NGUYỄN KIM CƯƠNG
Những ngày đầu Tết Mậu Thân 1968, quân dân ta tấn công và nổi dậy khắp các thành thị miền Nam, buộc lực lượng Mỹ và quân đội Sài Gòn phải phân tán đối phó.
Ảnh: internet
Nhưng sau vài tuần, nhiều nơi tiếng súng đã tạm lắng, địch có điều kiện tập trung phản kích những nơi còn lại. Sư đoàn Kỵ binh Không vận (thường gọi là Sư đoàn Kỵ binh bay) và nhiều đơn vị tinh nhuệ cơ động của Mỹ và quân đội Sài Gòn được điều động ra chiến trường Thừa Thiên - Huế để đối phó với tình hình chiến sự tại đây.
Sau một thời gian trụ lại thành phố Huế và vùng ven, chúng tôi được lệnh rút dần lực lượng về vùng giải phóng.
Rời thành phố
Vậy là chúng tôi phải giã từ thành phố, giã từ giảng đường, thầy cô và bạn bè, giã từ những gia đình thân thiết đã đùm bọc, che chở giúp đỡ chúng tôi qua bao nhiêu năm tháng.
Đơn vị chúng tôi gồm đội công tác trực thuộc Thành ủy, đội biệt động thành và hơn 30 thanh niên, sinh viên học sinh thành phố Huế, rút dần ra hướng Bắc. Tôi được phân công phụ trách anh em thanh niên này. Lần đầu tiên đi đường vất vả và phải thường xuyên đối phó với những đợt phản kích của địch, nhưng anh em vẫn tin tưởng, lạc quan và yêu đời. Sau một thời gian hành quân từ Hương Trà đến Quảng Điền rồi lần ra Phong Điền, chúng tôi đã đến giáp giới huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị, ở đây sẽ có giao liên dẫn đường về cơ quan.
Cơm nước xong, khoảng 6 giờ chiều chúng tôi lên đường. Ai cũng phấn khởi vì sau bao ngày căng thẳng, được về căn cứ an toàn, nghỉ ngơi và học tập thì sung sướng quá. Chúng tôi vượt qua một nỗng cát khá dài. Những cây phi lao ở đây đã bị chặt trụi, chỉ còn trơ những gốc. Nếu không may đạp phải thì đau nhói thấu xương. Gần 11 giờ đêm, chúng tôi được lệnh dừng chân nghỉ tại chỗ. Đây là “điểm đợi”. Giao liên ở dưới lên và từ trên xuống đều đợi gặp nhau ở đây để giao “khách”. Chờ mãi không thấy, cả đoàn phải quay trở lại.
Về đến địa điểm tập kết thì đã gần sáng - chúng tôi mỗi người nhận một vắt cơm, cho đầy nước vào bi- đông rồi phân tán, chui vào giấu mình trong các đám cây mọc lúp xúp, có dây leo bò chằng chịt ở một vùng cát. Ngồi suốt ngày mệt mỏi, cũng có lúc ngủ thiếp đi, song trời nắng nóng quá, mồ hôi ra nhễ nhại. Hơn nữa đã mấy ngày qua không có điều kiện tắm giặt nên người cứ ngứa xót và bốc ra mùi hôi nồng khó chịu. Vất vả, nhưng kiên trì chịu đựng rồi khó khăn cũng qua đi. Đến chiều tối, chúng tôi lại cơm nước và lên đường.
Một đêm, hai đêm, ba đêm... cứ đi rồi lại trở lui, lại chui vào giữa đám dây leo. Đến ngày thứ tư thì Mỹ đổ quân xuống vùng nầy, đốt nhà, cướp của, bắn chết và làm bị thương một số dân thường. Tình hình căng thẳng quá, ở lại không được, mà cũng chẳng có đường lui, phải mở đường mà đi, không có cách nào khác.
Địch chốt trên đồi, chúng tôi đi dưới chân đồi, cả đoàn lặng lẽ dò bước trong đêm. Đám thanh niên, học sinh - sinh viên chúng tôi được ưu tiên đi trước, song rồi anh em cứ tụt dần về sau. Tôi và một số anh em hỏng giày dép phải đi chân đất, rát cả chân, mỗi lần đạp phải một viên sỏi đau buốt cả người. Tôi cũng lùi dần về sau so với đoàn và rồi trở thành người đi cuối cùng, cùng với các đồng chí lãnh đạo đoàn động viên anh em học sinh sinh viên vừa mệt vừa đau chân.
Một trận tập kích
Chúng tôi vượt qua sông Ô Lâu thì trời đã sáng. Rừng cây ở đây chỉ cao quá đầu người. Đi khoảng 15 phút nữa thì sẽ đến rừng già, an toàn. Bỗng có tiếng máy bay. Cả đoàn dừng lại, núp mình bên các lùm cây nhỏ, yên lặng. Chiếc L19 lượn quanh mấy vòng, rồi một làn khói trắng phụt ra, tiếp theo là một loạt tiếng nổ dữ dội.
Chúng tôi đã bị tập kích pháo.
Nhiều trận địa pháo với hàng chục khẩu đại bác tập trung bắn vào đội hình chúng tôi. Tôi lăn người nằm xuống một cái khe nhỏ, hai bạn học sinh nằm cạnh tôi. Pháo nổ dữ quá, không ngóc đầu lên được. Tôi nghe tiếng kêu la của một thanh niên bị thương cách tôi không xa và lời động viên của bác Thiện (tức đ/c Phan Cảnh Kế) trưởng đoàn. Rồi một tiếng nổ chát chúa, tưởng như ngay trên đầu tôi, không ai còn nghe tiếng kêu la của bạn thanh niên và cũng không nghe tiếng bác Thiện nữa...
Đến gần 10 giờ tiếng pháo mới dứt. Nhưng mấy chiếc trực thăng H.U.1A đã ở ngay trên đầu, rà xuống gần mặt đất, lính Mỹ mặt đỏ au, tay lăm lăm khẩu đại liên. Có lẽ tưởng chúng tôi đã chết cả nên chúng lượn mấy vòng rồi bỏ đi. Tôi đứng dậy, chung quanh là một khu đất vừa bị đạn pháo cày xới, không còn một bụi cây nào, chỉ còn xác người chết và những người bị thương, mọi thứ ngổn ngang.
Sau một thoáng sững sờ, tôi chỉ đường cho hai học sinh chạy vào rừng già. Tôi chạy lại bác Thiện, đồng chí Bí thư chi bộ kiêm trưởng đoàn đã hy sinh; đến Thuận - một đoàn viên hoạt động trong tổ chức sinh viên Phật tử - cũng hy sinh, ba lô còn mang trên vai. Còn kia là Duy, một học sinh còn trẻ lắm. Không biết trúng mảnh đạn như thế nào mà ruột gan nó đều bung ra ngoài bụng phơi giữa nắng, nhưng vẫn còn tỉnh. Tôi cúi xuống nắm tay Duy, nó thì thào:
- Cứu em với, chắc em chết anh ơi!
Thương nó quá, nhưng tôi bất lực, thấy nó đang chết mà bó tay đành chịu.
- Em cố chịu một chút, y tá sẽ lại băng bó cho em.
Nói vậy mà tôi không dám nhìn thẳng vào mặt nó. Mấy phút sau tôi quay lại, Duy đã tắt thở rồi. Tôi vuốt mắt và vuốt nhẹ mái tóc nó.
Tôi đến chỗ anh Đức - Phó Bí thư chi bộ kiêm phó đoàn, anh Đức bị thương ở chân, máu ra nhiều nhưng anh vẫn còn tỉnh táo. Tôi xé áo băng bó vết thương cho anh, rồi tiếp tục hỏi thăm, băng bó cho một số anh em khác. Tốp các anh chị đi trước đã chạy thoát khá xa. Anh Đức bảo tôi lên gọi anh chị em xuống khiêng thương. Tôi chạy lên khoảng hơn một tiếng đồng hồ mới gặp được các anh chị.
Cùng lúc ấy một tổ trinh sát gồm 3 đồng chí bộ đội thuộc K6 cũng vừa đến. Họ tưởng có địch đi càn. Chúng tôi thông báo tình hình và đề nghị đơn vị cử quân y giúp chăm sóc thương binh và một số chiến sĩ khiêng thương. Tôi mượn một tấm dù hoa quàng lên người rồi chạy trở lại trận địa, anh em đang mong.
Đêm đầu tiên ngủ ở rừng
Trực thăng đi rồi, bây giờ máy bay trinh sát OV.10 lại đến lượn mãi trên bầu trời. Khi máy bay vòng lại, tôi ngồi im; khi nó quay đi tôi lại đến chăm sóc, hỏi thăm anh em thương binh, cứ quần nhau như thế cả buổi trưa. Nhưng rồi tôi cũng bất lực, một mình tôi không làm được gì cả, mặt anh Đức đã tái đi nhiều. Tôi đến báo cáo anh rồi chạy lên tìm anh chị em một lần nữa. Cố chạy thật nhanh nhưng tôi không còn làm chủ được đôi chân của mình. Càng cố chạy nhanh càng thấy chậm.
Lên gần đến nơi thì gặp anh chị em đi xuống, cả các đồng chí quân y và bộ đội giúp khiêng thương. Chúng tôi xuống đến nơi thì anh Đức đã hy sinh. Mới lúc nãy đây anh còn hướng dẫn tôi băng bó vết thương cho anh, thế mà bây giờ... Cái cơ thể nóng hổi trên tay tôi vừa mới đây, giờ đã lạnh ngắt. Tôi đứng lặng, không cầm được nước mắt.
Kiểm tra quân số thấy còn thiếu Dũng - con trai bác Thiện. Chúng tôi bàn với nhau là trừ các đồng chí khiêng thương, còn lại tất cả đến trú nhờ ở một đơn vị bộ đội thuộc K6, tôi ở lại tìm Dũng. Các đồng chí đã khiêng thương đi hết, trận địa trở nên vắng lạnh; tôi đi mấy vòng mới tìm thấy xác Dũng. Thế là chỉ trong chốc lát, cả hai bố con bác Thiện không còn nữa. Tôi thu gom vũ khí rồi tìm một chỗ để nghỉ, trời đã nhá nhem tối.
Một loạt pháo ập đến, mảnh bay tới tấp. Ở đây không ổn, tôi chạy lên đồi khoảng vài chục phút, có một cái hố nhỏ bên đường, ngồi ở đây an toàn hơn. Mệt quá, tôi ngả lưng vào vách đất, ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Một loạt pháo nổ làm tôi tỉnh dậy, đã hơn 12 giờ khuya, trăng sáng mờ mờ trên mây, rừng khuya trong cảnh chết chóc thật rùng rợn. Tôi đứng dậy, cầm khẩu các-bin M2 đi xuống trận địa. Các đồng chí vẫn nằm đó, mọi thứ vẫn nguyên như chiều qua. Tôi đứng nhìn các đồng chí một lát rồi trở lại cái hố nhỏ bên đường. Trời mưa lâm râm ướt cả người mà tôi lại khát cháy cổ, không biết tìm đâu ra nước uống. Cuối cùng tôi nghĩ ra cách rung các cành cây cho ướt chiếc mũ tai bèo, rồi ngồi há mồm chờ từng giọt nước trên mũ nhỏ xuống.
Tiếp tục cuộc hành trình
Đêm đó pháo địch cứ bắn cầm canh. Lúc tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng. Tôi xuống hiện trường nhìn đồng đội rồi lững thững đi lên; vừa đói, vừa khát, vừa mệt. Đi hơn một giờ đến một con suối nhỏ, tôi đặt gùi và súng bên một tảng đá, xuống uống liền mấy ngụm nước mới rửa mặt rửa tay. Ngồi nghỉ một tí, tôi lại xuống uống tiếp. Thấy người đã hơi khoẻ, tôi mang gùi mang súng lên vai, tiếp tục lên đường. Đi nhưng chưa biết đơn vị ở đâu. Tôi thấy mệt rã rời, đầu óc trống rỗng. May thay, đi thêm một quãng đường, tôi gặp lại hai em học sinh trong đoàn xách nước, xách cơm đi tìm tôi. Gặp nhau, các em vui mừng ôm chầm lấy tôi. Tôi cũng ôm chặt các em, mừng quá mà nước mắt cứ trào ra.
Về đến đơn vị mọi người đều mừng. Đêm qua pháo bắn nhiều, ai cũng nghĩ là tôi đã hy sinh. Tổn thất lần nầy lớn quá, thương vong gần một nửa quân số, trong đó có cả trưởng phó đoàn và những đảng viên chính thức. Ăn cơm trưa xong, những đảng viên dự bị chúng tôi họp nhau lại, bàn biện pháp động viên anh em trong đoàn và tìm cách liên lạc với tổ chức để đưa anh chị em về đơn vị.
Với sự giúp đỡ của đơn vị bộ đội thuộc K6, chiều hôm đó chúng tôi tổ chức mai táng những đồng chí đã hy sinh. Mới ra đi đã phải chia tay nhau như thế nầy... Lòng chúng tôi đau thắt. Vĩnh biệt mười đồng chí thân yêu, chúng tôi lặng lẽ tiếp tục lên đường.
N.K.C
(SH288/02-13)
Tải mã QRCode
TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.
HOÀNG QUỐC HẢI Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.
JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).
PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.
PHẠM THỊ CÚC KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.
THÁI VŨ Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.
PHƯƠNG HÀ (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.
LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.
PHẠM THỊ CÚC Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…
LÊ VĨNH THÁI Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.
TRƯƠNG ĐÌNH MINH Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...
DƯƠNG PHƯỚC THU Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.
ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.
TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.
PHẠM THỊ ANH NGA Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.
TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.
CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...
NGUYỄN HỮU THÔNG Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò
TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)