TRIỀU NGUYÊN
1. Hiện nay, “vè” là tên của một thể loại, thể loại vè, thuộc văn học dân gian Việt Nam.
Ảnh: internet
Có cần đặt “vè” trước tên gọi các đơn vị văn bản thuộc thể loại này không? Một số tác giả trả lời là có, nhưng cũng không ít người bảo ngược lại. Chẳng hạn, đọc tên các tác phẩm được một số tài liệu ghi chép chúng vào thể loại vè, như sau: 1) Tài liệu Văn hóa dân gian huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ: a) “Sai anh trẩy Trấn Hưng” (tr. 60); b) “Phong cảnh làng Hương Nha” (tr. 60), c) “Cảnh làng Dị Nậu” (tr. 64); d) “Vè bán đồng” (tr. 67); e) “Chạy giặc năm 1892” (tr. 69);…(1); 2) Tài liệu Văn học dân gian Thái Bình: a) “Vè Bùi Đá và Hoàng Sỏi” (tr. 288); b) “Vè Ba Vành” (tr. 299); c) “Vè chống giặc biển” (tr. 304); d) “Vè Tạ Hiện” (tr. 309); e) “Vè Bang Tốn” (tr. 311);… (2) giờ nhà Nguyễn đã hư” (tr. 225); b) “Hoàng triều nay đức Hàm Nghi” (tr. 228); c) “Gặp vận phong ba” (tr. 234); d) “Tây vô Cửa Hội” (tr. 236); e) “Tây vô đốt phá tả tơi” (tr. 240);…(3); 4) Tài liệu Văn học dân gian Quảng Bình: a) “Vè mùa đông binh sĩ” (tr. 262); b) “Vè đảm phụ quốc phòng” (tr. 267); c) “Vè trận Phù Trạch” (tr. 271); d) “Vè khuyên chồng” (tr. 273);…(4); 5) Tài liệu Vè Thừa Thiên Huế: a) “Vè bảo ban con gái (bài I)” (tr. 93); b) “Vè năm đói” (tr. 125); c) “Vè Tự Đức lên ngôi” (tr. 142); d) “Vè Lợi Nông” (tr. 295); e) “Vè đi Tây” (tr. 307);…(5); 6) Tài liệu Ca dao, dân ca, vè, câu đố huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa): a) “Vè mưa lâm râm” (tr. 429); b) “Vè các loại rau” (tr. 430); c) “Vè hạ thú thượng cầm” (tr. 433); d) “Vè chê thầy pháp”; e) “Vè ở mướn” (tr. 454);…(6); 7) Tài liệu Văn học dân gian Sóc Trăng: a) “Vè chạy giặc” (tr. 788); b) “Vè Việt Minh” (tr. 790); c) “Vè 25 tháng Tám” (tr. 793); d) “Vè tranh đấu” (tr. 795); e) “Vè đánh trận Xẻo Me” (tr. 806);…(7)
2. Có thể thấy: nếu cho số lượng tác phẩm vè được nêu ở các tài liệu là bằng nhau, thì kém nửa không ghi “vè” vào tên gọi, trong lúc già nửa kia lại có. Dù các nhìn nhận vừa nêu được rút ra từ thực tiễn, nhưng cũng cần giải thích, nhất là trường hợp sau. Chẳng hạn, việc ghi “vè” vào đầu tên gọi có cơ sở từ lịch sử văn học hay không?
2.1. Ở văn học viết thế giới, một số tên thể loại (chẳng hạn: kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn,…), có khi được nêu sau tên tác phẩm dịch sang tiếng Việt, như một chú thích. Thử đọc một số: 1/ Những tên cướp (tập kịch) - của F. Sinle (Đức), Tất Thắng và Nguyễn Đình Nghi dịch (1983), Nxb. Văn học, Hà Nội; 2/ Gatxbi vĩ đại (tiểu thuyết) - của Scott Fitzgerald (Xcốt Fítgiêrơn, Mĩ), Hoàng Cường dịch (1985), Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội; 3/ Ngõ hẻm dưới ánh trăng (truyện và ký) - của Xtêfan Xvaig (Stêfan Zweig, Áo), Phùng Đệ, Lê Thi, Dương Tường dịch (1984), Nxb. Thanh Hóa;… 4/ Mưa (truyện ngắn) - của Somerset Maugham (Xômơxét Môôm, Anh), Nguyễn Việt Long dịch (1984), Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội.
Bài viết tạm đặt các yếu tố thể loại trong ngoặc đơn để tiện trình bày, chứ các tài liệu được dẫn đều in chữ bé hơn số chữ của nhan đề sách, ở bìa chính và trang phụ bìa (mà không đặt trong ngoặc đơn). Theo cách hiểu: [nhan đề sách] thuộc thể loại x; như Mưa thuộc thể loại truyện ngắn (x = truyện ngắn), nên Mưa là một tập hợp gồm nhiều truyện ngắn (“mưa” có thể là nét nghĩa chung cho các truyện, hoặc trong số những truyện ấy, có một truyện tên là Mưa - điều vừa nêu thuộc trường hợp sau). Khi tên sách chỉ duy nhất một văn bản, thì x có thể đặt trước thể loại x của [nhan đề sách]: thí dụ, có thể viết “Gatxbi vĩ đại tiểu thuyết”, đồng thời, cũng có thể viết “tiểu thuyết Gatxbi vĩ đại”. Theo đó, việc đặt trong ngoặc đơn hay ghi bằng cỡ chữ bé, ngay sau nhan đề một sáng tác (được in thành sách) là nhằm chú dẫn về mặt thể loại của tác phẩm ấy (lưu ý: dù cỡ và màu chữ không có tác dụng thay dấu câu, trong đó có dấu chú thích, nhưng khi trình bày sách - bìa và trang phụ bìa - người ta thường cho là có thể thay thế được).
2.2. Trong nhan đề thơ thời kỳ trung đại Việt Nam, cũng tìm thấy một số tác phẩm thuộc thể loại hay kiểu dạng văn bản liên quan, như “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,… ở tên gọi. Chẳng hạn, “Ngọc tỉnh liên phú” (Mạc Đĩnh Chi), “Hoàng Lê nhất thống chí” (Ngô gia văn phái), “Long Thành cầm giả ca” (Nguyễn Du), “Cung oán ngâm” (Nguyễn Gia Thiều), “Dương phụ hành” (Cao Bá Quát), “Hoán tỉnh châu dân từ” (Khuyết danh), “Tự tình khúc” (Cao Bá Nhạ),… Không khó nhận ra, các từ mang tính thể loại, kiểu dạng tác phẩm, được đặt ở cuối nhan đề bằng Hán văn. Những nhan đề này khi chuyển sang tiếng Việt, có thể giữ nguyên (như “Hoàng Lê nhất thống chí”, “Dương phụ hành”, “Tự tình khúc”,…), hoặc đưa lên trước (kiểu “Ngọc tỉnh liên phú” thành “Bài phú về hoa sen trong giếng ngọc”), có khi bỏ đi (8).
Trần Trọng Kim (1950), trong Đường thi (Nxb. Tân Việt, Sài Gòn), đã dịch nhan đề của 33 bài có “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”, là bài, (khúc) hát. Trong lúc, nhiều dịch giả (1988), trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nxb. Văn học, Hà Nội), đã giữ nguyên, không chuyển “hành” thành bài hát như ở Đường thi (cả bốn bài có “hành” ở tài liệu này, như “Sở kiến hành” được dịch là “Bài hành về những điều trông thấy”, tr. 356). Cũng bài “Sở kiến hành” ấy, sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX (Huỳnh Lý chủ biên (1987), Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 470) dịch là “Những điều trông thấy”, tức bỏ “hành”.
2.3. Không khó nhận ra, nếu trường hợp đầu (việc chú thể loại ở văn chương bác học), chỉ có phần gần gũi, thì ở trường hợp sau (một số tác phẩm văn học trung đại, ghi “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,… trong nhan đề), đã thực sự tương ứng với hiện tượng các bài vè có ghi thể loại này vào tên gọi.
Mỗi khi đã như vậy, tức vấn đề có gốc gác từ lịch sử, thì việc nhìn nhận ít nhiều cũng xuất phát từ đó. Nếu làm khác thì hoặc khiên cưỡng, ngụy biện, hoặc mắc lỗi với cha ông.
Cũng nói thêm, hiện tượng trước thì có tên thể loại, sau đó lại không, như một số tác phẩm có ghi “thi” (thơ) vào nhan đề (kiểu “Khải hành thi” (Bài thơ lên đường), “Vấn Hằng Nga thi” (Bài thơ hỏi chị Hằng), “Toạ nguyệt thuật hoài thi” (Bài thơ tỏ nỗi lòng lúc ngồi ngắm trăng),…, của Lê Thánh Tông (1442 - 1497), thế kỉ thứ XV, hay “Ngẫu thành thi” (Thơ ngẫu thành), “Cảm hứng thi” (Thơ cảm hứng),…, của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), thế kỷ thứ XVI,…), chừng vài thế kỷ trở lại đây, có hiếm hơn; hiện nay, trong thơ hiện đại, hầu như không tìm thấy. Ngay các tác giả vừa nêu, với vấn đề đặt ra, cũng chỉ có một ít (không phải bất kỳ một sáng tác thơ nào của hai nhà thơ đều vậy, như với Lê Thánh Tông, chỉ một số có ghi “thi” vào nhan đề, tập trung ở Chinh Tây kỉ hành - ba tác phẩm vừa ghi đều được trích ở đó).
3. Có thể nêu vài nhận xét để khép lại vấn đề như sau:
- Trường hợp một số tài liệu có hoặc không ghi “vè” vào tên gọi tác phẩm thuộc thể loại cùng tên: a) Các tỉnh, xứ thuộc Đàng Trong (từ Quảng Bình trở vào Nam) ghi “vè” vào đầu các nhan đề của bài vè cụ thể nhiều hơn các tỉnh, xứ thuộc Đàng Ngoài (từ Hà Tĩnh hướng ra Bắc); b) Khi ghi “vè” vào đầu các nhan đề của bài, thì có khả năng nó sẽ làm chủ ngữ cho cả tổ hợp, tức biến vai trò khái quát của thể loại thành một yếu tố cụ thể của tên gọi - như văn bản “Vè chạy giặc”, có thể hiểu: “Bài vè [về việc] chạy giặc”, tác phẩm “Vè khuyên chồng”, có thể hiểu: “Bài vè [về việc] khuyên chồng”,...; ở đây, chúng danh hóa các tổ hợp động ngữ (“chạy giặc”, “khuyên chồng”). Trường hợp dịch tác phẩm nước ngoài, các yếu tố thể loại (như thơ, kịch, tiểu thuyết,…) được nêu kèm nhan đề như một chú thích: do tách rời, nên các tên thể loại vừa kể, về lĩnh vực ngữ pháp, không thành một yếu tố của nhan đề, hòng biến vai trò thể loại thành một phần tử của tổ hợp tên gọi đặt ra.
- Nói rõ hơn, việc có hay không tên gọi thể loại, kiểu dạng văn bản trong nhan đề tùy thuộc vào vai trò, vị trí của thể loại ấy ở người sưu tập, người thưởng thức. Chẳng hạn, ở một xã hội chuộng thơ như nước ta, mà bài thơ nào cũng có từ “thi” (hay “thơ”) trong nhan đề, là không cần thiết; bởi người nghe/đọc chỉ cần sau vài dòng là biết ngay bài ấy là thơ (thậm chí, thơ của ai), thì cần gì phải ghi nữa. Nhưng cũng có một số thể loại, kiểu dạng mà nếu không ghi, e người đọc sẽ không biết thật; như một số trường hợp đã nêu, hoặc “chiếu”, “cáo”, “hịch”, “thuyết”(9),... của văn học trung đại Việt Nam.
- Việc nêu “vè” trong nhan đề của những tác phẩm thuộc thể loại cùng tên ở nước ta, cho thấy xuất phát điểm của vấn đề liên quan đến văn học trung đại Việt Nam. Ở đây, tên một số văn bản kiểu phú, chí, ca, ngâm, hành, từ, khúc, chiếu, cáo, hịch,… được ghi vào nhan đề sáng tác như vè. Người ta có thể dịch nó hay không; tương tự với việc, có thể gọi đó là “bài vè [về việc]…”, hay nếu thấy không cần thiết, thì cứ đi thẳng vào nội dung chính cũng được (theo lối đặt tên vè phổ biến ở các địa bàn thuộc Đàng Ngoài, đã ghi).
T.N
(SHSDB41/06-2021)
---------------------------
1. Tài liệu Văn hóa dân gian huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (Dương Huy Thiện (Chủ biên) (2012), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 60-72) chép 8 bài vè, trừ “Vè bán đồng”, 7 bài còn lại không ghi tên “vè” ở nhan đề; theo đó, tổng số bài có ghi “vè” trong nhan đề chiếm 12,5%.
2. Theo Văn học dân gian Thái Bình (Phạm Đức Duật (Chủ biên) (1981), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 288-384 - năm 2012, sách này được Nxb. Lao động in lại, có sửa chữa, bổ sung).
3. Tuy tài liệu Kho tàng vè xứ Nghệ, 9 tập (Ninh Viết Giao (1999, 2000), Nxb. Nghệ An), so với sáu đầu sách còn lại (được dẫn ở mục này) chỉ chiếm một phần bảy, nhưng nó có đến hơn 1.100 bài vè (hầu hết không ghi “vè” vào nhan đề như thế), nên số lượng văn bản của tài liệu này vượt trội, là điều cần chú ý.
4. Theo Văn học dân gian Quảng Bình (Trần Hùng (Chủ biên) (1996), Nxb. Văn hóa Thông tin, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Quảng Bình kết hợp xuât bản, tr. 212-275).
5. Theo Vè Thừa Thiên Huế (Tôn Thất Bình (Chủ biên) (2001), Hội Văn nghệ dân gian Thừa Thiên Huế xuất bản, Huế).
6. Theo Ca dao, dân ca, vè, câu đố huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa) (Trần Việt Kỉnh (Chủ biên) (2011), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 428-463).
7. Theo Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên (Chủ biên) (2012), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 695-836).
8. a/ Trường hợp “bỏ đi”, được trình bày tiếp theo. Do “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,... đặt sau các tên gọi tác phẩm Hán Việt, khi chuyển chúng sang thuần Việt thì từ tương ứng được đặt lên đầu nhan đề, là điều ai cũng biết, nên không cần thiết phải nêu; b/ Xem thêm: Triều Nguyên (2002), “Ý nghĩa của ca, ngâm, hành, từ, khúc trong nhan đề thơ cổ”, Tạp chí Hán Nôm, số 2 (51), tr. 36-40.
9. Như: “Thiên đô chiếu” (Chiếu [về việc] dời đô, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), 974 - 1028), “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi, 1380 - 1442), “Dụ chư tì tướng hịch văn” (thường gọi Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn, 1232 - 1300), “Thiên cư thuyết” (Bài thuyết về chuyện dời nhà, Cao Bá Quát, 1809 - 1854),...
Tải mã QRCode
Hiện nay trên thế giới, quan niệm về Nghệ thuật tạo hình, Nghệ thuật thị giác và Mỹ thuật mang ý nghĩa gần giống nhau. Nó bao gồm: hội họa, đồ họa, kiến trúc, điêu khắc, trang trí ứng dụng, video clip, sắp đặt v.v..Loại hình nghệ thuật này luôn xuất hiện bằng những hình ảnh (image) thu hút mắt nhìn và ngày càng mở rộng quan niệm, phương thức biểu hiện cũng như khai thác chất liệu. Tuy nhiên, để hiểu thế nào là nghệ thuật trong tranh, hoặc vẻ đẹp của một công trình nghệ thuật còn là câu hỏi đặt ra với nhiều người.
HÀ VĂN LƯỠNGPuskin không chỉ là nhà thơ Nga vĩ đại, nhà viết kịch có tiếng mà còn là nhà cải cách văn học lớn. Là người “khởi đầu của mọi khởi đầu” (M. Gorki) Puskin bước vào lĩnh vực văn xuôi với tư cách là một người cách tân trong văn học Nga những năm đầu thế kỷ. Những tác phẩm văn xuôi của ông đã đặt cơ sở vững chắc cho văn xuôi hiện thực và sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga, góp phần khẳng định những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc.
ĐẶNG VIỆT BÍCHGần đây trên tuần báo Văn Nghệ đã có bài viết bàn về vấn đề đào tạo "Văn hóa học", nhân dịp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết V về xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
PHAN TUẤN ANH “Cuộc nói chuyện của chúng ta đã cho tôi thấy rằng hết thảy những gì liên quan đến bản chất của ngôn ngữ mới ít được nghĩ đến làm sao” (Martin Heidegger)
TRẦN ĐÌNH SỬVăn học sáng tác là nhằm để cho người đọc tiếp nhận. Nhưng thực tế là người đọc tiếp nhận rất khác nhau. Lý luận tiếp nhận truyền thống giải thích là do người đọc không sành.
NGUYỄN THANH HÙNGVăn học là cuộc sống. Quan niệm như vậy là chẳng cần phải nói gì thêm cho sâu sắc để rồi cứ sống, cứ viết, cứ đọc và xa dần mãi bản thân văn học.
LTS: Cuộc tranh luận giữa hai luồng ý kiến về nhân vật lịch sử Nguyễn Hiển Dĩnh, một mệnh quan triều đình Huế có công hay có tội vẫn chưa thuyết phục được nhau.Vấn đề này, Tòa soạn chúng tôi cũng chỉ biết... nhờ ông Khổng Tử "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri giả" (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, ấy là biết). Vậy nên bài viết sau đây của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Nguyễn Đắc Xuân, chúng tôi xin đăng nguyên văn, tác giả phải gánh trọn trách nhiệm về độ chính xác, về tính khoa học của văn bản.Mong các nhà nghiên cứu, cùng bạn đọc quan tâm tham gia trao đổi tiếp.
NGUYỄN ĐẮC XUÂNNăm 1998, Thành phố Đà Nẵng dự định lấy tên nhà soạn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh đặt cho con đường mới song song với đường 2 tháng 9 và đường Núi Thành. Nhưng sau đó qua một số tin bài của tôi đăng trên báo Lao Động nêu lên những điểm chưa rõ ràng trong tiểu sử của ông Nguyễn Hiển Dĩnh, UBND Thành phố Đà Nẵng thấy có một cái gì chưa ổn trong tiểu sử của Nguyễn Hiển Dĩnh nên đã thống nhất rút tên ông ra khỏi danh sách danh nhân dùng để đặt tên đường phố lần ấy. Như thế mọi việc đã tạm ổn.
Vừa qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân có viết một loạt bài về ông Nguyễn Hiển Dĩnh - một quan lại triều nguyễn, nhà soạn tuồng nổi tiếng Quảng Nam. Qua thư tịch, anh chứng minh Nguyễn Hiển Dĩnh tuy có đóng góp cho nghệ thuật tuồng cổ nhưng những hành vi tiếp tay cho Pháp đàn áp các phong trào yêu nước ở Quảng Nam quá nặng nề nên không thể tôn xưng Nguyễn Hiển Dĩnh là danh nhân văn hoá của việt Nam như Viện Sân khấu và ngành văn hoá ở Quảng Nam Đà Nẵng đã làm. Qua các bài viết của Nguyễn Đắc Xuân có những vấn đề lâu nay ngành văn hoá lịch sử chưa chú ý đến. nhà báo Bùi Ngọc Quỳnh đã có cuộc đối thoại lý thú với anh về những vấn đề nầy.
ĐỖ NGỌC YÊNVào những năm 70 của thế kỷ, ở nhiều nước phương Tây tràn ngập không khí của cuộc khủng hoảng gia đình, làm cho nhiều người rất lo ngại. Một số kẻ cực đoan chủ trương xóa bỏ hình mẫu gia đình truyền thống. Nhưng cái khó đối với họ không phải là việc từ bỏ hình mẫu gia đình cũ - mặc dù trên thực tế việc làm đó không phải dễ - mà vấn đề đâu là hình mẫu gia đình mới.
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH Phóng sự điều tra
THỦY THANHLâu nay, "quả lắc" vì sự trong sáng tiếng Việt dường như đã trì vào điểm chết của dây dọi. Những mặc cảm, thành kiến hoặc dị ứng về sự "ga lăng ngôn ngữ" trước áp lực của thời đại tin học cũng chững lại như một thái độ thăm dò. Suy cho cùng thì ngôn ngữ cũng có đời sống riêng và nó bao gồm cả thể vía lẫn thể xác. Nó cũng "hữu sinh tất hữu diệt" trong luật tiến hóa và đào thải như nhiên. Ngôn ngữ nói chung là một phương pháp hệ thống hóa và tích lũy tri thức theo sự diễn tiến về mặt lịch đại và sự tiệm tiến về mặt đồng đại.
Các lý thuyết văn học tiếp cận văn chương theo những cách khác nhau và có thể được phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm chung tối quan trọng không thể chối cãi: tác phẩm văn học là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ trong đó không thể thiếu vai trò của tác giả, độc giả cũng như thực tại, cho dù mỗi yếu tố tham gia ở những mức độ khác nhau.
Viết là một công việc bất hạnh. Một trong những yếu tố gây khốn khổ cho nhà văn là cốt truyện. Cốt truyện là “ông ngoáo ộp” dọa dẫm người cầm bút và cũng là nguyên nhân chung dẫn đến sự bế tắc của họ trong quá trình triển khai tác phẩm.
Trên thế giới, ít có loài hoa nào ra đời sớm, phổ biến với nhiều biểu trưng cao quý như hoa sen. Dáng hình đẹp, màu sắc trang nhã, hương thơm thùy mị, thanh khiết, không nhiễm bẩn... chừng ấy đức tính tốt đẹp đã đưa hoa sen thành biểu trưng cao quý của đạo Phật.
TRẦN ĐƯƠNGGoethe (1749-1832) hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng thâu tóm những tri thức đồ sộ, cũng đạt được những thành tựu xuất sắc. Tên tuổi ông trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, được Các Mác gọi là người Đức vĩ đại nhất”.
AN CHÍNHCó lẽ Hồng Nguyên là một trong những nhà thơ rất thành công về việc dùng "tiếng địa phương trong thơ của mình.
Flier Andrei Jakovlevich(Tiến sĩ triết học, nhà văn hóa học của Nga)
HOÀNG NGỌC HIẾN (Đọc "Văn hóa chính trị - truyền thống và hiện đại" (1) của Nguyễn Hồng Phong)Đây là công trình nghiên cứu tổng kết có tính chất chiến lược Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX06 "Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" do cố giáo sư Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm(2). Lịch sử những quá trình hiện đại hóa ở Việt Nam từ cuối t.k.XIX đến nay là một chủ đề quan trọng của công trình.
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNHThực trạng của phê bình nghệ thuật hiện nay đang là một câu hỏi cần phải được trả lời.