Lần đầu về căn cứ

15:36 07/02/2013

NGUYỄN KIM CƯƠNG  

Những ngày đầu Tết Mậu Thân 1968, quân dân ta tấn công và nổi dậy khắp các thành thị miền Nam, buộc lực lượng Mỹ và quân đội Sài Gòn phải phân tán đối phó.

Ảnh: internet

Nhưng sau vài tuần, nhiều nơi tiếng súng đã tạm lắng, địch có điều kiện tập trung phản kích những nơi còn lại. Sư đoàn Kỵ binh Không vận (thường gọi là Sư đoàn Kỵ binh bay) và nhiều đơn vị tinh nhuệ cơ động của Mỹ và quân đội Sài Gòn được điều động ra chiến trường Thừa Thiên - Huế để đối phó với tình hình chiến sự tại đây.

Sau một thời gian trụ lại thành phố Huế và vùng ven, chúng tôi được lệnh rút dần lực lượng về vùng giải phóng.

Rời thành phố

Vậy là chúng tôi phải giã từ thành phố, giã từ giảng đường, thầy cô và bạn bè, giã từ những gia đình thân thiết đã đùm bọc, che chở giúp đỡ chúng tôi qua bao nhiêu năm tháng.

Đơn vị chúng tôi gồm đội công tác trực thuộc Thành ủy, đội biệt động thành và hơn 30 thanh niên, sinh viên học sinh thành phố Huế, rút dần ra hướng Bắc. Tôi được phân công phụ trách anh em thanh niên này. Lần đầu tiên đi đường vất vả và phải thường xuyên đối phó với những đợt phản kích của địch, nhưng anh em vẫn tin tưởng, lạc quan và yêu đời. Sau một thời gian hành quân từ Hương Trà đến Quảng Điền rồi lần ra Phong Điền, chúng tôi đã đến giáp giới huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị, ở đây sẽ có giao liên dẫn đường về cơ quan.

Cơm nước xong, khoảng 6 giờ chiều chúng tôi lên đường. Ai cũng phấn khởi vì sau bao ngày căng thẳng, được về căn cứ an toàn, nghỉ ngơi và học tập thì sung sướng quá. Chúng tôi vượt qua một nỗng cát khá dài. Những cây phi lao ở đây đã bị chặt trụi, chỉ còn trơ những gốc. Nếu không may đạp phải thì đau nhói thấu xương. Gần 11 giờ đêm, chúng tôi được lệnh dừng chân nghỉ tại chỗ. Đây là “điểm đợi”. Giao liên ở dưới lên và từ trên xuống đều đợi gặp nhau ở đây để giao “khách”. Chờ mãi không thấy, cả đoàn phải quay trở lại.

Về đến địa điểm tập kết thì đã gần sáng - chúng tôi mỗi người nhận một vắt cơm, cho đầy nước vào bi- đông rồi phân tán, chui vào giấu mình trong các đám cây mọc lúp xúp, có dây leo bò chằng chịt ở một vùng cát. Ngồi suốt ngày mệt mỏi, cũng có lúc ngủ thiếp đi, song trời nắng nóng quá, mồ hôi ra nhễ nhại. Hơn nữa đã mấy ngày qua không có điều kiện tắm giặt nên người cứ ngứa xót và bốc ra mùi hôi nồng khó chịu. Vất vả, nhưng kiên trì chịu đựng rồi khó khăn cũng qua đi. Đến chiều tối, chúng tôi lại cơm nước và lên đường.

Một đêm, hai đêm, ba đêm... cứ đi rồi lại trở lui, lại chui vào giữa đám dây leo. Đến ngày thứ tư thì Mỹ đổ quân xuống vùng nầy, đốt nhà, cướp của, bắn chết và làm bị thương một số dân thường. Tình hình căng thẳng quá, ở lại không được, mà cũng chẳng có đường lui, phải mở đường mà đi, không có cách nào khác.

Địch chốt trên đồi, chúng tôi đi dưới chân đồi, cả đoàn lặng lẽ dò bước trong đêm. Đám thanh niên, học sinh - sinh viên chúng tôi được ưu tiên đi trước, song rồi anh em cứ tụt dần về sau. Tôi và một số anh em hỏng giày dép phải đi chân đất, rát cả chân, mỗi lần đạp phải một viên sỏi đau buốt cả người. Tôi cũng lùi dần về sau so với đoàn và rồi trở thành người đi cuối cùng, cùng với các đồng chí lãnh đạo đoàn động viên anh em học sinh sinh viên vừa mệt vừa đau chân.

Một trận tập kích

Chúng tôi vượt qua sông Ô Lâu thì trời đã sáng. Rừng cây ở đây chỉ cao quá đầu người. Đi khoảng 15 phút nữa thì sẽ đến rừng già, an toàn. Bỗng có tiếng máy bay. Cả đoàn dừng lại, núp mình bên các lùm cây nhỏ, yên lặng. Chiếc L19 lượn quanh mấy vòng, rồi một làn khói trắng phụt ra, tiếp theo là một loạt tiếng nổ dữ dội.

Chúng tôi đã bị tập kích pháo.

Nhiều trận địa pháo với hàng chục khẩu đại bác tập trung bắn vào đội hình chúng tôi. Tôi lăn người nằm xuống một cái khe nhỏ, hai bạn học sinh nằm cạnh tôi. Pháo nổ dữ quá, không ngóc đầu lên được. Tôi nghe tiếng kêu la của một thanh niên bị thương cách tôi không xa và lời động viên của bác Thiện (tức đ/c Phan Cảnh Kế) trưởng đoàn. Rồi một tiếng nổ chát chúa, tưởng như ngay trên đầu tôi, không ai còn nghe tiếng kêu la của bạn thanh niên và cũng không nghe tiếng bác Thiện nữa...

Đến gần 10 giờ tiếng pháo mới dứt. Nhưng mấy chiếc trực thăng H.U.1A đã ở ngay trên đầu, rà xuống gần mặt đất, lính Mỹ mặt đỏ au, tay lăm lăm khẩu đại liên. Có lẽ tưởng chúng tôi đã chết cả nên chúng lượn mấy vòng rồi bỏ đi. Tôi đứng dậy, chung quanh là một khu đất vừa bị đạn pháo cày xới, không còn một bụi cây nào, chỉ còn xác người chết và những người bị thương, mọi thứ ngổn ngang.

Sau một thoáng sững sờ, tôi chỉ đường cho hai học sinh chạy vào rừng già. Tôi chạy lại bác Thiện, đồng chí Bí thư chi bộ kiêm trưởng đoàn đã hy sinh; đến Thuận - một đoàn viên hoạt động trong tổ chức sinh viên Phật tử - cũng hy sinh, ba lô còn mang trên vai. Còn kia là Duy, một học sinh còn trẻ lắm. Không biết trúng mảnh đạn như thế nào mà ruột gan nó đều bung ra ngoài bụng phơi giữa nắng, nhưng vẫn còn tỉnh. Tôi cúi xuống nắm tay Duy, nó thì thào:

- Cứu em với, chắc em chết anh ơi!

Thương nó quá, nhưng tôi bất lực, thấy nó đang chết mà bó tay đành chịu.

- Em cố chịu một chút, y tá sẽ lại băng bó cho em.

Nói vậy mà tôi không dám nhìn thẳng vào mặt nó. Mấy phút sau tôi quay lại, Duy đã tắt thở rồi. Tôi vuốt mắt và vuốt nhẹ mái tóc nó.

Tôi đến chỗ anh Đức - Phó Bí thư chi bộ kiêm phó đoàn, anh Đức bị thương ở chân, máu ra nhiều nhưng anh vẫn còn tỉnh táo. Tôi xé áo băng bó vết thương cho anh, rồi tiếp tục hỏi thăm, băng bó cho một số anh em khác. Tốp các anh chị đi trước đã chạy thoát khá xa. Anh Đức bảo tôi lên gọi anh chị em xuống khiêng thương. Tôi chạy lên khoảng hơn một tiếng đồng hồ mới gặp được các anh chị.

Cùng lúc ấy một tổ trinh sát gồm 3 đồng chí bộ đội thuộc K6 cũng vừa đến. Họ tưởng có địch đi càn. Chúng tôi thông báo tình hình và đề nghị đơn vị cử quân y giúp chăm sóc thương binh và một số chiến sĩ khiêng thương. Tôi mượn một tấm dù hoa quàng lên người rồi chạy trở lại trận địa, anh em đang mong.

Đêm đầu tiên ngủ ở rừng

Trực thăng đi rồi, bây giờ máy bay trinh sát OV.10 lại đến lượn mãi trên bầu trời. Khi máy bay vòng lại, tôi ngồi im; khi nó quay đi tôi lại đến chăm sóc, hỏi thăm anh em thương binh, cứ quần nhau như thế cả buổi trưa. Nhưng rồi tôi cũng bất lực, một mình tôi không làm được gì cả, mặt anh Đức đã tái đi nhiều. Tôi đến báo cáo anh rồi chạy lên tìm anh chị em một lần nữa. Cố chạy thật nhanh nhưng tôi không còn làm chủ được đôi chân của mình. Càng cố chạy nhanh càng thấy chậm.

Lên gần đến nơi thì gặp anh chị em đi xuống, cả các đồng chí quân y và bộ đội giúp khiêng thương. Chúng tôi xuống đến nơi thì anh Đức đã hy sinh. Mới lúc nãy đây anh còn hướng dẫn tôi băng bó vết thương cho anh, thế mà bây giờ... Cái cơ thể nóng hổi trên tay tôi vừa mới đây, giờ đã lạnh ngắt. Tôi đứng lặng, không cầm được nước mắt.

Kiểm tra quân số thấy còn thiếu Dũng - con trai bác Thiện. Chúng tôi bàn với nhau là trừ các đồng chí khiêng thương, còn lại tất cả đến trú nhờ ở một đơn vị bộ đội thuộc K6, tôi ở lại tìm Dũng. Các đồng chí đã khiêng thương đi hết, trận địa trở nên vắng lạnh; tôi đi mấy vòng mới tìm thấy xác Dũng. Thế là chỉ trong chốc lát, cả hai bố con bác Thiện không còn nữa. Tôi thu gom vũ khí rồi tìm một chỗ để nghỉ, trời đã nhá nhem tối.

Một loạt pháo ập đến, mảnh bay tới tấp. Ở đây không ổn, tôi chạy lên đồi khoảng vài chục phút, có một cái hố nhỏ bên đường, ngồi ở đây an toàn hơn. Mệt quá, tôi ngả lưng vào vách đất, ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Một loạt pháo nổ làm tôi tỉnh dậy, đã hơn 12 giờ khuya, trăng sáng mờ mờ trên mây, rừng khuya trong cảnh chết chóc thật rùng rợn. Tôi đứng dậy, cầm khẩu các-bin M2 đi xuống trận địa. Các đồng chí vẫn nằm đó, mọi thứ vẫn nguyên như chiều qua. Tôi đứng nhìn các đồng chí một lát rồi trở lại cái hố nhỏ bên đường. Trời mưa lâm râm ướt cả người mà tôi lại khát cháy cổ, không biết tìm đâu ra nước uống. Cuối cùng tôi nghĩ ra cách rung các cành cây cho ướt chiếc mũ tai bèo, rồi ngồi há mồm chờ từng giọt nước trên mũ nhỏ xuống.

Tiếp tục cuộc hành trình

Đêm đó pháo địch cứ bắn cầm canh. Lúc tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng. Tôi xuống hiện trường nhìn đồng đội rồi lững thững đi lên; vừa đói, vừa khát, vừa mệt. Đi hơn một giờ đến một con suối nhỏ, tôi đặt gùi và súng bên một tảng đá, xuống uống liền mấy ngụm nước mới rửa mặt rửa tay. Ngồi nghỉ một tí, tôi lại xuống uống tiếp. Thấy người đã hơi khoẻ, tôi mang gùi mang súng lên vai, tiếp tục lên đường. Đi nhưng chưa biết đơn vị ở đâu. Tôi thấy mệt rã rời, đầu óc trống rỗng. May thay, đi thêm một quãng đường, tôi gặp lại hai em học sinh trong đoàn xách nước, xách cơm đi tìm tôi. Gặp nhau, các em vui mừng ôm chầm lấy tôi. Tôi cũng ôm chặt các em, mừng quá mà nước mắt cứ trào ra.

Về đến đơn vị mọi người đều mừng. Đêm qua pháo bắn nhiều, ai cũng nghĩ là tôi đã hy sinh. Tổn thất lần nầy lớn quá, thương vong gần một nửa quân số, trong đó có cả trưởng phó đoàn và những đảng viên chính thức. Ăn cơm trưa xong, những đảng viên dự bị chúng tôi họp nhau lại, bàn biện pháp động viên anh em trong đoàn và tìm cách liên lạc với tổ chức để đưa anh chị em về đơn vị.

Với sự giúp đỡ của đơn vị bộ đội thuộc K6, chiều hôm đó chúng tôi tổ chức mai táng những đồng chí đã hy sinh. Mới ra đi đã phải chia tay nhau như thế nầy... Lòng chúng tôi đau thắt. Vĩnh biệt mười đồng chí thân yêu, chúng tôi lặng lẽ tiếp tục lên đường.

N.K.C  
(SH288/02-13)









 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHAN TÂM        (Kỷ niệm 240 năm sinh thi hào Nguyễn Du 1765-2005)Tháng Hai 1994:Từ Vinh qua cầu Bến Thủy, rẽ trái độ mười cây nữa, đến xã Xuân Tiên (Tiên Điền), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.Khu đất cao ráo ở ngay đầu xã, bên bờ sông Lam, cạnh bến Giang Đình, là khu nhà cũ, khu lưu niệm Nguyễn Du.

  • LTS: Phát hành tới hàng trăm ngàn bản, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là cuốn sách duy nhất (có thể nói như vậy) gây được xúc động cho các thế hệ độc giả trong và sau chiến tranh, cho cả hai phía xâm lược và chống xâm lược nhờ tính chân thực của nó.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số trang trong cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và hai bài viết liên quan đến cuốn sách

  • NGUYỄN QUANG HÀ                        Truyện kýHoà thượng Thích Đôn Hậu gọi đại đức Thích Trí Diệm lên phòng riêng:- Ta đang mắc công chuyện không thể xa Huế được trong thời gian này, nên ta cử thầy vào chùa Hải Đức, Nha Trang tham gia cuộc thuyết pháp quan trọng tại đó. Thầy đi được chớ?Đại đức Thích Trí Diệm cúi đầu thưa:- Dạ, được ạ.

  • VĨNH NGUYÊN                Truyện kýSau “vụ” gặp em, tôi băn khoăn lắm lắm. Là bởi trước đó - trước quả rốc-két mà chiếc F4H phóng xuống và em bị thương dưới đùi, em đang chờ tháo dây thuyền ở hốc đá, còn tôi thì giữ lấy ống ti-dô cho nước vào hai cái thùng phuy trên thuyền cho em. Hai chiếc thùng phuy 400 lít nước sắp tràn đầy. Như vậy là quá đủ thời gian cho chúng ta có thể hiểu biết về nhau, tên tuổi, quê hương bản quán.

  • ĐẶNG VĂN SỞ          Ghi chépKhông hiểu sao tôi lại đi tìm anh - anh Nguyễn Đức Thuận - người anh chú bác ruột cùng chung sống dưới một mái nhà với tôi. Tôi chỉ nhớ là hồi đó chồng của cô tôi nằm mơ thấy anh, và bác vào tận Nha Trang để đi tìm anh Mậu, người đồng đội và là người chứng kiến lúc chôn cất anh.

  • NGUYỄN QUANG HÀMột buổi sáng vợ chồng anh Thảo, chị Ái đang đèo nhau, phóng xe Honda trên đường Nguyễn Trãi, một con đường lớn của thành phố Huế, bỗng có một người lao thẳng vào xe anh Thảo. Nhờ tay lái thiện nghệ, nên anh Thảo đã phanh xe kịp. Hai vợ chồng dựng xe, ra đỡ nạn nhân dậy.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGBút kýAnh đã xứng đáng với danh hiệu "Nghệ sĩ Nhân dân" của nhà nước ta phong tặng. Riêng Hội Nghệ sĩ điện ảnh Nhật Bản đã tặng cho anh giải thưởng vẻ vang dành cho người nghệ sĩ thuật lại sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh...

  • ĐÀO XUÂN QUÝĐã lâu lắm, có đến hơn hai năm, kể từ khi bị tai nạn ở chân tôi chưa đi vào các hiệu sách, kể cả các hiệu sách ở Nha Trang. Đi tới các hiệu sách thì xa quá, đi bộ thì không đi nổi, mệt và nóng lắm, mà đi xe thuê thì cũng khó, vì họ không phải chỉ đưa mình tới nơi mà còn phải đợi hàng giờ khi mình phải tìm chọn sách nơi này nơi nọ, quầy này quầy khác v.v...

  • NGUYỄN THANH CHÍHai mươi tám tuổi, nó không biết chữ và không quen đi dép, mặc áo quần dài; lầm lũi, ít nói nhưng rất khoẻ mạnh... Với nó rừng là nhà, các lối mòn trong rừng thì thuộc như lòng bàn tay... Đó là Trương Ngọc Hoàng, sinh năm 1977.

  • NGUYỄN TRỌNG BÍNHMọi chuyện xẩy ra suốt 55 ngày đêm ở đơn vị trong cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi đều nhớ như in. Thế mà, lạ lùng thay, suốt thời gian đó, hàng ngày mình ăn thế nào, lại không nhớ nổi. Chỉ nhớ mang máng có lúc ăn cơm nắm, ăn lương khô. Về giấc ngủ, có thể là tranh thủ nửa ngủ nửa thức giữa 2 trận đánh hoặc lúc ngồi trên xe trong đội hình hành tiến. Cố hình dung, tôi nhớ được bữa cơm chiều ở dinh Độc Lập, hôm 30-4-1975.

  • NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.

  • HUỲNH KIM PHONG(Chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2005)

  • LÊ HOÀNG HẢICon người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt... Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nhìn sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm cứ nghĩ khó mà bơi sang sông được. Mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học ngày càng khám phá không gian, vũ trụ thì chạm đến cõi vô cùng.

  • HỒ NGỌC PHÚTôi về lại Huế sau trận lụt tuy muộn nhưng khá lớn vào gần cuối tháng 12 năm 2004. Ngồi ở quán cà phê Sơn bên bờ chân cầu Trường Tiền, nhìn sông Hương vào lúc sáng sớm sao thấy khang khác, trong có vẻ như sáng hơn ngày thường.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.

  • NGUYỄN THẾ QUANG(Chuyện tình chưa kể của nhà thơ Hoàng Cầm)

  • VÕ NGỌC LANTôi sinh ra và lớn lên tại vùng Kim Long, một làng nhỏ thuộc vùng cận sơn, không xa Huế là bao. Bởi thuở nhỏ chỉ loanh quanh trong nhà, trong làng ít khi được “đi phố” nên đối với tôi, Huế là một cái gì thật xa cách, thật lạ lùng. Đến nỗi tôi có ý nghĩ buồn cười: “Huế là của người ta, của ai đó, chứ không phải là Huế của tôi”, ngôi chợ mái trường, một khoảng sông xanh ngắt và tiếng chuông chùa Linh Mụ... mấy thứ ấy mới là của tôi.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhân một lần ghé ngang Paris , võ sư người Huế Nguyễn Văn Dũng đã đi thăm sông Seine. Đứng lặng lẽ bên dòng sông thơ mộng bậc nhất nước Pháp, bỗng lòng ông nhớ sông Hương quá trời. Về lại Việt , ngồi bên bờ sông Hương, ông vẫn hãy còn thấy nhớ cồn cào cái dòng chảy thầm thì trong sương mù như một nhát cắt ngọt ngào giữa trái tim đa cảm.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGTôi rẽ vào nhà Thiệp để đưa bé Miên Thảo đi học. Cô bé hét vang nhà để bắt tìm cho ra chiếc dép đi trời mưa lạc nơi đâu không biết. Miên Thảo mặc chiếc quần Jean xanh và khoác áo len đỏ, choàng một chiếc phu la cổ màu đen trông thật đỏm dáng.

  • NGUYỄN QUANG HÀSông Bồ là con sông không dài, nhưng đẹp ở về phía Bắc Huế. Phía tả ngạn, hữu ngạn vùng thượng lưu sông là hai huyện Phong Điền và Hương Trà, vùng hạ lưu sông chảy qua Quảng Điền rồi đổ vào phá Tam Giang. Làng xóm hai bên bờ sông khá trù mật.