TRIỀU NGUYÊN
1. Hiện nay, “vè” là tên của một thể loại, thể loại vè, thuộc văn học dân gian Việt Nam.
Ảnh: internet
Có cần đặt “vè” trước tên gọi các đơn vị văn bản thuộc thể loại này không? Một số tác giả trả lời là có, nhưng cũng không ít người bảo ngược lại. Chẳng hạn, đọc tên các tác phẩm được một số tài liệu ghi chép chúng vào thể loại vè, như sau: 1) Tài liệu Văn hóa dân gian huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ: a) “Sai anh trẩy Trấn Hưng” (tr. 60); b) “Phong cảnh làng Hương Nha” (tr. 60), c) “Cảnh làng Dị Nậu” (tr. 64); d) “Vè bán đồng” (tr. 67); e) “Chạy giặc năm 1892” (tr. 69);…(1); 2) Tài liệu Văn học dân gian Thái Bình: a) “Vè Bùi Đá và Hoàng Sỏi” (tr. 288); b) “Vè Ba Vành” (tr. 299); c) “Vè chống giặc biển” (tr. 304); d) “Vè Tạ Hiện” (tr. 309); e) “Vè Bang Tốn” (tr. 311);… (2) giờ nhà Nguyễn đã hư” (tr. 225); b) “Hoàng triều nay đức Hàm Nghi” (tr. 228); c) “Gặp vận phong ba” (tr. 234); d) “Tây vô Cửa Hội” (tr. 236); e) “Tây vô đốt phá tả tơi” (tr. 240);…(3); 4) Tài liệu Văn học dân gian Quảng Bình: a) “Vè mùa đông binh sĩ” (tr. 262); b) “Vè đảm phụ quốc phòng” (tr. 267); c) “Vè trận Phù Trạch” (tr. 271); d) “Vè khuyên chồng” (tr. 273);…(4); 5) Tài liệu Vè Thừa Thiên Huế: a) “Vè bảo ban con gái (bài I)” (tr. 93); b) “Vè năm đói” (tr. 125); c) “Vè Tự Đức lên ngôi” (tr. 142); d) “Vè Lợi Nông” (tr. 295); e) “Vè đi Tây” (tr. 307);…(5); 6) Tài liệu Ca dao, dân ca, vè, câu đố huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa): a) “Vè mưa lâm râm” (tr. 429); b) “Vè các loại rau” (tr. 430); c) “Vè hạ thú thượng cầm” (tr. 433); d) “Vè chê thầy pháp”; e) “Vè ở mướn” (tr. 454);…(6); 7) Tài liệu Văn học dân gian Sóc Trăng: a) “Vè chạy giặc” (tr. 788); b) “Vè Việt Minh” (tr. 790); c) “Vè 25 tháng Tám” (tr. 793); d) “Vè tranh đấu” (tr. 795); e) “Vè đánh trận Xẻo Me” (tr. 806);…(7)
2. Có thể thấy: nếu cho số lượng tác phẩm vè được nêu ở các tài liệu là bằng nhau, thì kém nửa không ghi “vè” vào tên gọi, trong lúc già nửa kia lại có. Dù các nhìn nhận vừa nêu được rút ra từ thực tiễn, nhưng cũng cần giải thích, nhất là trường hợp sau. Chẳng hạn, việc ghi “vè” vào đầu tên gọi có cơ sở từ lịch sử văn học hay không?
2.1. Ở văn học viết thế giới, một số tên thể loại (chẳng hạn: kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn,…), có khi được nêu sau tên tác phẩm dịch sang tiếng Việt, như một chú thích. Thử đọc một số: 1/ Những tên cướp (tập kịch) - của F. Sinle (Đức), Tất Thắng và Nguyễn Đình Nghi dịch (1983), Nxb. Văn học, Hà Nội; 2/ Gatxbi vĩ đại (tiểu thuyết) - của Scott Fitzgerald (Xcốt Fítgiêrơn, Mĩ), Hoàng Cường dịch (1985), Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội; 3/ Ngõ hẻm dưới ánh trăng (truyện và ký) - của Xtêfan Xvaig (Stêfan Zweig, Áo), Phùng Đệ, Lê Thi, Dương Tường dịch (1984), Nxb. Thanh Hóa;… 4/ Mưa (truyện ngắn) - của Somerset Maugham (Xômơxét Môôm, Anh), Nguyễn Việt Long dịch (1984), Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội.
Bài viết tạm đặt các yếu tố thể loại trong ngoặc đơn để tiện trình bày, chứ các tài liệu được dẫn đều in chữ bé hơn số chữ của nhan đề sách, ở bìa chính và trang phụ bìa (mà không đặt trong ngoặc đơn). Theo cách hiểu: [nhan đề sách] thuộc thể loại x; như Mưa thuộc thể loại truyện ngắn (x = truyện ngắn), nên Mưa là một tập hợp gồm nhiều truyện ngắn (“mưa” có thể là nét nghĩa chung cho các truyện, hoặc trong số những truyện ấy, có một truyện tên là Mưa - điều vừa nêu thuộc trường hợp sau). Khi tên sách chỉ duy nhất một văn bản, thì x có thể đặt trước thể loại x của [nhan đề sách]: thí dụ, có thể viết “Gatxbi vĩ đại tiểu thuyết”, đồng thời, cũng có thể viết “tiểu thuyết Gatxbi vĩ đại”. Theo đó, việc đặt trong ngoặc đơn hay ghi bằng cỡ chữ bé, ngay sau nhan đề một sáng tác (được in thành sách) là nhằm chú dẫn về mặt thể loại của tác phẩm ấy (lưu ý: dù cỡ và màu chữ không có tác dụng thay dấu câu, trong đó có dấu chú thích, nhưng khi trình bày sách - bìa và trang phụ bìa - người ta thường cho là có thể thay thế được).
2.2. Trong nhan đề thơ thời kỳ trung đại Việt Nam, cũng tìm thấy một số tác phẩm thuộc thể loại hay kiểu dạng văn bản liên quan, như “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,… ở tên gọi. Chẳng hạn, “Ngọc tỉnh liên phú” (Mạc Đĩnh Chi), “Hoàng Lê nhất thống chí” (Ngô gia văn phái), “Long Thành cầm giả ca” (Nguyễn Du), “Cung oán ngâm” (Nguyễn Gia Thiều), “Dương phụ hành” (Cao Bá Quát), “Hoán tỉnh châu dân từ” (Khuyết danh), “Tự tình khúc” (Cao Bá Nhạ),… Không khó nhận ra, các từ mang tính thể loại, kiểu dạng tác phẩm, được đặt ở cuối nhan đề bằng Hán văn. Những nhan đề này khi chuyển sang tiếng Việt, có thể giữ nguyên (như “Hoàng Lê nhất thống chí”, “Dương phụ hành”, “Tự tình khúc”,…), hoặc đưa lên trước (kiểu “Ngọc tỉnh liên phú” thành “Bài phú về hoa sen trong giếng ngọc”), có khi bỏ đi (8).
Trần Trọng Kim (1950), trong Đường thi (Nxb. Tân Việt, Sài Gòn), đã dịch nhan đề của 33 bài có “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”, là bài, (khúc) hát. Trong lúc, nhiều dịch giả (1988), trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nxb. Văn học, Hà Nội), đã giữ nguyên, không chuyển “hành” thành bài hát như ở Đường thi (cả bốn bài có “hành” ở tài liệu này, như “Sở kiến hành” được dịch là “Bài hành về những điều trông thấy”, tr. 356). Cũng bài “Sở kiến hành” ấy, sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX (Huỳnh Lý chủ biên (1987), Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 470) dịch là “Những điều trông thấy”, tức bỏ “hành”.
2.3. Không khó nhận ra, nếu trường hợp đầu (việc chú thể loại ở văn chương bác học), chỉ có phần gần gũi, thì ở trường hợp sau (một số tác phẩm văn học trung đại, ghi “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,… trong nhan đề), đã thực sự tương ứng với hiện tượng các bài vè có ghi thể loại này vào tên gọi.
Mỗi khi đã như vậy, tức vấn đề có gốc gác từ lịch sử, thì việc nhìn nhận ít nhiều cũng xuất phát từ đó. Nếu làm khác thì hoặc khiên cưỡng, ngụy biện, hoặc mắc lỗi với cha ông.
Cũng nói thêm, hiện tượng trước thì có tên thể loại, sau đó lại không, như một số tác phẩm có ghi “thi” (thơ) vào nhan đề (kiểu “Khải hành thi” (Bài thơ lên đường), “Vấn Hằng Nga thi” (Bài thơ hỏi chị Hằng), “Toạ nguyệt thuật hoài thi” (Bài thơ tỏ nỗi lòng lúc ngồi ngắm trăng),…, của Lê Thánh Tông (1442 - 1497), thế kỉ thứ XV, hay “Ngẫu thành thi” (Thơ ngẫu thành), “Cảm hứng thi” (Thơ cảm hứng),…, của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), thế kỷ thứ XVI,…), chừng vài thế kỷ trở lại đây, có hiếm hơn; hiện nay, trong thơ hiện đại, hầu như không tìm thấy. Ngay các tác giả vừa nêu, với vấn đề đặt ra, cũng chỉ có một ít (không phải bất kỳ một sáng tác thơ nào của hai nhà thơ đều vậy, như với Lê Thánh Tông, chỉ một số có ghi “thi” vào nhan đề, tập trung ở Chinh Tây kỉ hành - ba tác phẩm vừa ghi đều được trích ở đó).
3. Có thể nêu vài nhận xét để khép lại vấn đề như sau:
- Trường hợp một số tài liệu có hoặc không ghi “vè” vào tên gọi tác phẩm thuộc thể loại cùng tên: a) Các tỉnh, xứ thuộc Đàng Trong (từ Quảng Bình trở vào Nam) ghi “vè” vào đầu các nhan đề của bài vè cụ thể nhiều hơn các tỉnh, xứ thuộc Đàng Ngoài (từ Hà Tĩnh hướng ra Bắc); b) Khi ghi “vè” vào đầu các nhan đề của bài, thì có khả năng nó sẽ làm chủ ngữ cho cả tổ hợp, tức biến vai trò khái quát của thể loại thành một yếu tố cụ thể của tên gọi - như văn bản “Vè chạy giặc”, có thể hiểu: “Bài vè [về việc] chạy giặc”, tác phẩm “Vè khuyên chồng”, có thể hiểu: “Bài vè [về việc] khuyên chồng”,...; ở đây, chúng danh hóa các tổ hợp động ngữ (“chạy giặc”, “khuyên chồng”). Trường hợp dịch tác phẩm nước ngoài, các yếu tố thể loại (như thơ, kịch, tiểu thuyết,…) được nêu kèm nhan đề như một chú thích: do tách rời, nên các tên thể loại vừa kể, về lĩnh vực ngữ pháp, không thành một yếu tố của nhan đề, hòng biến vai trò thể loại thành một phần tử của tổ hợp tên gọi đặt ra.
- Nói rõ hơn, việc có hay không tên gọi thể loại, kiểu dạng văn bản trong nhan đề tùy thuộc vào vai trò, vị trí của thể loại ấy ở người sưu tập, người thưởng thức. Chẳng hạn, ở một xã hội chuộng thơ như nước ta, mà bài thơ nào cũng có từ “thi” (hay “thơ”) trong nhan đề, là không cần thiết; bởi người nghe/đọc chỉ cần sau vài dòng là biết ngay bài ấy là thơ (thậm chí, thơ của ai), thì cần gì phải ghi nữa. Nhưng cũng có một số thể loại, kiểu dạng mà nếu không ghi, e người đọc sẽ không biết thật; như một số trường hợp đã nêu, hoặc “chiếu”, “cáo”, “hịch”, “thuyết”(9),... của văn học trung đại Việt Nam.
- Việc nêu “vè” trong nhan đề của những tác phẩm thuộc thể loại cùng tên ở nước ta, cho thấy xuất phát điểm của vấn đề liên quan đến văn học trung đại Việt Nam. Ở đây, tên một số văn bản kiểu phú, chí, ca, ngâm, hành, từ, khúc, chiếu, cáo, hịch,… được ghi vào nhan đề sáng tác như vè. Người ta có thể dịch nó hay không; tương tự với việc, có thể gọi đó là “bài vè [về việc]…”, hay nếu thấy không cần thiết, thì cứ đi thẳng vào nội dung chính cũng được (theo lối đặt tên vè phổ biến ở các địa bàn thuộc Đàng Ngoài, đã ghi).
T.N
(SHSDB41/06-2021)
---------------------------
1. Tài liệu Văn hóa dân gian huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (Dương Huy Thiện (Chủ biên) (2012), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 60-72) chép 8 bài vè, trừ “Vè bán đồng”, 7 bài còn lại không ghi tên “vè” ở nhan đề; theo đó, tổng số bài có ghi “vè” trong nhan đề chiếm 12,5%.
2. Theo Văn học dân gian Thái Bình (Phạm Đức Duật (Chủ biên) (1981), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 288-384 - năm 2012, sách này được Nxb. Lao động in lại, có sửa chữa, bổ sung).
3. Tuy tài liệu Kho tàng vè xứ Nghệ, 9 tập (Ninh Viết Giao (1999, 2000), Nxb. Nghệ An), so với sáu đầu sách còn lại (được dẫn ở mục này) chỉ chiếm một phần bảy, nhưng nó có đến hơn 1.100 bài vè (hầu hết không ghi “vè” vào nhan đề như thế), nên số lượng văn bản của tài liệu này vượt trội, là điều cần chú ý.
4. Theo Văn học dân gian Quảng Bình (Trần Hùng (Chủ biên) (1996), Nxb. Văn hóa Thông tin, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Quảng Bình kết hợp xuât bản, tr. 212-275).
5. Theo Vè Thừa Thiên Huế (Tôn Thất Bình (Chủ biên) (2001), Hội Văn nghệ dân gian Thừa Thiên Huế xuất bản, Huế).
6. Theo Ca dao, dân ca, vè, câu đố huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa) (Trần Việt Kỉnh (Chủ biên) (2011), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 428-463).
7. Theo Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên (Chủ biên) (2012), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 695-836).
8. a/ Trường hợp “bỏ đi”, được trình bày tiếp theo. Do “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,... đặt sau các tên gọi tác phẩm Hán Việt, khi chuyển chúng sang thuần Việt thì từ tương ứng được đặt lên đầu nhan đề, là điều ai cũng biết, nên không cần thiết phải nêu; b/ Xem thêm: Triều Nguyên (2002), “Ý nghĩa của ca, ngâm, hành, từ, khúc trong nhan đề thơ cổ”, Tạp chí Hán Nôm, số 2 (51), tr. 36-40.
9. Như: “Thiên đô chiếu” (Chiếu [về việc] dời đô, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), 974 - 1028), “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi, 1380 - 1442), “Dụ chư tì tướng hịch văn” (thường gọi Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn, 1232 - 1300), “Thiên cư thuyết” (Bài thuyết về chuyện dời nhà, Cao Bá Quát, 1809 - 1854),...
Tải mã QRCode
VŨ NGỌC KHÁNH (Trích tham luận: “Thử bàn về minh triết”)
LTS: Thế giới đang xuất hiện trào lưu phục hưng minh triết sau một thời gian dài chối bỏ. Ở Việt cũng đã hình thành Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Minh Triết thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt . Tiếp theo cuộc Hội thảo lần thứ I tại Hà Nội “Minh triết - giá trị nhân loại đang phục hưng”, cuối tháng 11.2009 tại Huế, Trung tâm đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “Minh triết Việt trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt”.
Giấy dó là sản phẩm thủ công của cha ông ta để lại. Xưa kia làng Bưởi có nghề làm giấy dó nổi tiếng. Giấy dó được dùng vào việc ghi chép văn bản chữ Hán nôm, viết bút lông mực tàu...
Sự phát triển của thực tiễn và lý luận nghệ thuật- dù ở đâu, thời kỳ lịch sử nào cũng vậy- thường phụ thuộc vào 3 nhân tố quan trọng và phổ quát nhất: Sự phát triển của khoa học và công nghệ; Những chính sách chính trị (trong đó bao gồm cả những chính sách về văn hóa và nghệ thuật); Những nhà tư tưởng và nghệ sỹ lớn.
TRẦN HUYỀN SÂMClaude Lévi-Strauss là một trường hợp hiếm thấy và khó lặp lại trong lịch sử nhân loại. Lévi chính là một cú sốc đối với nền văn minh phương Tây. Lý thuyết của nhà cấu trúc học vĩ đại này là sự hạ bệ hùng hồn nhất đối với tư tưởng thống ngự và độc tôn của xã hội toàn trị châu Âu; và là sự biện minh sâu sắc cho một mô thức đa văn hóa của nhân loại.
LÊ THÀNH LÂNTrong 4 năm liền, Tào Mạt lần lượt cho ra đời ba vở chèo tạo nên một bộ ba chèo lịch sử với tiêu đề chung là Bài ca giữ nước, đều do Đoàn Nghệ thuật Tổng cục Hậu cần dàn dựng và đều được nhận những giải thưởng cao.
PHONG LÊĐó là: 1. Từ sự phân cách, chia đôi của hai thế giới - địch và ta, chuyển sang hội nhập, cộng sinh, có nghĩa là nhân rộng hơn các tiềm năng, cũng đồng thời phải biết cách ngăn ngừa, hoặc chung sống với các hiểm họa. 2. Từ cộng đồng chuyển sang cá nhân, cá nhân trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển, nhưng cá nhân cũng sẵn sàng nổi loạn cho các ước vọng thoát ra khỏi các chuẩn mực của cộng đồng. Và 3. Từ phong bế (ở các cấp độ khác nhau) đến sự mở rộng giao lưu, hội nhập với khu vực và quốc tế, với sự lưu tâm hoặc cảnh báo: trong đi tắt, đón đầu mà không được đứt gẫy với lịch sử.
ĐỖ HẢI NINH(Nhân đọc tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng. Nxb Phụ Nữ, H, 2009; tác phẩm nhận giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2009)
PHẠM QUANG TRUNGHiện nay, vấn đề đổi mới thi pháp đang được nhiều người cầm bút quan tâm. Xin ghi lại cuộc trao đổi mới đây giữa tôi (PQT) với một nhà văn (NV) về vấn đề bức thiết này.
(Theo bách khoa thần học New Catholie)THẨM GIÁ PHÊ BÌNH Việc thiết định giá trị phán đoán trong phê bình đã được kiểm thảo một cách nghiêm khắc trong thế kỷ XX. Chẳng hạn, người ta cho rằng phê bình đã vượt lên cả tầm vóc “viên đá thử vàng” trong việc thẩm giá hội họa để dẫn dắt thị hiếu thưởng thức hội họa của công chúng.
NGUYỄN ĐĂNG MẠNH(Kỷ niệm 70 năm ngày mất nhà văn Vũ Trọng Phụng 1939 - 2009)Trong lĩnh vực văn chương, tác phẩm không hay, không có giá trị nghệ thuật thì chỉ là con số không, chẳng có gì để nói, để bàn. Người viết ra nó, dù cuộc đời có ly kỳ thế nào, người ta cũng chẳng quan tâm.
ĐỖ LAI THÚYHòn đất cũng biết nói năng(Nhại ca dao)
HOÀNG CẦMĐang những ngày hè oi ả, mệt lử người thì anh ấy mời tôi viết Bạt cho tập thơ sắp muốn in ra. Ai đời viết bạt cho tác phẩm người khác lại phải dành trang giấy đầu tiên để viết về mình? Người ta sẽ bảo ông này kiêu kỳ hay hợm hĩnh chăng? Nhưng cái anh thi sỹ tác giả tập thơ thì lại bảo: Xin ông cứ viết cho, dẫu là bạt tử, bạt mạng, thậm chí có làm bạt vía ai cũng được - Chết, chết! Tôi có thể viết bạt mạng chứ sức mấy mà làm bạt vía ai được.
ĐẶNG ANH ĐÀOTrong tác phẩm nghệ thuật, phân biệt thật rạch ròi cái gì là ý thức, sáng suốt, tự giác với cái gì vô ý thức, tự phát, cảm tính không phải là điều đơn giản. Ngay cả những nhà văn lãng mạn như Huygô, nhiều lúc sử dụng nhân vật chính diện như những cái loa phát biểu lý tưởng của mình, thế mà đã có lúc Kessler bịt miệng lại không cho tán tụng nhân vật Côdet và mắng rằng: Huygô anh chả hiểu gì về tác phẩm ấy hết", đồng thời tuyên bố rằng ông còn thích Epônin gấp bội lần "Côdet, cô nàng điệu đàng đã tư sản hóa ấy".
ĐỖ ĐỨC HIỂU…Với tôi, Balzac là Tiểu thuyết, và Tiểu thuyết là Balzac, - tiểu thuyết Balzac là "tiểu thuyết tuyệt đối", tức là nó biểu hiện tất cả sức mạnh sáng tạo của ông, tất cả cái "lực" của ý thức và tâm linh, của khoa học và tôn giáo, từ cấu trúc truyện và thời - không gian (chronotope), đến cấu trúc nhân vật, tất cả phối âm, tương ứng với nhau thành một dàn nhạc hoàn chỉnh…
HỮU ĐẠTKhông phải ngẫu nhiên, Trần Đăng Khoa lại kết thúc bài viết về Phù Thăng một câu văn rất là trăn trở: "Bất giác... Tôi nắm chặt bàn tay gầy guộc của Phù Thăng, lòng mơ hồ rờn rợn. Chỉ sợ ở một xó xỉnh nào đó, sau lùm cây tối sầm kia, lại bất ngờ cất lên một tiếng gà gáy..." Ta thấy, sau cái vẻ tếu táo bên ngoài kia lắng xuống một cái gì. Đó là điểm gợi lên ở suy nghĩ người đọc.
HÀ QUANG MINHTôi không muốn chỉ bàn tới cuốn sách của ông Khoa mà thôi. Tôi chỉ coi đó là một cái cớ để bàn luận về nền văn học nước nhà hiện nay. Là một người yêu văn học, nhiều khi tôi muốn quên đi nhưng vô tình vấn đề nẩy sinh TỪ "CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI" đã trở thành giọt nước cuối cùng làm tràn ly và lôi tuột cái nỗi đau mà tôi muốn phớt lờ ấy. Phải, tôi thấy đau lắm chứ. Bởi lẽ ai có ngờ mảnh đất trong sáng mang tên văn học sao giờ đây lại ô nhiễm đến thế.
HOÀNG NGỌC HIẾN(góp phần định nghĩa minh triết) (tiếp Sông Hương số 248)
Việc giải quyết thành công mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính hiện đại đã hình thành ra các trường phái âm nhạc như: âm nhạc Nga, Pháp, Mỹ, Trung Hoa . . .
Phê bình thi pháp học đã mang đến sức sống mới cho phê bình văn học Việt Nam. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thi pháp học là phương pháp minh chứng cho thành quả thay đổi hệ hình nghiên cứu trong phê bình văn học.