Khi tôi nhớ về người em đã khuất

15:28 03/07/2009
ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.

Nghe ông tôi than thân trách phận: “Cành họ ông có mả vô đinh”, tôi hỏi: “Đã có ông, có cháu đây, sao ông bảo vô đinh hở ông?”. Ông bèn giải thích: “Bố mẹ ông phải mua ông năm Tuất, ông phải mua bố mày năm Mùi, còn mày, ông mua năm Dậu. Vào tang đói kém, người miền xuôi ngược lên bán. Dù mấy đứa gái cũng coi là vô, phải có một trai, sứt mẻ gì cũng được, để dân bản khỏi chê cười là vô phúc, thiểu đức, không có người nối dõi tông đường, hương khói cho ông bà ông vải!”.

- Thế sao không bảo mẹ cháu đẻ. Lúc nào mà việc đẻ chẳng dễ hơn là đừng đẻ. Có người đã bảo, chỉ cần “muốn” là đẻ thôi mà, ông?

- Ừ, thì lần mẹ mày đẻ con chị, giờ nó đã xuất giá rồi đó, lại đẻ một cái thằng tai to, mặt lớn, ra dáng tướng tài. Bà mụ còn đánh dấu chàm ở gáy lưng một hình ngôi sao năm cánh. Cái dấu hiệu dị tướng ấy thì không có thể lạc vào đâu được. Đầy tháng, bố mẹ mày, với bà mày địu theo thằng bé đi làm nương, treo nôi nó lên cây ở bìa rừng, mất nó lúc nào không biết. Vì thương tiếc mà mẹ mày, bố mày, bà mày đâm phiền não, chết theo!

Thời gian trôi đi như một dòng nước bào mòn vết thương đau. Vào một ngày kia, những người nông dân trong vùng, khi tiến hành phát cây cối, khai khẩn một vạt rừng cách bản chừng cây số để gieo trồng ngũ cốc, họ bắt đầu xua đuổi đàn khỉ chuyên phá phách nương rẫy ra khỏi nơi này và, chỉ khi ấy họ mới phát hiện một đứa bé trai cỡ ba tuổi giữa bầy khỉ sống trong rừng sâu, không có quần áo, không biết nói, hành vi của đứa bé này giống một con thú. Nhưng lúc đầu người ta cũng chỉ biết thế thôi chứ chưa ai có cách gì để chứng minh cho những người khác biết rõ hơn về một câu chuyện dù sao cũng còn bán tín bán nghi hoặc như một câu chuyện cổ tích nhưng trên thực tế là có thật.

Dân bản nhanh chóng truyền câu chuyện lạ ấy cho người thân ở các bản bên cạnh, mô phỏng, phán đoán với nhau theo cách hiểu biết của những người nông dân miền núi và nhiều người đem câu chuyện kể với một tay thợ săn kỳ cựu trong vùng. Người thợ săn này, sau khi nghe chuyện, muốn tỏ rõ tài nghệ của mình cho nhiều người biết, ông ta không quản ngày đêm, mai phục, dán mắt theo dõi từng bước hoạt động của bầy khỉ. Một hôm, sau khi khéo léo, bí mật theo đuổi bầy khỉ kéo nhau sang sống ở khu rừng bên cạnh. Lúc đầu, quan sát bằng mắt thường từ xa, người thợ săn còn nhầm đứa bé là một con đười ươi đực con theo bầy khỉ cùng đi kiếm hạt quả, leo trèo giỏi và, còn là bạn với chim muông. Thật đau buồn là em bé đã hoàn toàn mất khả năng ngôn ngữ của con người mà lại hú như khỉ, hung dữ như khỉ, di chuyển theo kiểu bò lổn ngổn như khỉ, cũng nhặt trái cây đưa lên mũi ngửi, cho vào miệng nếm rồi lại ném ngay xuống đất nếu không ưng, cũng dùng hai tay ôm chầm những con khỉ trong bầy đàn.

Mãi ba năm sau mới hay, con khỉ đã từng sống ở khu rừng này đã bắt trộm đứa bé sơ sinh vừa đầy tháng trong nôi treo trên cây ở bìa rừng đem đi nuôi ở khu rừng nào đó rồi lại cõng thằng bé về đây và người thợ rừng từng trải, khôn khéo đã dụng công bắt được bằng bẫy hầm.

Nghe tin, cả bản mường đổ vào rừng xem mà nhận ra đích thực thằng bé bỗng dưng mất tích ba năm trước. Bây giờ thằng bé đã hoá “người khỉ” chứ không còn là người nữa. Tuy vậy, bên cạnh con khỉ độc luôn bám sát để bảo vệ thằng bé khỉ, nhìn vào dấu chàm lồ lộ ở gáy lưng mà bà mụ đánh dấu, ta rất dễ phân biệt thằng bé khỉ không phải con của khỉ sinh ra mà là con của người sinh ra.

Ông tôi cần quyền chuộc nhưng người thợ săn đã bảo: “Không phải chuộc, nó là của ông, của tôi, của cả bản rừng ta đó. Khoan, khoan hãy tính đến chuyện đó. Trước tiên là tuỳ theo khả năng, tuỳ theo tấm lòng rộng mở như rết nhiều chân, cả bản xúm cùng tôi, cùng ông, ta giúp phục dưỡng, “hoàn nhân” để kịp thời cứu đứa bé ba năm nay bị đồng hoá thành khỉ, bị khỉ bắt vào rừng nuôi!”. Còn tôi, ai cũng biết, gần một đời người, ngày đêm lăn lộn sống trong rừng với nghề săn bắn, tôi chẳng lạ chi đời sống và cách sinh sống của nhiều loài trong rừng này, nhất là loài khỉ, tôi có kinh nghiệm hơn thì tôi xin chịu trách nhiệm trong việc nuôi dạy thằng bé khỉ biết đi đứng thẳng thớm đàng hoàng như người, biết ăn, biết nói, biết gói, biết mở... như tổ tiên nó.

Người thợ săn bắt tay ngay vào việc dạy dỗ thằng bé khỉ tất cả như một con người, đúng với tên gọi thiêng liêng mà tạo háo đã ban tặng cho.

Từ trẻ chí già, ai trong bản mường này cũng thấy cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, cùng lời nói có lý, có tình, cũng cảm phục đức độ của người thợ săn lịch lãm đó. Và từ nay, ông trở thành cha nuôi “Thằng người khỉ”.

Theo kế hoạch của người thợ săn, dân bản nghe lời không nỡ giết con khỉ độc vì dẫu sao nó cũng có công nuôi nấng, cõng thằng bé từ ngày còn một tháng tuổi, cứ để rồi tách dần, tách dần thằng bé, khi cần thiết. Đến ngày gần tách được thằng bé ra thì con khỉ độc kia cũng chết, vì nó đã già lắm rồi.

Cũng phải nói, lúc đầu đặt tên cho thằng bé khỉ là “Thằng người khỉ”, nhiều người cho như thế là không ổn, thì người thợ săn giải thích: “Tên chỉ là quy ước để gọi với nhau, cái có ý nghĩa là vật đem ra gọi là “Thằng người khỉ”, chúng ta cố giúp nó mau chóng hoàn thiện được nhân cách tốt đẹp của đồng loại, để sớm hoà nhập với đời sống xã hội, cộng đồng kia”.

Một hôm, có người hỏi người bố nuôi rằng: “Thằng người khỉ” biết nói chưa? Người bố nuôi đáp: “Còn bập bẹ các tiếng: “Chon chào sày chi dầng đề a!”. Hai tháng sau, người ấy lại hỏi: “Biết nói chưa?” Bố nuôi đáp: “Đã rõ các tiếng: “con chào thầy đi rừng về ạ!” Ba tháng sau, cũng người ấy hỏi: “Biết nói đến đâu rồi?” Bố nuôi đáp: “Trông thấy mười điều, nói tám, chín”. Tháng sau, cũng lại người ấy hỏi: “Chắc nay, trông thấy mười điều, nói đủ mười!” Bố nuôi đáp: “Biết nói rồi, trông thấy mười điều, chỉ nói hai, ba” Người kia đâm ngạc nhiên, tò mò hỏi đi, hỏi lại: “Ủa, thế thì biết nói ít lắm, khéo mà khỉ lại hoàn khỉ thì công cốc!”.

Người bố nuôi vẫn điềm đạm: “Biết nói rồi, thưa ngài, xin ngài vui lòng phân biệt ít nói khác với nói ít. Thì thánh Khổng Tử, cả đời ngài chu du khắp các nước chư hầu, suốt tháng, năm ngài thuyết giáo, truyền đạo, có ai chê bai, dè bĩu ngài là nói nhiều, nói ít đâu? Cái kỳ công, cái chuẩn đích của tôi là khổ luyện cho “Thằng người khỉ” của tôi ý thức ngay từ giây phút đầu là đừng bao giờ nói thừa tiếng, đừng thấy gì nói nấy, thao thao bất tuyệt. “Ăn có nhai, làm có nghĩ”. Nói như con vẹt mới là biết nói ư? Thưa ngài!”.

Ở bản Thắng này, câu chuyện “Thằng người khỉ” như một nồi nước sôi già, nhấc ra khỏi lửa, thời gian càng nguội dần...

Đã lâu, không thấy ai gọi là “Thằng người khỉ” mà gọi là “Chú thợ săn kề cận” vì nó thường xuyên đi về với cha nuôi vào ra rừng và, nhiều hôm hai cha con cùng khiêng về hàng buộc khỉ với nhiều thú rừng khác. Người bố nuôi cho biết là “Thằng người khỉ” có biệt tài hơn ông về cách phát ra thứ âm thanh để dụ gọi khỉ về hầm bẫy. Từ ngày có nó theo ông vào rừng, nhờ nó giúp thêm tay, tuy không còn tinh nhanh như thời tuổi trẻ, ông vẫn săn bắn được nhiều hơn trước, nên đời sống khấm khá hơn. Ai cũng bảo ông có phúc nên có phần đấy!

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, người ta chóng già là thế. Nay “Thằng người khỉ” đã 10 tuổi. Những hôm xấu trời vào rừng không thuận tiện, cha con người thợ rừng ở nhà. Người ta thấy “Thằng người khỉ” lớn bổng giữa đám trẻ làng như một con ong tướng giữa đõ ong vậy. Nó cùng đám trẻ ở sân đình chơi trò đánh trận giả, 5 đứa khác cụm lại làm voi, cũng có vòi, có đuôi bằng một tay của đứa đầu, đứa cuối, vẫy vẫy, huơ lên, huơ xuống; nó và một thằng nữa ngồi trên lưng voi, thằng ngồi sau nó, cầm cái gốc cây sắn làm búa đóng quản tượng, một tay cầm cây kích là thân một cây sắn đã lau mắt, vạt nhọn một đầu, có sơn vôi trộn lẫn nhọ nồi. Nó ngồi trước, đầu đội mũ cánh chuồn kết bằng lá vàng, một tay cầm cây kiếm gỗ, tay kia cầm cái loa vận bằng lá dứa, chõ lên mà dõng dạc giữa tiếng hò reo, tiếng thét “sát! sát!”, tiếng gõ “cheng, cheng!” vào chậu thau đồng của bầy trẻ: “Hỡi tam quân, nghe trẫm truyền: chỉ có tiến chứ không lùi, không lùi!”.

Người cha nuôi thực bụng không muốn cho con theo vào rừng, tuy là nghề của ông sinh sống lâu nay. Ông bảo con khi ôm nó vào lòng: “Con à, theo công việc chữ nghĩa, văn thơ, khoa học mới khó, mới hay, chứ cái nghề săn bắn thì khó chi. Con hãy nghe cha chuyển nghề!”... “Thằng người khỉ” thì bảo nó thương cha vào ra một mình đêm hôm nơi rừng sâu hun hút thiếu chi nguy hiểm, nên cứ năn nỉ xin cha đi theo, còn chuyện học hành chữ nghĩa hẳn là phải theo lời cha, nhưng sẽ lo sau. Ban đầu người cha nuôi nể và chiều con. Vả lại, thực tình ông không muốn xa rời nó dù giây phút.

Trẻ con trong bản mường thì chưa sáng đã tốp tốp kéo đến ngõ rủ “Thằng người khỉ” đi cầm đầu trò chơi đánh trận giả cho vui.

Già làng nhắc bố nuôi đi xin lập tờ khai sinh cho con, theo luật quan châu lâu nay đã chậm trễ lắm rồi!

Một hôm, ngày lành tháng tốt, người bố nuôi dẫn con cùng đi gặp viên cai bạ hàng tổng để “Thằng người khỉ” tự trình bày mà xin ông cai bạ cấp giấy khai sinh. Vốn là người làm việc trong tổng nên viên cai bạ không lạ lý do và nội dung câu chuyện, ông là người khét tiếng khắt khe về nguyên tắc, lại khó tính, nhưng hôm nay ông rất ôn tồn, niềm nở đón tiếp cha con người thợ săn. Sau khi nghe lời lẽ thông minh, từ tốn, lễ phép tự trình bày của “Thằng người khỉ”, ông bạ tươi cười nhìn sang người cha nuôi và có lời nhận xét về đối tượng xin cấp giấy khai sinh, với lời khách quan, không chút lấy lòng: “Tuy trên chân tay, mặt thằng bé, lớp lông tơ dài hơn, dày hơn mọi đứa trẻ khác, nhưng điều đó không can chi. Tôi thấy lớp lông tơ đó góp phần tăng thêm vẻ đẹp khác thường cho thằng bé, ông ạ (chỉ cha nuôi). Rõ là một con Người đích thực rồi, một thằng bé mới 10 tuổi đầu, có 3 năm lại là ba năm đầu của đời người, sống sót giữa bầy dã thú, như ông khai, nhưng cao to, lực lưỡng hơn cả đứa 13, 14 tuổi, một chàng thiếu niên đầy vẻ tài trí, thông tuệ, tràn đầy sức lực, khoẻ mạnh, ăn nói linh lợi hoạt bát, điềm đạm, lễ phép. Cứ tiếp tục nền giáo dục như thế của gia đình và xã hội, đứa bé sẽ trưởng thành nhân cách tốt đẹp. Nghĩa là biết “Khiêm”, “Nhã”, “Kính”, “Ái” làm phương thế phục lòng mọi bậc người trong xã hội. Còn việc lập tờ khai sinh, ông không lo, tôi không thể không tận tâm giúp cháu. Bố mẹ sinh con cái, nhà nước nào cũng phải cấp khai sinh cho các cháu. Có điều, lẽ ra bố mẹ đẻ của cháu phải làm kịp theo quy định của quan châu, nhưng không may gặp phải trường hợp bất thường, xin khất ông, để tôi tự lên quan châu đã, trường hợp này tôi không được phép thiện tiện”.

Trước khi chia tay, viên cai bạ thắm thiết ôm hôn “Thằng người khỉ” như con mình và “Thằng người khỉ” kính cẩn chào biệt để cùng người cha nuôi cáo lui.

...Tiếp được công văn của viên cai bạ, quan châu cho lệ đem tờ sức về ngay tổng, cùng viên cai bạ, người cha nuôi, thân hành đưa “Thằng người khỉ” lên dinh châu, để quan châu ngài mắt thấy chứ lâu nay mới tai nghe.

Trong bản mường lại có kẻ xấu bụng, ghen ăn tức ở rằng “Chuyện cấp giấy khai sinh là nhỏ, rất nhỏ, sao quan châu nay lại ôm rơm? Không phải là để chiều lòng tò mò của mọi người trên phủ đường, nhất là các bà lớn, bà nhỏ vợ quan, cậu ấm với hai cô chiêu của quan hay sao?”

Đến hẹn, đoàn người thân hành đưa “Thằng người khỉ” đến tận nơi quan châu ngồi làm việc, hôm đó cũng có đầy đủ các bà, các cô, cậu, nha lại, lính tráng.... Bà lớn đang ngồi ngả ngửa trên cái ghế bành lót nhung màu xanh, bỗng đứng phắt lên mà trố mắt nhìn quan, nói: “Quan xem kìa, thằng bé hay hay quá đi thôi!”. Hai nường công chúa của quan vào tuổi cặp kê, thấy “Thằng người khỉ” đĩnh đạc, phổng phao đáng yêu thì e thẹn, cứ ả này ẩy ả kia về phía “Thằng người khỉ’ như kiểu “muốn ăn gắp bỏ cho người”. Cậu ấm thì chìm lút giữa mấy hàng ghế cạnh quan vì quá lùn, quá mảnh khảnh mà lại sứt mũi và yếu ọt như thằng phải gió! “Bà” vợ bé của quan nghe nói mới vào tuổi 17, thì đưa mắt con mèo cái nhìn “Thằng người khỉ” như nhìn bát mỡ mới rán còn bốc lựng mùi thơm. Rõ là háu cái tướng mạo bên ngoài của người con trai, là cái căn bệnh muôn đời của người con gái. Quan châu hình như ngài cũng ghen, cũng buồn vì ngài tự xét hình thức, tư chất của cậu ấm sứt của mình còn ở gót chân của “Thằng người khỉ”! Nhưng quan cũng cố trấn tĩnh gọi viên cai bạ và người cha nuôi lại gần căn dặn: “Một đấng nam nhi như thế này, từ nay không cho phép ai được gọi tên là “Thằng người khỉ” nữa, mà phải theo giấy khai sinh quan châu đích thân cấp:

Tên: Tân (nghĩa là mới); họ: lấy họ người cha đẻ (đã quá cố); tên lót: mang họ người cha nuôi”. Rồi quan đặt hai bàn tay ngón tháp bút xanh xao vàng vọt của quan lên bờ vai rộng như vai Từ Hải của Tân mà hỏi: “Đã muốn đi học chưa con?” Tân trả lời: “Bẩm thưa quan, có ạ. Quan khen: “Tốt lắm! tốt lắm!” Quan lấy một tờ giấy hồng điêu trên bàn, viết mấy chữ, giới thiệu với một thầy đồ có tiếng hay chữ trong tổng, để Tân kịp nhập học tháng tới. Quan lại bảo với bà lớn cho Tân thêm 5 đồng nữa để mua giấy bút. Có lẽ vì thiện cảm với con người Tân nên bà lớn cho Tân thêm 5 đồng nữa là 10 đồng! Quan nói cho người cha nuôi phấn khởi, đưa con trở về chăm sóc nó thêm việc học hành, sau đó sẽ có bằng cửu phẩm quan ban, vì đã có công cứu một cậu bé 3 năm tuổi thoát khỏi bàn tay dã thú, vừa có lòng nhân đạo vừa biết cách dạy ăn, dạy nói..., giúp một con người đã hoá khỉ “hoàn nhân”, trở lại với cuộc sống của xã hội văn minh của con người.

Nghe lời quan, Tân đến trường học chữ, ngừng việc đi rừng với cha. Nhưng hàng tháng, Tân xin thầy đồ về thăm cha nuôi và ông (là ông tôi đó) và có kèm theo thư báo khen của thầy đồ gửi cho phụ huynh, khen rằng: Trong đám học trò có cả con cái các phú ông hàng châu, Tân vượt trội hẳn lên về mọi mặt!

Nhưng than ơi! đến năm tròn tuổi giáp đầu thì Tân qua đời, với căn bệnh đau màng óc, như lời viên đốc tờ châu thông báo.

Từ đó, người trong bản Thắng không ai thấy bóng dáng người cha nuôi trong rừng săn bắn nữa. Ông đi lang thang, luôn đeo chúc nòng khẩu súng kíp, không có đạn, mồm thì luôn lẩm nhẩm: “Thằng người khỉ”, “Chú thợ săn kế cận”, “Thằng Tân - con tôi, nó đã biết nói rồi mà, một trăm phần trăm biết nói rồi, sao nó chết rồi, chết rồi!”.

Vài tháng sau, vì quá thương tiếc đứa con, người cha nuôi phát điên phát cuồng, rồi chết! Để lại túp lều xiêu vẹo, rách nát cô quạnh nơi cửa rừng như một nhân chứng. Tài sản đáng giá chỉ có một con dao khoắm, một khẩu súng kíp tự tạo, người thợ săn sử dụng đã 50 năm, cán dao và báng súng lên nước trơn bóng, treo lủng lẳng vào mấu cột chòi, chỗ đầu tấm liếp làm giường nằm của hai cha con.

Còn tôi thì các bạn biết đó, không hề rõ mặt mũi của cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi, là một đứa trẻ mồ côi cút, được ông tôi mua rẻ về nuôi từ lúc tôi chưa có quần áo mặc. Trong cái xã hội cũ, cá lớn nuốt cá bé, bòn mót ra miếng cơm, manh áo đã khó, nói chi chuyện học chữ.

Chưa đến tuổi thành niên, nhưng tôi xin gia nhập vào một đơn vị bộ đội qua bản làm liên lạc nhiều năm mới đủ sức cầm súng đi chiến đấu và, cho đến ngày kết thúc Điện Biên Phủ, đeo cái huy hiệu thương binh loại bốn về thăm mừng dân bản và ông tôi thì ông tôi đã qua đời!.

Ai cũng thông cảm: Bộ đội thời kháng chiến chống Pháp đâu có thời giờ học văn hoá, anh em người biết chữ bày cho chỉ biết được đôi ba vần. Phục viên về, sau hoà bình, tôi mới có thời giờ tự học. Việc học chữ đối với tôi bây giờ quả là “măng mọc quá pheo”. Những lúc học không vô được, là tôi nghĩ ngay đến “Thằng người khỉ”, “Chú thợ săn kế cận”, thằng Tân - em tôi, để mà tự khắc phục cái yếu kém của mình, chớ tự ái vặt mà lơ là, chểnh mảng việc tự học hành thường xuyên liên tục của mình!...

(Bản Thắng xã Hải Long huyện miền núi Như Thanh - Thanh Hoá
trước Xuân Giáp Thân 2004)

A.D
(179-180/01&02-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • KHẢI NGUYÊN Pa-ri, mùa hạ năm 198...Vườn Bách thảo giữa thành phố kề sông Xen phía tả ngạn. Ông đến đây như một kẻ lánh đời, sợ nơi đông người. Thật ra, phần lớn đường phố Pa-ri trong giờ làm việc không ồn, không thừa thãi người đi nhong như ở Việt Nam. Em ông ở quê ra Hà Nội chơi đứng ngắm dòng người và xe nườm nượp qua lại cứ tự hỏi: những con người này đi đâu, về đâu mà tuôn mãi như là chẳng ai về nhà cả, như là cái "nghiệp" trời đày phải đi.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNhiều năm trôi qua tôi đã trở thành người đàn ông đứng tuổi. Có một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Nhưng mỗi lần nghĩ về nàng, một người đàn bà chỉ kịp quen trên chuyến đò từ Huế ra Phong Điền, chia tay nàng để nhiều năm sau, tôi mới được gặp lại nàng trong một hoàn cảnh khác, tôi vẫn giữ nguyên một cảm giác hết sức lạ lùng. Một ý nghĩa luôn ám ảnh tôi khá kỳ quặc rằng: Tôi đã bị nàng hiểu lầm, là một chàng lính giải phóng “hám gái, dại khờ”... Bởi vì sau vụ việc ấy, chính tôi cũng rủa thầm mình là ngu ngốc.

  • NGUYỄN VIỆT HÀVọng đi vào núi. Tại sao phải đi vào núi thì Vọng mong manh biết, còn sẽ đi vào núi như thế nào thì anh không biết. Nắng của chiều ngần ngừ trên một đường mòn và đường mòn heo hút cỏ dại đến đây thì chia hai.

  • HÀ KHÁNH LINHGiáo sư tiến sĩ Hoàng Lập Xuân thường nói với các sinh viên của mình thuở còn ấu thơ bà tin những chuyện cổ tích là có thật, từ đó bà đã sống và hành động theo tinh thần cổ tích. Khi đã thành danh, bà thường ngẫm nghĩ đối chiếu mình với các nhân vật trong cổ tích. Nhiều người lấy làm ngạc nhiên khi thấy chuyện cổ tích đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của một con người như giáo sư tiến sĩ Hoàng Lập Xuân. Càng ngạc nhiên hơn, khi biết rằng những chuyện cổ tích bà được nghe kể khi còn nhỏ không phải do ông bà nội ngoại, không phải do cha mẹ...

  • HƯỚNG DƯƠNGTết đã gần đến rồi. Những ngày này mọi người chỉ nghĩ đến một việc là chơi gì trong ngày Tết? Trước đây, cuộc sống thiếu thốn thì Tết là dịp để ăn uống cho no say đầy đủ - Vậy mới gọi là ăn Tết. Còn giờ, mọi sự dinh dưỡng thừa mứa, đàn ông bụng phệ nhan nhản, đàn bà đi hút mỡ thường kỳ, bệnh béo phì của trẻ em gia tăng. Ăn uống là kẻ thù của con người. Vậy nên, Tết không còn là ăn Tết nữa mà là vui Tết, chơi tết.

  • PHẠM ĐÌNH TRỌNGChưa bao giờ Ngay có ý nghĩ rời Hà Nội đến sống ở vùng đất khác thế mà anh đã đột ngột đưa cái gia đình bé nhỏ không còn nguyên vẹn của anh đi vào thành phố phía Nam cách Hà Nội ngót hai ngàn cây số. Anh đi như chạy trốn để rồi càng ngày anh càng nhớ quay quắt nơi anh đã để lại cả một thời tuổi trẻ đẹp đẽ.

  • THU NGUYỆTTrắng và trắng. Muột thơm và tinh khiết. Mặt đất dường như đỏ và mịn hơn khi được trải mình ra đón nhận sự nương tựa dịu dàng của những cánh hoa sứ ấy. Tôi khẽ khàng nhặt một bông sứ nhỏ, không đưa lên mũi ngửi như thói thường mà trang trọng áp vào tai. Trong làn hương tràn ngập, tôi nghe vẳng tiếng chuông ngân đẫm mát. Ai đó ơi, hãy một lần thử xem, nhặt một bông sứ nhỏ sân chùa, nhè nhẹ áp vào tai, sẽ nghe thấy những âm thanh và làn hương kỳ diệu! Cái cảm giác lạ lùng mà tôi đoán chắc rằng ai đó sẽ bất ngờ thấy mình khác hẳn đi.

  • PHẠM THỊ ANH NGAVới tôi mạ không có công ơn mang nặng đẻ đau, nhưng mạ đã thực sự ban cho tôi sự sống: sau khi lần lượt sinh bốn người con gái đầu lòng, lần thứ năm chín tháng cưu mang và "vượt cạn mồ côi một mình" mạ đã sinh ra anh, người sau này sẽ là "một nửa" của đời tôi.

  • PHẠM THỊ XUÂNTừ ngày Hoạt được đề bạt lên phó giám đốc, Mùi bắt đầu tiến hành một cuộc cách mạng trong gia đình. Nhìn vào đâu, vào cái gì, Mùi cũng chưa thấy nó xứng đáng với địa vị mới của chồng. Ngôi nhà ba gian vừa xây cách đây không lâu, bây giờ nó đã trở nên lạc hậu trong mắt Mùi. Mùi nghĩ, giá như hồi ấy mà làm theo kiểu nhà hộp thì bây giờ có phải đã lên thêm được một tầng như một số người quanh đây không.

  • HƯƠNG LANTuấn nhìn đồng hồ, rồi lại đi lui, đi tới không biết là lần thứ bao nhiêu trong buổi sáng này trên hành lang của Tòa án nhân dân Thành phố. Vẫn còn 5 phút nữa mới đến giờ, nhưng Tuấn có cảm giác giận Hương, có lẽ cô ta không đến, cô ta muốn gây khó dễ cho mình... Tuấn thầm nghĩ và lòng anh hiện lên một chút đay nghiến với người phụ nữ đang còn là vợ anh trong vài tiếng đồng hồ nữa.

  • BÙI MINH QUỐCNgày hôm ấy là một ngày không có gì đặc biệt trong cuộc sống cực nhọc, buồn tẻ của giáo sư Lê Khương- một ông già ngót sáu mươi tuổi mà vẫn sống độc thân. Nhưng rồi có một sự đặc biệt đến với ông vào lúc gần nửa đêm. Sau khi rà sửa lại lần thứ ba mấy chục trang cuối tập bản thảo một công trình mới nhất của mình, giáo sư đặt lưng xuống giường ngủ thiếp đi. Và, như thường lệ, ông bắt đầu thấy chiêm bao.

  • DƯƠNG THÀNH VŨBuổi sớm maiSông thức dậyMột mìnhTrôi mải miết    (René Char)

  • ĐOÀN BÍCH HỒNGBà lão ngồi bất động nơi cây cầu giơ một khúc gỗ khẳng khiu đỡ lấy sàn nhà. Trong lúc liếc nhìn bóng mình lao chao trong cái màu xanh rêu đùng đục của dòng sông đang gắng gỏi vài mét nước cuối cùng trước khi nhập vào lòng biển, bà cố ghi nhận cái thời khắc quan trọng mà bà cảm thấy nó đang đến gần.

  • NHƯ BÌNH1. Đực và cái. Một đứa con trai đứng bên một đứa con gái là giống đực đặt bên giống cái. Còn nhỏ chúng là những đứa trẻ, không ngại ngùng bởi vấn đề giới tính. Trưởng thành, hai giống bên nhau tạo sức hút và nảy sinh cái gọi là tình yêu. Các cụ ta xưa rất hiểu quy luật giới tính này. Chả thế mà cứ nhốt hai giống vào một phòng là thành vợ chồng.Bố mẹ tôi cũng là một cặp như thế.

  • NGUYỄN VĂN ĐỆThuần ra bến thuyền vào lúc thuỷ triều đang lên. Lúc này là nửa đêm. Trăng hạ tuần trong như con cá mòi tháng bảy nhảy hất lên từ mặt biển treo mình giữa nền trời xanh ngát. Gió tây se lạnh, gió thổi từ đất liền ra giộng rừng phi lao reo lên cùng với tiếng vi vu, vi vút, gió thổi vào ngọn sóng làm hắt lên những tia sáng.

  • NGUYỄN THANH MỪNGĐã bát tuần, ông vẫn chưa nghĩ đến cái già. Đó là ông nói vậy, bô lô ba la trước bàn dân thiên hạ, trong đó tất nhiên không thiếu cả bạn bè, nhất là những người đáng tuổi con cháu nhưng được ông tôn vinh là thần tượng của quốc gia, thậm chí quốc tế nữa.

  • NHẤT LÂM          Truyện ngụ ngôn hiện đạiTrong đàn chó săn của ông Mỗ thì Fóc vào loại anh cả đỏ. Ngoài chân cao, mũi thính, mình dài, chạy như tên bắn... nói chung những gì cần cho một con chó săn đích thực thì Fóc có cả.

  • NGUYỄN TRƯỜNG                           Nơi hầm tối là nơi sáng nhất          (Thơ Dương Hương Ly)

  • TRẦN THUỲ MAINăm nay mùa đông lạnh hơn hẳn mọi năm. Gió cao nguyên cứ tràn qua, tràn qua từng đợt, những bông quỳ chấp chới vàng như sóng. Quỳnh bảo tôi: Gió ở đây một đi không trở lại, khác ở Huế. Gió từ sông Hương thổi lên là gió rất đa mang, thổi tà áo bay dùng dằng, như trong câu hát ngày xưa "Gió bay từ muôn phía...".

  • HẢI THITôi lớn lên ở một ngôi nhà nhỏ ven sông. Con sông nhỏ chảy qua một vùng quê hẻo lánh. Nhà tôi và nhà Khan đối diện nhau trên dòng trôi quê mùa ấy, chỉ có điều nhà tôi thì quay mặt ra sông, còn nhà Khan thì quay lưng ra sông, chính vì thế mà thuở nhỏ, mỗi lần tắm sông cười đùa ầm ỉ, tôi hay bị ba tôi rầy la nhiều hơn, vì ba tôi chỉ cần ngồi trên nhà đưa mắt là thấy ngay tôi đang trèo lên những bè lục bình để làm công chúa, còn ba Khan thì chỉ trông thấy Khan ném bùn đất vào cô công chúa kỳ khôi mỗi khi ông có việc phải ra đằng sau bếp.