Khói

15:10 17/04/2018

TRU SA   

Mùi khói, có khói. Ai đấy đốt lửa.

Minh họa: Nhím

Làn khói rất nhẹ. Tôi chỉ ngửi thấy thoang thoảng. Chắc ngọn lửa cháy ở xa. Lửa không lớn đến mức tạo thành hỏa hoạn. Mùi khói vô tình lọt vào gió, cũng vô tình tôi hít một cái, thấy cay. Lúc hít thêm một hơi nữa thì mùi khói đã không còn. Ngọn gió đã thoắt mất hoặc gió hớp kiệt mùi khói. Từ một mảnh giấy, khúc gỗ nhỏ, tấm ván, đệm mút hay miếng nhựa… Chỉ cần một ngọn lửa đủ nhiệt độ là hình thành một đám cháy, nhỏ thôi. Khói tỏa theo cái đuôi chuột lửa. Sáng hôm qua, tôi gom lá cây sau vườn đốt. Lửa bén, cháy cao dần và khói cũng bốc cột dài. Khói cay xè mắt. Giờ, cũng là buổi sáng. Lại có khói cháy từ đâu đó. Một ai đấy đang đốt lá cây. Hoặc, một ít sách vở cũ, vì không muốn bán đồng nát nên châm lửa.

Khói xộc cao từ mọi nẻo đường. Những ngõ phố đều có khói bốc. Không phải nhà ai cháy. Cũng chẳng phải đô thị quá nhiều lá cây rơi đến mức phải tổ chức nhiều cuộc đốt lửa. Nhà này đốt vàng mã cho ngày giỗ gia tiên, nhà nọ đốt hình nhân thế mạng, một nhà khác cũng gom giấy đốt trên sân thượng. Vàng mã, đô la hoặc chỉ là lá cây. Không thiếu những ngày mùa đông quá rét nên người dân phải đốt lửa ngoài vỉa hè. Những khúc gỗ thừa nơi công trường, một cỗ bàn ghế hỏng, các cành cây rơi vãi, rồi thì một cái cây nhỏ bị chặt đổ, nhiều khi là sách báo cũ đều thành nguyên liệu tạo lửa. Khói xì theo lửa, ám đen một phần, hoặc ám đen hoàn toàn ngọn lửa lẫn người đốt lửa. Tôi từng vừa sưởi lửa vừa ho. Bởi không hẳn trong đám lửa là gỗ. Có cả nhựa, vỏ nylon, mảnh sắt gắn trên thanh gỗ, những thứ gây nhiều khói nhất. Thứ khói khét lẹt, hăng hắc khiến tôi không ít lần ho sặc sụa.

Lúc đấy, một đoạn khói dài vẩn cao. Những bộ mũ mão, đôi ngựa, đô la và nhà cửa cháy tan nát và hóa khói. Nhiều bàn tay chắp lại, khấn trước đám khói dày. Người lẩm bẩm, người không. Vài cái bóng đứng ở xa, nhìn các cột khói từ mọi nẻo phố. Những dây khói, lúc ngắn, lúc dài, dày dần, mỏng dần, lúc bị gió cắt tan và cuốn đi, khi lại bay thành từng vòng như con rắn cuộn mình. Trong đền, miếu khói được triệu gọi từ ngọn lửa đốt sớ. Ngủ, rồi thức ngay vì chợt hít phải mùi khói. Chẳng phải thứ khói êm của cỏ. Mùi hơi khen khét, hoi nồng như mồ hôi hà mã. Nhiều khi đấy chỉ là mùi khói gây nôn nao, ói mửa. Loại khói dày và mất đi mùi hương nhẹ. Đơn thuần, chỉ là mùi khói đậm đặc. Hệt như con cóc phồng cổ và nổ tan xác. Tôi có thể mường tượng ra khói đen tràn ra từ các ống khói công nghiệp. Mọi người tỉnh ngủ vì khói chui vào nhà qua lỗ cửa và đuổi họ khỏi giấc ngủ. Sẽ chẳng ai bắt bẻ ai ngoài những câu thóa mạ hời hợt. Hôm sau từng người sẽ đốt vàng mã. Những cổng miếu, đền mở ra. Một lượng sớ, tiền vàng được đốt. Khói kết tụ nhanh như đám mây báo hiệu trời oi. Màn khói trắng mờ, rồi ngầu ngầu. Cột khói vươn cao trong ngọn lửa và uy thế hơn cả ngọn lửa. Trong một mẩu báo đốt vội để thành khói, tôi thấy một cáo phó.

Vì lẽ gì mà em bé gái lạ mặt quen ném con gấu bông vào đám lửa. Con gấu Misa, lông vàng, tai buộc nơ với cái miệng cười bị nấu chảy từ từ. Bộ lông, với các khúc chân, tay, những sợi bông dạ cháy khét lẹt. Cái cúc đen, nhỏ hình hạt nhãn được đính thay mắt cũng cháy, chảy và biến khói. Màu khói đen nuốt chửng chú gấu và biến nó thành cục mủ đen chảy khét. Lửa bé thôi, đủ để nấu chảy mọi thú nhồi bông. Tất cả thành khói. Bé gái nhìn bãi khói. Em đứng thế cho đến khi đám cháy ngấm hết vào đất. Chỉ còn tàn vật là một đống đen nhão nhoét còn nóng và còn tỏa khói hắc.

Không ai biết một vật bị thiêu sẽ thành gì. Bắt đầu bằng một mẩu lửa. Rồi lửa cháy lan, to dần, hung hãn dần. Những cuộn lửa quấn vào nhau, liếm láp và cắn xé hình hài xấu số. Tàn trận, hoặc là một đám tro, hoặc một đoạn khói dài bốc nghi ngút như cây hương.

Khói được thổi lên từ lửa. Vệ đường, có người đốt vàng mã. Ngồi xổm mà đốt. Tiền vàng, rồi thì mấy cái khấn vái. Lửa riu riu, phụt cháy cao, hừng hừng bắn ra những mảnh lửa. Khói bốc cao, rồi cao mãi. Bên cái ngách nhỏ cũng ngửi thấy mùi khói. Không phải tiền vàng. Chỉ là những bộ xiêm áo thời phong kiến. Một đôi ngựa với thanh kiếm, thuyền rồng, ghế nạm vảy rồng chuyển sinh vào kiếp khói. Đã có người còn tống vào lò thiêu của miếu hàng chục hình nhân thiếu nữ. Những cô gái giấy, cửa Địa Phủ có mở cho các nàng không? Người âm nào sẽ đón nhận và ân sủng từng nàng như quân vương phương Bắc? Hay, kẻ âm kia sẽ mãi chịu án không siêu sinh. Cột khói đen đã chén sạch sành sanh các cô gái giấy. Rồi thì, các nàng sẽ xếp hàng xuống Địa Phủ, chuyển kiếp thành nữ tì tiên giới, bị cầm tù trong vương quốc khói, chết hẳn trong tro giấy hay sẽ vướng lại Dương gian như hồn ma bóng quế.

Khói nối đoạn, kết thành quầng lớn như lốc vòi rồng. Cột khói được đốt ở sân đền. Thầy cúng đứng quanh, vừa niệm vừa khều chỗ giấy vùi khuất để lửa bốc cao. Cột khói này, nảy mầm từ ngọn lửa ăn no căng sớ chữ nho. Người người khấn vái. Vái cao, vái thấp, quỳ mọp mà vái, dập đầu hoặc không dập đầu.

Lửa cháy xèo xèo, lập lòe như đèn nhấp nháy. Khói dâng thành cột và mọc dài, uốn mình dáng con rết trườn lên cung trăng.

Người ta đốt. Cháy hết. Thành khói hết. Những mâm lễ bằng giấy. Vẫn vàng mã. Vẫn hình nhân thế mạng. Đốt mũ mão ở đền, miếu, sân nhà hoặc một góc bất kì trong thành phố. Ở đây có người chết trẻ, một lí do… Ở đây từng có cây đa bám rễ một nghìn năm, một lí do… Ở đây trước cổng từ đường, một lí do… Ở đây sau cổng từ đường, một lí do… Ở đây tên láng giềng sát máu chết vào giờ lành, một lí do… Ở đây, chính là ở đây. Giấy vàng, mũ mão ở mọi nơi và cháy mọi nơi. Khói thốc cao, nghi ngút, xông đục cả góc trời. Bất cứ phân đường nào, đủ rộng để chất vàng mã đốt, người ta đều mang đến. Tàn giấy bay tứ tung, lắc rắc mưa phùn.

Đức thánh không ai thấy. Chỉ thấy cột khói dày chiễm chệ trên cao.

Em bé gái lạ mặt quen đứng trước một cột khói khét lẹt. Không còn chú gấu Misa. Một chú mèo Kitty, thỏ buộc nơ, cún tai cụp cùng nhiều gia đình búp bê bị chôn sống trong lửa, và thành con vật khói có mùi mồ hôi dầu khét lẹt. Em bé gái đứng thế. Khói phả lên mặt bé. Như một bàn tay không ngừng xòe rộng, khói cuốn lên mái tóc, luồn những ngón tay mềm nhão nhưng đầy sức mạnh vào mái tóc tơ. Mắt mũi em đi vào khói. Những con thú bông chảy nhão trong lửa, tiếp dinh dưỡng để khói thêm kềnh càng. Vệ đường xe vẫn phóng ngược chiều. Đống lửa còn cháy. Quầng khói ngả đen và bắt đầu chụp xuống em bé gái. Lần lượt từ cái cổ nhỏ, đến vai, rồi thân mình bé đều bị khói hít ngửi, sờ nắn. Một lọn khói ẩn trong gió và chui vào mắt tôi. Mắt tôi cay xè, ngứa ngáy và phải dụi mắt. Bẵng đi mấy giây, khi nhìn lại thì không thấy em bé gái đâu nữa. Quầng khói vẫn bốc cao vì còn lửa. Mùi cháy khét làm mũi tôi dị ứng, buộc phải hắt hơi. Đi về phía đám khói, tôi thọc tay huơ hoắng nhưng chẳng bắt được gì. Nắm vào khói thì khói tan rữa rồi tự liền lại. Không biết em bé gái kia đâu. Một cái xe sau đám khói đã đón bé đi hay cũng như số thú bông mà em bé gái đã vùi vào lửa, bé không bị lửa nấu chảy nhưng đã bị khói táp chửng, bị đẽo rữa, bị bào mòn và thành thần dân của vương quốc khói.

Căn nhà nọ bị lửa thiêu đốt dù chưa đổ nát. Mọi vật dụng đã ra tro. Nhà vẫn trụ lại. Trong ngày lửa cháy, cuộn khói xộc vào từng ngõ ngách, luồn lách như con rắn. Khói bốc ngùn ngụt cả khi lửa đã tắt. Lửa không đánh sập căn nhà. Khói phủ đen từng mảng tường, biến căn nhà một phiến đá đen mù. Nơi đấy, tôi sinh ra. Thuở ấu nhi, tôi nghe nôn nao người trong nhà kể rằng không hiểu sao đêm đó nghe tiếng cháy nổ, sáng dậy mở nắp hầm đi lên thì thấy nhà như bị hun khói. Hay ai lén vào nhà mình hóa vàng cho tổ tiên, lỡ tay để lửa bén… Một điều gì đó đang khởi sự - Jean Paul Satre viết, mùi khói hăng, đầy nhựa độc làm tôi ọc ọe nhưng chẳng có gì vã khỏi ruột ngoài cảm giác tanh tanh ghê ghê của nhựa chảy trong lửa.

Khói ngập vào từng góc nhà. Sân đền, miếu khói xếp tầng tầng và nối cao như tòa tháp. Tượng nám đen vì khói hương. Biết bao ngày, rồi tháng. Biết bao thẻ hương phun khói. Khói kéo cuồn cuộn và phủ chìm mặt các tượng thờ. Một ngày lành, Thánh sẽ nhập tượng lắng nghe trước khi xoa lên những phiền muộn người đời và rửa sạch trong cảm giác nhẹ thênh mái đầu. Mũ mão nhiều quá, nhà thánh đâu cần nhiều hơn một manh áo. Tiền vàng nhiều quá, bậc thánh ra đi với hai bàn tay không. Bùa sớ nhiều quá, cửa thiêng đâu phải đàn phép trừ yêu của pháp sư. Thánh đi rồi. Tôi không tìm thấy cây bồ đề. Tôi lần ra những cây đa, cây đại dính nhan nhản tiền trần thế cùng sớ phép yểm ma, triệu hồn. Tiếng bong bong, không phải chuông chùa, một đội diễu hành đang phăng phăng ngoài đường. Người người đổ rạp, cúng vái, hiến vật phẩm vào ngọn khói trong lửa. Sớ chữ Hán quắp mình trong lửa rồi cháy rụi thành các mẩu khói.

Tôi dội một chậu nước. Lửa tắt phần nào. Khói vẫn phù phù. Mùi khói đau lòng kinh khủng. Một cú sau gáy làm tôi gục xuống. Người ta tìm lửa. Chân tôi bị kéo. Người ta khấn vái. Khói bùng cao. Lửa không cháy, chỉ còn khói mang màu lửa đang lan rộng. Cháy và khoét hoắm khí thở như mũi dùi sát thủ.

Người ta hô dập lửa. Không có lửa. Chỉ có khói.

Người ta hô dập khói. Chỉ có khói. Chỉ có khói.

Trên trời, khói cuồn cuộn kéo dài từ bắc xuống nam. Khói phủ khắp nơi, xuyên vào mọi ngóc ngách. Khói ăn chữ, nhai giấy, thốc hết cả trời.

Khói đói, người người bốc hỏa. Khói đói. Chỉ có khói. Chỉ khói khói…

T.S  
(SHSDB28/03-2018)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).

  • PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

  • PHẠM THỊ CÚC                       KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                        Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

  • THÁI VŨ        Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.

  • PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

  • LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.

  • PHẠM THỊ CÚC                         Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…

  • LÊ VĨNH THÁI                Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.

  • TRƯƠNG ĐÌNH MINH                                 Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                              Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.

  • TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.

  • PHẠM THỊ ANH NGA       Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.

  • TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.

  • CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...

  • NGUYỄN HỮU THÔNG                             Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)