Khi tôi nhớ về người em đã khuất

15:28 03/07/2009
ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.

Nghe ông tôi than thân trách phận: “Cành họ ông có mả vô đinh”, tôi hỏi: “Đã có ông, có cháu đây, sao ông bảo vô đinh hở ông?”. Ông bèn giải thích: “Bố mẹ ông phải mua ông năm Tuất, ông phải mua bố mày năm Mùi, còn mày, ông mua năm Dậu. Vào tang đói kém, người miền xuôi ngược lên bán. Dù mấy đứa gái cũng coi là vô, phải có một trai, sứt mẻ gì cũng được, để dân bản khỏi chê cười là vô phúc, thiểu đức, không có người nối dõi tông đường, hương khói cho ông bà ông vải!”.

- Thế sao không bảo mẹ cháu đẻ. Lúc nào mà việc đẻ chẳng dễ hơn là đừng đẻ. Có người đã bảo, chỉ cần “muốn” là đẻ thôi mà, ông?

- Ừ, thì lần mẹ mày đẻ con chị, giờ nó đã xuất giá rồi đó, lại đẻ một cái thằng tai to, mặt lớn, ra dáng tướng tài. Bà mụ còn đánh dấu chàm ở gáy lưng một hình ngôi sao năm cánh. Cái dấu hiệu dị tướng ấy thì không có thể lạc vào đâu được. Đầy tháng, bố mẹ mày, với bà mày địu theo thằng bé đi làm nương, treo nôi nó lên cây ở bìa rừng, mất nó lúc nào không biết. Vì thương tiếc mà mẹ mày, bố mày, bà mày đâm phiền não, chết theo!

Thời gian trôi đi như một dòng nước bào mòn vết thương đau. Vào một ngày kia, những người nông dân trong vùng, khi tiến hành phát cây cối, khai khẩn một vạt rừng cách bản chừng cây số để gieo trồng ngũ cốc, họ bắt đầu xua đuổi đàn khỉ chuyên phá phách nương rẫy ra khỏi nơi này và, chỉ khi ấy họ mới phát hiện một đứa bé trai cỡ ba tuổi giữa bầy khỉ sống trong rừng sâu, không có quần áo, không biết nói, hành vi của đứa bé này giống một con thú. Nhưng lúc đầu người ta cũng chỉ biết thế thôi chứ chưa ai có cách gì để chứng minh cho những người khác biết rõ hơn về một câu chuyện dù sao cũng còn bán tín bán nghi hoặc như một câu chuyện cổ tích nhưng trên thực tế là có thật.

Dân bản nhanh chóng truyền câu chuyện lạ ấy cho người thân ở các bản bên cạnh, mô phỏng, phán đoán với nhau theo cách hiểu biết của những người nông dân miền núi và nhiều người đem câu chuyện kể với một tay thợ săn kỳ cựu trong vùng. Người thợ săn này, sau khi nghe chuyện, muốn tỏ rõ tài nghệ của mình cho nhiều người biết, ông ta không quản ngày đêm, mai phục, dán mắt theo dõi từng bước hoạt động của bầy khỉ. Một hôm, sau khi khéo léo, bí mật theo đuổi bầy khỉ kéo nhau sang sống ở khu rừng bên cạnh. Lúc đầu, quan sát bằng mắt thường từ xa, người thợ săn còn nhầm đứa bé là một con đười ươi đực con theo bầy khỉ cùng đi kiếm hạt quả, leo trèo giỏi và, còn là bạn với chim muông. Thật đau buồn là em bé đã hoàn toàn mất khả năng ngôn ngữ của con người mà lại hú như khỉ, hung dữ như khỉ, di chuyển theo kiểu bò lổn ngổn như khỉ, cũng nhặt trái cây đưa lên mũi ngửi, cho vào miệng nếm rồi lại ném ngay xuống đất nếu không ưng, cũng dùng hai tay ôm chầm những con khỉ trong bầy đàn.

Mãi ba năm sau mới hay, con khỉ đã từng sống ở khu rừng này đã bắt trộm đứa bé sơ sinh vừa đầy tháng trong nôi treo trên cây ở bìa rừng đem đi nuôi ở khu rừng nào đó rồi lại cõng thằng bé về đây và người thợ rừng từng trải, khôn khéo đã dụng công bắt được bằng bẫy hầm.

Nghe tin, cả bản mường đổ vào rừng xem mà nhận ra đích thực thằng bé bỗng dưng mất tích ba năm trước. Bây giờ thằng bé đã hoá “người khỉ” chứ không còn là người nữa. Tuy vậy, bên cạnh con khỉ độc luôn bám sát để bảo vệ thằng bé khỉ, nhìn vào dấu chàm lồ lộ ở gáy lưng mà bà mụ đánh dấu, ta rất dễ phân biệt thằng bé khỉ không phải con của khỉ sinh ra mà là con của người sinh ra.

Ông tôi cần quyền chuộc nhưng người thợ săn đã bảo: “Không phải chuộc, nó là của ông, của tôi, của cả bản rừng ta đó. Khoan, khoan hãy tính đến chuyện đó. Trước tiên là tuỳ theo khả năng, tuỳ theo tấm lòng rộng mở như rết nhiều chân, cả bản xúm cùng tôi, cùng ông, ta giúp phục dưỡng, “hoàn nhân” để kịp thời cứu đứa bé ba năm nay bị đồng hoá thành khỉ, bị khỉ bắt vào rừng nuôi!”. Còn tôi, ai cũng biết, gần một đời người, ngày đêm lăn lộn sống trong rừng với nghề săn bắn, tôi chẳng lạ chi đời sống và cách sinh sống của nhiều loài trong rừng này, nhất là loài khỉ, tôi có kinh nghiệm hơn thì tôi xin chịu trách nhiệm trong việc nuôi dạy thằng bé khỉ biết đi đứng thẳng thớm đàng hoàng như người, biết ăn, biết nói, biết gói, biết mở... như tổ tiên nó.

Người thợ săn bắt tay ngay vào việc dạy dỗ thằng bé khỉ tất cả như một con người, đúng với tên gọi thiêng liêng mà tạo háo đã ban tặng cho.

Từ trẻ chí già, ai trong bản mường này cũng thấy cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, cùng lời nói có lý, có tình, cũng cảm phục đức độ của người thợ săn lịch lãm đó. Và từ nay, ông trở thành cha nuôi “Thằng người khỉ”.

Theo kế hoạch của người thợ săn, dân bản nghe lời không nỡ giết con khỉ độc vì dẫu sao nó cũng có công nuôi nấng, cõng thằng bé từ ngày còn một tháng tuổi, cứ để rồi tách dần, tách dần thằng bé, khi cần thiết. Đến ngày gần tách được thằng bé ra thì con khỉ độc kia cũng chết, vì nó đã già lắm rồi.

Cũng phải nói, lúc đầu đặt tên cho thằng bé khỉ là “Thằng người khỉ”, nhiều người cho như thế là không ổn, thì người thợ săn giải thích: “Tên chỉ là quy ước để gọi với nhau, cái có ý nghĩa là vật đem ra gọi là “Thằng người khỉ”, chúng ta cố giúp nó mau chóng hoàn thiện được nhân cách tốt đẹp của đồng loại, để sớm hoà nhập với đời sống xã hội, cộng đồng kia”.

Một hôm, có người hỏi người bố nuôi rằng: “Thằng người khỉ” biết nói chưa? Người bố nuôi đáp: “Còn bập bẹ các tiếng: “Chon chào sày chi dầng đề a!”. Hai tháng sau, người ấy lại hỏi: “Biết nói chưa?” Bố nuôi đáp: “Đã rõ các tiếng: “con chào thầy đi rừng về ạ!” Ba tháng sau, cũng người ấy hỏi: “Biết nói đến đâu rồi?” Bố nuôi đáp: “Trông thấy mười điều, nói tám, chín”. Tháng sau, cũng lại người ấy hỏi: “Chắc nay, trông thấy mười điều, nói đủ mười!” Bố nuôi đáp: “Biết nói rồi, trông thấy mười điều, chỉ nói hai, ba” Người kia đâm ngạc nhiên, tò mò hỏi đi, hỏi lại: “Ủa, thế thì biết nói ít lắm, khéo mà khỉ lại hoàn khỉ thì công cốc!”.

Người bố nuôi vẫn điềm đạm: “Biết nói rồi, thưa ngài, xin ngài vui lòng phân biệt ít nói khác với nói ít. Thì thánh Khổng Tử, cả đời ngài chu du khắp các nước chư hầu, suốt tháng, năm ngài thuyết giáo, truyền đạo, có ai chê bai, dè bĩu ngài là nói nhiều, nói ít đâu? Cái kỳ công, cái chuẩn đích của tôi là khổ luyện cho “Thằng người khỉ” của tôi ý thức ngay từ giây phút đầu là đừng bao giờ nói thừa tiếng, đừng thấy gì nói nấy, thao thao bất tuyệt. “Ăn có nhai, làm có nghĩ”. Nói như con vẹt mới là biết nói ư? Thưa ngài!”.

Ở bản Thắng này, câu chuyện “Thằng người khỉ” như một nồi nước sôi già, nhấc ra khỏi lửa, thời gian càng nguội dần...

Đã lâu, không thấy ai gọi là “Thằng người khỉ” mà gọi là “Chú thợ săn kề cận” vì nó thường xuyên đi về với cha nuôi vào ra rừng và, nhiều hôm hai cha con cùng khiêng về hàng buộc khỉ với nhiều thú rừng khác. Người bố nuôi cho biết là “Thằng người khỉ” có biệt tài hơn ông về cách phát ra thứ âm thanh để dụ gọi khỉ về hầm bẫy. Từ ngày có nó theo ông vào rừng, nhờ nó giúp thêm tay, tuy không còn tinh nhanh như thời tuổi trẻ, ông vẫn săn bắn được nhiều hơn trước, nên đời sống khấm khá hơn. Ai cũng bảo ông có phúc nên có phần đấy!

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, người ta chóng già là thế. Nay “Thằng người khỉ” đã 10 tuổi. Những hôm xấu trời vào rừng không thuận tiện, cha con người thợ rừng ở nhà. Người ta thấy “Thằng người khỉ” lớn bổng giữa đám trẻ làng như một con ong tướng giữa đõ ong vậy. Nó cùng đám trẻ ở sân đình chơi trò đánh trận giả, 5 đứa khác cụm lại làm voi, cũng có vòi, có đuôi bằng một tay của đứa đầu, đứa cuối, vẫy vẫy, huơ lên, huơ xuống; nó và một thằng nữa ngồi trên lưng voi, thằng ngồi sau nó, cầm cái gốc cây sắn làm búa đóng quản tượng, một tay cầm cây kích là thân một cây sắn đã lau mắt, vạt nhọn một đầu, có sơn vôi trộn lẫn nhọ nồi. Nó ngồi trước, đầu đội mũ cánh chuồn kết bằng lá vàng, một tay cầm cây kiếm gỗ, tay kia cầm cái loa vận bằng lá dứa, chõ lên mà dõng dạc giữa tiếng hò reo, tiếng thét “sát! sát!”, tiếng gõ “cheng, cheng!” vào chậu thau đồng của bầy trẻ: “Hỡi tam quân, nghe trẫm truyền: chỉ có tiến chứ không lùi, không lùi!”.

Người cha nuôi thực bụng không muốn cho con theo vào rừng, tuy là nghề của ông sinh sống lâu nay. Ông bảo con khi ôm nó vào lòng: “Con à, theo công việc chữ nghĩa, văn thơ, khoa học mới khó, mới hay, chứ cái nghề săn bắn thì khó chi. Con hãy nghe cha chuyển nghề!”... “Thằng người khỉ” thì bảo nó thương cha vào ra một mình đêm hôm nơi rừng sâu hun hút thiếu chi nguy hiểm, nên cứ năn nỉ xin cha đi theo, còn chuyện học hành chữ nghĩa hẳn là phải theo lời cha, nhưng sẽ lo sau. Ban đầu người cha nuôi nể và chiều con. Vả lại, thực tình ông không muốn xa rời nó dù giây phút.

Trẻ con trong bản mường thì chưa sáng đã tốp tốp kéo đến ngõ rủ “Thằng người khỉ” đi cầm đầu trò chơi đánh trận giả cho vui.

Già làng nhắc bố nuôi đi xin lập tờ khai sinh cho con, theo luật quan châu lâu nay đã chậm trễ lắm rồi!

Một hôm, ngày lành tháng tốt, người bố nuôi dẫn con cùng đi gặp viên cai bạ hàng tổng để “Thằng người khỉ” tự trình bày mà xin ông cai bạ cấp giấy khai sinh. Vốn là người làm việc trong tổng nên viên cai bạ không lạ lý do và nội dung câu chuyện, ông là người khét tiếng khắt khe về nguyên tắc, lại khó tính, nhưng hôm nay ông rất ôn tồn, niềm nở đón tiếp cha con người thợ săn. Sau khi nghe lời lẽ thông minh, từ tốn, lễ phép tự trình bày của “Thằng người khỉ”, ông bạ tươi cười nhìn sang người cha nuôi và có lời nhận xét về đối tượng xin cấp giấy khai sinh, với lời khách quan, không chút lấy lòng: “Tuy trên chân tay, mặt thằng bé, lớp lông tơ dài hơn, dày hơn mọi đứa trẻ khác, nhưng điều đó không can chi. Tôi thấy lớp lông tơ đó góp phần tăng thêm vẻ đẹp khác thường cho thằng bé, ông ạ (chỉ cha nuôi). Rõ là một con Người đích thực rồi, một thằng bé mới 10 tuổi đầu, có 3 năm lại là ba năm đầu của đời người, sống sót giữa bầy dã thú, như ông khai, nhưng cao to, lực lưỡng hơn cả đứa 13, 14 tuổi, một chàng thiếu niên đầy vẻ tài trí, thông tuệ, tràn đầy sức lực, khoẻ mạnh, ăn nói linh lợi hoạt bát, điềm đạm, lễ phép. Cứ tiếp tục nền giáo dục như thế của gia đình và xã hội, đứa bé sẽ trưởng thành nhân cách tốt đẹp. Nghĩa là biết “Khiêm”, “Nhã”, “Kính”, “Ái” làm phương thế phục lòng mọi bậc người trong xã hội. Còn việc lập tờ khai sinh, ông không lo, tôi không thể không tận tâm giúp cháu. Bố mẹ sinh con cái, nhà nước nào cũng phải cấp khai sinh cho các cháu. Có điều, lẽ ra bố mẹ đẻ của cháu phải làm kịp theo quy định của quan châu, nhưng không may gặp phải trường hợp bất thường, xin khất ông, để tôi tự lên quan châu đã, trường hợp này tôi không được phép thiện tiện”.

Trước khi chia tay, viên cai bạ thắm thiết ôm hôn “Thằng người khỉ” như con mình và “Thằng người khỉ” kính cẩn chào biệt để cùng người cha nuôi cáo lui.

...Tiếp được công văn của viên cai bạ, quan châu cho lệ đem tờ sức về ngay tổng, cùng viên cai bạ, người cha nuôi, thân hành đưa “Thằng người khỉ” lên dinh châu, để quan châu ngài mắt thấy chứ lâu nay mới tai nghe.

Trong bản mường lại có kẻ xấu bụng, ghen ăn tức ở rằng “Chuyện cấp giấy khai sinh là nhỏ, rất nhỏ, sao quan châu nay lại ôm rơm? Không phải là để chiều lòng tò mò của mọi người trên phủ đường, nhất là các bà lớn, bà nhỏ vợ quan, cậu ấm với hai cô chiêu của quan hay sao?”

Đến hẹn, đoàn người thân hành đưa “Thằng người khỉ” đến tận nơi quan châu ngồi làm việc, hôm đó cũng có đầy đủ các bà, các cô, cậu, nha lại, lính tráng.... Bà lớn đang ngồi ngả ngửa trên cái ghế bành lót nhung màu xanh, bỗng đứng phắt lên mà trố mắt nhìn quan, nói: “Quan xem kìa, thằng bé hay hay quá đi thôi!”. Hai nường công chúa của quan vào tuổi cặp kê, thấy “Thằng người khỉ” đĩnh đạc, phổng phao đáng yêu thì e thẹn, cứ ả này ẩy ả kia về phía “Thằng người khỉ’ như kiểu “muốn ăn gắp bỏ cho người”. Cậu ấm thì chìm lút giữa mấy hàng ghế cạnh quan vì quá lùn, quá mảnh khảnh mà lại sứt mũi và yếu ọt như thằng phải gió! “Bà” vợ bé của quan nghe nói mới vào tuổi 17, thì đưa mắt con mèo cái nhìn “Thằng người khỉ” như nhìn bát mỡ mới rán còn bốc lựng mùi thơm. Rõ là háu cái tướng mạo bên ngoài của người con trai, là cái căn bệnh muôn đời của người con gái. Quan châu hình như ngài cũng ghen, cũng buồn vì ngài tự xét hình thức, tư chất của cậu ấm sứt của mình còn ở gót chân của “Thằng người khỉ”! Nhưng quan cũng cố trấn tĩnh gọi viên cai bạ và người cha nuôi lại gần căn dặn: “Một đấng nam nhi như thế này, từ nay không cho phép ai được gọi tên là “Thằng người khỉ” nữa, mà phải theo giấy khai sinh quan châu đích thân cấp:

Tên: Tân (nghĩa là mới); họ: lấy họ người cha đẻ (đã quá cố); tên lót: mang họ người cha nuôi”. Rồi quan đặt hai bàn tay ngón tháp bút xanh xao vàng vọt của quan lên bờ vai rộng như vai Từ Hải của Tân mà hỏi: “Đã muốn đi học chưa con?” Tân trả lời: “Bẩm thưa quan, có ạ. Quan khen: “Tốt lắm! tốt lắm!” Quan lấy một tờ giấy hồng điêu trên bàn, viết mấy chữ, giới thiệu với một thầy đồ có tiếng hay chữ trong tổng, để Tân kịp nhập học tháng tới. Quan lại bảo với bà lớn cho Tân thêm 5 đồng nữa để mua giấy bút. Có lẽ vì thiện cảm với con người Tân nên bà lớn cho Tân thêm 5 đồng nữa là 10 đồng! Quan nói cho người cha nuôi phấn khởi, đưa con trở về chăm sóc nó thêm việc học hành, sau đó sẽ có bằng cửu phẩm quan ban, vì đã có công cứu một cậu bé 3 năm tuổi thoát khỏi bàn tay dã thú, vừa có lòng nhân đạo vừa biết cách dạy ăn, dạy nói..., giúp một con người đã hoá khỉ “hoàn nhân”, trở lại với cuộc sống của xã hội văn minh của con người.

Nghe lời quan, Tân đến trường học chữ, ngừng việc đi rừng với cha. Nhưng hàng tháng, Tân xin thầy đồ về thăm cha nuôi và ông (là ông tôi đó) và có kèm theo thư báo khen của thầy đồ gửi cho phụ huynh, khen rằng: Trong đám học trò có cả con cái các phú ông hàng châu, Tân vượt trội hẳn lên về mọi mặt!

Nhưng than ơi! đến năm tròn tuổi giáp đầu thì Tân qua đời, với căn bệnh đau màng óc, như lời viên đốc tờ châu thông báo.

Từ đó, người trong bản Thắng không ai thấy bóng dáng người cha nuôi trong rừng săn bắn nữa. Ông đi lang thang, luôn đeo chúc nòng khẩu súng kíp, không có đạn, mồm thì luôn lẩm nhẩm: “Thằng người khỉ”, “Chú thợ săn kế cận”, “Thằng Tân - con tôi, nó đã biết nói rồi mà, một trăm phần trăm biết nói rồi, sao nó chết rồi, chết rồi!”.

Vài tháng sau, vì quá thương tiếc đứa con, người cha nuôi phát điên phát cuồng, rồi chết! Để lại túp lều xiêu vẹo, rách nát cô quạnh nơi cửa rừng như một nhân chứng. Tài sản đáng giá chỉ có một con dao khoắm, một khẩu súng kíp tự tạo, người thợ săn sử dụng đã 50 năm, cán dao và báng súng lên nước trơn bóng, treo lủng lẳng vào mấu cột chòi, chỗ đầu tấm liếp làm giường nằm của hai cha con.

Còn tôi thì các bạn biết đó, không hề rõ mặt mũi của cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi, là một đứa trẻ mồ côi cút, được ông tôi mua rẻ về nuôi từ lúc tôi chưa có quần áo mặc. Trong cái xã hội cũ, cá lớn nuốt cá bé, bòn mót ra miếng cơm, manh áo đã khó, nói chi chuyện học chữ.

Chưa đến tuổi thành niên, nhưng tôi xin gia nhập vào một đơn vị bộ đội qua bản làm liên lạc nhiều năm mới đủ sức cầm súng đi chiến đấu và, cho đến ngày kết thúc Điện Biên Phủ, đeo cái huy hiệu thương binh loại bốn về thăm mừng dân bản và ông tôi thì ông tôi đã qua đời!.

Ai cũng thông cảm: Bộ đội thời kháng chiến chống Pháp đâu có thời giờ học văn hoá, anh em người biết chữ bày cho chỉ biết được đôi ba vần. Phục viên về, sau hoà bình, tôi mới có thời giờ tự học. Việc học chữ đối với tôi bây giờ quả là “măng mọc quá pheo”. Những lúc học không vô được, là tôi nghĩ ngay đến “Thằng người khỉ”, “Chú thợ săn kế cận”, thằng Tân - em tôi, để mà tự khắc phục cái yếu kém của mình, chớ tự ái vặt mà lơ là, chểnh mảng việc tự học hành thường xuyên liên tục của mình!...

(Bản Thắng xã Hải Long huyện miền núi Như Thanh - Thanh Hoá
trước Xuân Giáp Thân 2004)

A.D
(179-180/01&02-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TRỌNG ĐỊNHPhòng giam chật chội, tối tăm...  Gần trần có một lỗ thông hơi. Bên ngoài lỗ thông hơi là bức tường tôn xám xỉn. Khe hở dài chừng 10 mét, rộng chừng 3 tấc, nằm song song và gần sát với mặt đường bên ngoài. Đứng trong phòng giam, từ lỗ thông hơi nhìn qua khe hở của bức tường, chỉ có thể thấy những bước chân người đi.

  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.