ niệm tuổi thơ của con dân trong làng. Bốn mùa nước xanh trong, là dòng sông tắm mát những buổi trưa hè, là nơi chứng kiến sự thăng trầm, như thấu hiểu từng niềm vui nỗi buồn của người dân nơi đây. Đặc biệt hơn, với 12 bến nước như bến cây Cừa, cây Đa …từ lâu đã gắn liền với từng con xóm nhỏ trong làng giờ đã trở thành những điểm du lịch lí thú cho du khách khi tới đây.

Dòng sông Ô Lâu thơ mộng bao bọc làng cổ...
Con người Phước Tích sống giản dị, hiền hòa mà đôn hậu. Là làng quê, nhưng ngôi làng cổ này lại không có những đồng ruộng “thẳng cánh cò bay”, dân làng chủ yếu tập trung vào nghề làm gốm và trồng cây lấy hạt. Gốm Phước Tích được làm bởi đất sét dòng sông Ô Lâu, được thổi hồn từ đất và bàn tay của các nghệ nhân làng nên bất cứ sản phẩm nào làm ra cũng đầy tinh xảo và mang nét đẹp dân dã của quê hương. Trước đây gốm Phước Tích được biết đến với thương hiệu sản xuất gốm truyền thống, là một sản phẩm gốm đặc biệt cống nạp cho các vị vua nhà Nguyễn. Trải qua nhiều thời kì, sản phẩm gốm nơi đây đã được đem đi trao đổi với nhiều vùng miền, gốm Phước Tích đã có mặt trong đời sống của nhiều người dân trên khắp vùng đất Thuận Hóa.

Sản phẩm gốm truyền thống của dân làng Phước Tích
Đến làng cổ Phước Tích, du khách không chỉ được khám phá nét đẹp thơ mộng của dòng Ô Lâu, vẻ đẹp cổ kính của các ngôi nhà rường mà còn được thưởng thức nhiều món ăn dân dã của vùng đất quê hương, vào những dịp Festival còn được tự tay học nghề làm gốm và lắng nghe những giai điệu hò giã gạo thân thuộc. Chính vì thế, làng cổ Phước Tích thu hút rất nhiều du khách gần xa đặc biệt là những con người yêu nét yên bình cổ xưa và những hoạt động văn hóa đặc sắc của làng nghề.
Theo TRT
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.