Khói

15:10 17/04/2018

TRU SA   

Mùi khói, có khói. Ai đấy đốt lửa.

Minh họa: Nhím

Làn khói rất nhẹ. Tôi chỉ ngửi thấy thoang thoảng. Chắc ngọn lửa cháy ở xa. Lửa không lớn đến mức tạo thành hỏa hoạn. Mùi khói vô tình lọt vào gió, cũng vô tình tôi hít một cái, thấy cay. Lúc hít thêm một hơi nữa thì mùi khói đã không còn. Ngọn gió đã thoắt mất hoặc gió hớp kiệt mùi khói. Từ một mảnh giấy, khúc gỗ nhỏ, tấm ván, đệm mút hay miếng nhựa… Chỉ cần một ngọn lửa đủ nhiệt độ là hình thành một đám cháy, nhỏ thôi. Khói tỏa theo cái đuôi chuột lửa. Sáng hôm qua, tôi gom lá cây sau vườn đốt. Lửa bén, cháy cao dần và khói cũng bốc cột dài. Khói cay xè mắt. Giờ, cũng là buổi sáng. Lại có khói cháy từ đâu đó. Một ai đấy đang đốt lá cây. Hoặc, một ít sách vở cũ, vì không muốn bán đồng nát nên châm lửa.

Khói xộc cao từ mọi nẻo đường. Những ngõ phố đều có khói bốc. Không phải nhà ai cháy. Cũng chẳng phải đô thị quá nhiều lá cây rơi đến mức phải tổ chức nhiều cuộc đốt lửa. Nhà này đốt vàng mã cho ngày giỗ gia tiên, nhà nọ đốt hình nhân thế mạng, một nhà khác cũng gom giấy đốt trên sân thượng. Vàng mã, đô la hoặc chỉ là lá cây. Không thiếu những ngày mùa đông quá rét nên người dân phải đốt lửa ngoài vỉa hè. Những khúc gỗ thừa nơi công trường, một cỗ bàn ghế hỏng, các cành cây rơi vãi, rồi thì một cái cây nhỏ bị chặt đổ, nhiều khi là sách báo cũ đều thành nguyên liệu tạo lửa. Khói xì theo lửa, ám đen một phần, hoặc ám đen hoàn toàn ngọn lửa lẫn người đốt lửa. Tôi từng vừa sưởi lửa vừa ho. Bởi không hẳn trong đám lửa là gỗ. Có cả nhựa, vỏ nylon, mảnh sắt gắn trên thanh gỗ, những thứ gây nhiều khói nhất. Thứ khói khét lẹt, hăng hắc khiến tôi không ít lần ho sặc sụa.

Lúc đấy, một đoạn khói dài vẩn cao. Những bộ mũ mão, đôi ngựa, đô la và nhà cửa cháy tan nát và hóa khói. Nhiều bàn tay chắp lại, khấn trước đám khói dày. Người lẩm bẩm, người không. Vài cái bóng đứng ở xa, nhìn các cột khói từ mọi nẻo phố. Những dây khói, lúc ngắn, lúc dài, dày dần, mỏng dần, lúc bị gió cắt tan và cuốn đi, khi lại bay thành từng vòng như con rắn cuộn mình. Trong đền, miếu khói được triệu gọi từ ngọn lửa đốt sớ. Ngủ, rồi thức ngay vì chợt hít phải mùi khói. Chẳng phải thứ khói êm của cỏ. Mùi hơi khen khét, hoi nồng như mồ hôi hà mã. Nhiều khi đấy chỉ là mùi khói gây nôn nao, ói mửa. Loại khói dày và mất đi mùi hương nhẹ. Đơn thuần, chỉ là mùi khói đậm đặc. Hệt như con cóc phồng cổ và nổ tan xác. Tôi có thể mường tượng ra khói đen tràn ra từ các ống khói công nghiệp. Mọi người tỉnh ngủ vì khói chui vào nhà qua lỗ cửa và đuổi họ khỏi giấc ngủ. Sẽ chẳng ai bắt bẻ ai ngoài những câu thóa mạ hời hợt. Hôm sau từng người sẽ đốt vàng mã. Những cổng miếu, đền mở ra. Một lượng sớ, tiền vàng được đốt. Khói kết tụ nhanh như đám mây báo hiệu trời oi. Màn khói trắng mờ, rồi ngầu ngầu. Cột khói vươn cao trong ngọn lửa và uy thế hơn cả ngọn lửa. Trong một mẩu báo đốt vội để thành khói, tôi thấy một cáo phó.

Vì lẽ gì mà em bé gái lạ mặt quen ném con gấu bông vào đám lửa. Con gấu Misa, lông vàng, tai buộc nơ với cái miệng cười bị nấu chảy từ từ. Bộ lông, với các khúc chân, tay, những sợi bông dạ cháy khét lẹt. Cái cúc đen, nhỏ hình hạt nhãn được đính thay mắt cũng cháy, chảy và biến khói. Màu khói đen nuốt chửng chú gấu và biến nó thành cục mủ đen chảy khét. Lửa bé thôi, đủ để nấu chảy mọi thú nhồi bông. Tất cả thành khói. Bé gái nhìn bãi khói. Em đứng thế cho đến khi đám cháy ngấm hết vào đất. Chỉ còn tàn vật là một đống đen nhão nhoét còn nóng và còn tỏa khói hắc.

Không ai biết một vật bị thiêu sẽ thành gì. Bắt đầu bằng một mẩu lửa. Rồi lửa cháy lan, to dần, hung hãn dần. Những cuộn lửa quấn vào nhau, liếm láp và cắn xé hình hài xấu số. Tàn trận, hoặc là một đám tro, hoặc một đoạn khói dài bốc nghi ngút như cây hương.

Khói được thổi lên từ lửa. Vệ đường, có người đốt vàng mã. Ngồi xổm mà đốt. Tiền vàng, rồi thì mấy cái khấn vái. Lửa riu riu, phụt cháy cao, hừng hừng bắn ra những mảnh lửa. Khói bốc cao, rồi cao mãi. Bên cái ngách nhỏ cũng ngửi thấy mùi khói. Không phải tiền vàng. Chỉ là những bộ xiêm áo thời phong kiến. Một đôi ngựa với thanh kiếm, thuyền rồng, ghế nạm vảy rồng chuyển sinh vào kiếp khói. Đã có người còn tống vào lò thiêu của miếu hàng chục hình nhân thiếu nữ. Những cô gái giấy, cửa Địa Phủ có mở cho các nàng không? Người âm nào sẽ đón nhận và ân sủng từng nàng như quân vương phương Bắc? Hay, kẻ âm kia sẽ mãi chịu án không siêu sinh. Cột khói đen đã chén sạch sành sanh các cô gái giấy. Rồi thì, các nàng sẽ xếp hàng xuống Địa Phủ, chuyển kiếp thành nữ tì tiên giới, bị cầm tù trong vương quốc khói, chết hẳn trong tro giấy hay sẽ vướng lại Dương gian như hồn ma bóng quế.

Khói nối đoạn, kết thành quầng lớn như lốc vòi rồng. Cột khói được đốt ở sân đền. Thầy cúng đứng quanh, vừa niệm vừa khều chỗ giấy vùi khuất để lửa bốc cao. Cột khói này, nảy mầm từ ngọn lửa ăn no căng sớ chữ nho. Người người khấn vái. Vái cao, vái thấp, quỳ mọp mà vái, dập đầu hoặc không dập đầu.

Lửa cháy xèo xèo, lập lòe như đèn nhấp nháy. Khói dâng thành cột và mọc dài, uốn mình dáng con rết trườn lên cung trăng.

Người ta đốt. Cháy hết. Thành khói hết. Những mâm lễ bằng giấy. Vẫn vàng mã. Vẫn hình nhân thế mạng. Đốt mũ mão ở đền, miếu, sân nhà hoặc một góc bất kì trong thành phố. Ở đây có người chết trẻ, một lí do… Ở đây từng có cây đa bám rễ một nghìn năm, một lí do… Ở đây trước cổng từ đường, một lí do… Ở đây sau cổng từ đường, một lí do… Ở đây tên láng giềng sát máu chết vào giờ lành, một lí do… Ở đây, chính là ở đây. Giấy vàng, mũ mão ở mọi nơi và cháy mọi nơi. Khói thốc cao, nghi ngút, xông đục cả góc trời. Bất cứ phân đường nào, đủ rộng để chất vàng mã đốt, người ta đều mang đến. Tàn giấy bay tứ tung, lắc rắc mưa phùn.

Đức thánh không ai thấy. Chỉ thấy cột khói dày chiễm chệ trên cao.

Em bé gái lạ mặt quen đứng trước một cột khói khét lẹt. Không còn chú gấu Misa. Một chú mèo Kitty, thỏ buộc nơ, cún tai cụp cùng nhiều gia đình búp bê bị chôn sống trong lửa, và thành con vật khói có mùi mồ hôi dầu khét lẹt. Em bé gái đứng thế. Khói phả lên mặt bé. Như một bàn tay không ngừng xòe rộng, khói cuốn lên mái tóc, luồn những ngón tay mềm nhão nhưng đầy sức mạnh vào mái tóc tơ. Mắt mũi em đi vào khói. Những con thú bông chảy nhão trong lửa, tiếp dinh dưỡng để khói thêm kềnh càng. Vệ đường xe vẫn phóng ngược chiều. Đống lửa còn cháy. Quầng khói ngả đen và bắt đầu chụp xuống em bé gái. Lần lượt từ cái cổ nhỏ, đến vai, rồi thân mình bé đều bị khói hít ngửi, sờ nắn. Một lọn khói ẩn trong gió và chui vào mắt tôi. Mắt tôi cay xè, ngứa ngáy và phải dụi mắt. Bẵng đi mấy giây, khi nhìn lại thì không thấy em bé gái đâu nữa. Quầng khói vẫn bốc cao vì còn lửa. Mùi cháy khét làm mũi tôi dị ứng, buộc phải hắt hơi. Đi về phía đám khói, tôi thọc tay huơ hoắng nhưng chẳng bắt được gì. Nắm vào khói thì khói tan rữa rồi tự liền lại. Không biết em bé gái kia đâu. Một cái xe sau đám khói đã đón bé đi hay cũng như số thú bông mà em bé gái đã vùi vào lửa, bé không bị lửa nấu chảy nhưng đã bị khói táp chửng, bị đẽo rữa, bị bào mòn và thành thần dân của vương quốc khói.

Căn nhà nọ bị lửa thiêu đốt dù chưa đổ nát. Mọi vật dụng đã ra tro. Nhà vẫn trụ lại. Trong ngày lửa cháy, cuộn khói xộc vào từng ngõ ngách, luồn lách như con rắn. Khói bốc ngùn ngụt cả khi lửa đã tắt. Lửa không đánh sập căn nhà. Khói phủ đen từng mảng tường, biến căn nhà một phiến đá đen mù. Nơi đấy, tôi sinh ra. Thuở ấu nhi, tôi nghe nôn nao người trong nhà kể rằng không hiểu sao đêm đó nghe tiếng cháy nổ, sáng dậy mở nắp hầm đi lên thì thấy nhà như bị hun khói. Hay ai lén vào nhà mình hóa vàng cho tổ tiên, lỡ tay để lửa bén… Một điều gì đó đang khởi sự - Jean Paul Satre viết, mùi khói hăng, đầy nhựa độc làm tôi ọc ọe nhưng chẳng có gì vã khỏi ruột ngoài cảm giác tanh tanh ghê ghê của nhựa chảy trong lửa.

Khói ngập vào từng góc nhà. Sân đền, miếu khói xếp tầng tầng và nối cao như tòa tháp. Tượng nám đen vì khói hương. Biết bao ngày, rồi tháng. Biết bao thẻ hương phun khói. Khói kéo cuồn cuộn và phủ chìm mặt các tượng thờ. Một ngày lành, Thánh sẽ nhập tượng lắng nghe trước khi xoa lên những phiền muộn người đời và rửa sạch trong cảm giác nhẹ thênh mái đầu. Mũ mão nhiều quá, nhà thánh đâu cần nhiều hơn một manh áo. Tiền vàng nhiều quá, bậc thánh ra đi với hai bàn tay không. Bùa sớ nhiều quá, cửa thiêng đâu phải đàn phép trừ yêu của pháp sư. Thánh đi rồi. Tôi không tìm thấy cây bồ đề. Tôi lần ra những cây đa, cây đại dính nhan nhản tiền trần thế cùng sớ phép yểm ma, triệu hồn. Tiếng bong bong, không phải chuông chùa, một đội diễu hành đang phăng phăng ngoài đường. Người người đổ rạp, cúng vái, hiến vật phẩm vào ngọn khói trong lửa. Sớ chữ Hán quắp mình trong lửa rồi cháy rụi thành các mẩu khói.

Tôi dội một chậu nước. Lửa tắt phần nào. Khói vẫn phù phù. Mùi khói đau lòng kinh khủng. Một cú sau gáy làm tôi gục xuống. Người ta tìm lửa. Chân tôi bị kéo. Người ta khấn vái. Khói bùng cao. Lửa không cháy, chỉ còn khói mang màu lửa đang lan rộng. Cháy và khoét hoắm khí thở như mũi dùi sát thủ.

Người ta hô dập lửa. Không có lửa. Chỉ có khói.

Người ta hô dập khói. Chỉ có khói. Chỉ có khói.

Trên trời, khói cuồn cuộn kéo dài từ bắc xuống nam. Khói phủ khắp nơi, xuyên vào mọi ngóc ngách. Khói ăn chữ, nhai giấy, thốc hết cả trời.

Khói đói, người người bốc hỏa. Khói đói. Chỉ có khói. Chỉ khói khói…

T.S  
(SHSDB28/03-2018)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGGhi chép 1.Tôi tự đặt ra một “hạng mục” đinh cho chuyến đi thực tế sáng tác ở A Lưới lần này, và hạ quyết tâm thực hiện bằng được, đó là: phải lên được Đồi Thịt Băm!

  • LGT: Liên Thục Hương là một nhà văn Trung Quốc đương đại, tự ví mình là con mèo đêm co mình nằm trên nóc nhà, nhìn cuộc sống thành phố tấp nập đi qua đáy mắt. Liên Thục Hương còn ký bút danh Liên Gián, có số lượng bản thảo lên tới hơn hai triệu chữ. Năm 2003, “Bài bút ký đầy nước mắt” đã được post lên mạng và năm 2004 nó đã được dựng thành phim và bộ phim ngắn này làm tiền đề cho tác phẩm điện ảnh đoạt giải thưởng của Trung Quốc. Sông Hương xin giới thiệu câu chuyện này qua bản dịch của nữ nhà văn Trang Hạ.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.

  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.