Kẻ hành hương khốn khổ và sung sướng

10:08 27/03/2024

TẤN HOÀI        
     bút ký

Nhà văn Graham Grin có một quyển tiểu thuyết "MỘT NGƯỜI MỸ TRẦM LẶNG".

Ảnh: tư liệu

Và hôm nay, đi theo tôi - đúng hơn là cùng đi một người Mỹ thầm lặng. "Thầm lặng" chứ không phải trầm lặng như nhân vật của Graham Grin.

Hôm nay - tức là một ngày của năm 88. Thế là đúng mười ba năm sau hòa bình 1975 anh được trở lại. To, cao, khỏe là tiêu chuẩn lính Mỹ. Từ Đà Nẵng anh ra Bình Trị Thiên.

Anh phó ban điều hành Đà Nẵng giới thiệu:

Anh ta đi tìm bạn anh ta ở Quảng Trị.

- Bạn?

- Xác bạn ấy mà!

- Họ đã mang về hết rồi.

- Nơi cư trú của linh hồn bạn anh ta!

- Chậc! Hay đấy! Hóa ra linh hồn họ không về à?

- Cũng có thể!

Brow Ilt Russel thêm vào:

- Nước Mỹ là tổ quốc tôi, nhưng không phải thiên đường cho chúng tôi. Ở thiên đường không có chỗ cho những lương tâm trong sáng mà khốn khổ. Các bạn tôi chắc vẫn ở đây.

- Cảm ơn, một phát hiện mới lạ!

Sau chiến tranh Russel đi vào dân tộc học. Chưa thể gọi anh là "nhà", nhưng anh đang mê nó, nghiên cứu nó. Hình như sự định hướng ấy đã có từ thuở sắp là sinh viên. Anh vào quân đội Mỹ sang Việt Nam không theo mục đích của nó, mà theo những dự định riêng sắp sẵn. Ở Khe Sanh, lính Mỹ không được đi vào các làng bản trừ trong những cuộc hành quân của đơn vị. Chỉ có thể vào các nơi tập trung được gọi là trại định cư. Russel không thích thú gì khi biết trước kia họ sống tự do giữa thiên nhiên rừng núi. Họ trồng lúa trong những lỗ nhỏ thọc bằng gậy trên nương, trồng sắn lưng rẫy. Cuộc sống hòa quyện vào đất đai, cây cỏ dù rất nguyên thủy, lạc hậu. Họ săn bắt, kể cả hái lượm. Nhưng bây giờ Russel nhìn ngắm họ ở dưới những mái nhà lợp tôn công nghiệp, lấy nước trong những quả bầu bằng nhựa, và nhận gạo từ những miền khác chở đến không qua bàn tay họ gieo trồng. Russel gọi đó là những "chuồng thú người". Người lính Mỹ có thể cho họ kẹo như cho đàn khỉ nuôi. Anh không thể hiểu được đằng sau cuộc sống ấy, những người dân tộc thiểu số ấy nghĩ gì khác nữa.

Chiếc xe du lịch phóng đi, êm nhẹ. Russel yên lặng lướt tầm mắt ra ngoài. Người lái quặt vòng về phía cồn Tiên theo hướng dẫn.

Những thanh niên đi đường vẫy vẫy. Có cả phụ nữ. Họ reo lên vui vẻ "hello".

- Hello! Russel vui vẻ đáp lại. Anh quay sang tôi hỏi:

- Sao họ biết tôi là người Mỹ?

- Những du khách các nước không mấy ai đi đến những nơi người Mỹ chết trận.

Russel bỗng cúi mặt xuống. Chắc trong anh không nghĩ đến sự phân biệt chủng tộc mà nghĩ đến điều thiện ác. Đúng - dù đã lùi vào quá khứ, nhưng hình ảnh những kẻ làm điều ác như anh trước đây hẳn không song song tồn tại trong lòng nhân loại. Hẳn là một điều tủi hổ. Và cả anh nữa, cũng khác rồi!

Xe dừng. Chúng tôi xuống đi bộ. Đầu tiên tôi nói cho anh - khách du lịch của tôi:

- Ở đây, anh cần đi theo từng bước chân tôi, và tránh bước quá vào các lề cỏ bên đường.

Russel trợn tròn mắt ngạc nhiên, nói như đùa:

- Tôi là tù nhân của anh!

- Không! Nếu anh thích dùng chữ tù nhân, thì anh là tù nhân của bom mìn các anh rải còn sót lại. Chúng tôi đã phải hy sinh mấy nghìn người sau chiến tranh, khi phải tìm trong từng tấc đất những mầm chết người của các anh xưa. Vẫn còn nhiều, chưa hết đâu!

- Ôi, chiến tranh, sự tàn phá và khốc liệt. Hãy cho tôi dẫm lên đó, tôi xin làm chứng nhân mà! Lương tâm tôi còn khốn khổ đến tận bao giờ!

- Anh yên tâm, hãy đến với chúng tôi bằng lương tâm thanh thản, không có sự khốn khổ của mặc cảm của anh và linh hồn các bạn anh ở đây. Anh thấy chúng tôi đã san lấp hết các hố bom và cũng đã xóa gần hết dấu vết chiến tranh. Chúng tôi không muốn nhìn các anh là những kẻ hành hương khốn khổ.

- Hoàn toàn chân thật ở một đất nước nghèo và nhỏ như các anh.

Anh tiếp:

- Tôi biết - thời chúng tôi ở đây, cây cỏ cũng là Việt Cộng - Vi-xi ấy mà. Cho nên chúng tôi bắn, ném bom cài mìn khắp nơi. Trên đất Việt Cộng, chúng tôi phải tự vệ. Khi tôi về Mỹ rồi, tôi không còn thấy kẻ thù xung quanh, nhưng tôi bỗng thấy mình là kẻ thù của tất cả. Sự im lặng của các anh thành nỗi đau của tôi của bạn bè tôi, những người đã chết hay còn sống - những công dân hòa bình Mỹ. Tôi muốn đến thăm lại những con người hòa bình thật sự - các anh và - tử sĩ - bạn chúng tôi.

Đến một cái lô cốt đầy cỏ lấp, anh bỗng ngồi xuống. Anh rút từ trong xắc một thẻ hương, cắm vào giữa một đống sắt thép ngổn ngang.

- Bertrand, Smith, ôi những người khốn khổ, - những linh hồn trong sáng. Các bạn tôi, các bạn tôi!!!

Anh khóc thật sự. Chúng tôi đứng lặng yên xung quanh, như không muốn quấy thêm sự xáo động. Anh lau nước mắt và ngước lên:

- Tôi học cách cắm "hương" Việt Nam. Đấy là một sự gợi cảm tế nhị. Rồi như suy nghĩ điều gì, anh lấy một lá cờ Mỹ ở túi bên cạnh xắc, có cán nhỏ bằng cây bút chì, cắm xuống gần nắm hương đang cháy, tiếp:

- Đừng cho tôi là vi phạm lãnh thổ các ông nhé! (Bây giờ anh dùng đúng danh từ "ông"). Tôi xóa cấm vận với các ông, với tôi, và với các bạn tôi. Mặc kệ ông tổng thống Bush.

- Hoan nghênh "đại sứ" Russel. Chúng tôi như cũng muốn cùng anh xóa cái thầm lặng trầm mặc của mười mấy năm đè nặng lên lòng một người Mỹ, dù chúng tôi đều hiểu những điều luật về ngoại giao cũng như quy chế du lịch.

Trở lại đường Chín, chúng tôi ngược lên Khe Sanh như một người trút được gánh nặng, bây giờ anh có vẻ nhẹ nhàng hơn. Anh xin được về Tà Cơn. Đến đây, tôi mới càng hiểu thêm người lính Mỹ này. Anh ra khỏi quân đội Mỹ với cấp bậc trung úy và với bốn lần bị thương ở dọc đường lên Khe Sanh.

- Tôi không thể tự trả lời được. Russel tâm sự. Không biết tôi đã giết bao nhiêu các anh, hay không giết người nào - tôi mong như thế - vì tôi phải bắn vào bóng tối, vào lặng im, vào cái bóng tối sợ sệt và ảm đạm vây bọc lấy tôi. Tôi không hề thấy xác "Việt Cộng", nhưng tôi thấy nhiều xác bạn bè tôi, những Bertrand, những Smith...

Không khí Khe Sanh oi nồng. Như muốn mưa, như không muốn mưa. Đất ba-dan đỏ quạch phả bụi đỏ. Xe hai chiều mờ những hàng số. Xe xuôi đường êm ả hơn. Xe ngược, trừ những chiếc xe du lịch loại sang, tất cả đều ậm ạch, phì phò cố leo dốc. Chợ kín người, kín hàng, ngồi đứng lô nhô, ra vào đủ màu sắc: miền núi, đồng bằng, mới cũ.

- Khó hình dung nổi Khe Sanh ngày trước - lời Russel.

Chúng tôi vào một quán ở chợ. Hóa ra người chủ quán cũng nói được cả tiếng Anh. Anh nói như để chúng tôi hiểu hơn:

- Tôi từng làm thông dịch viên mà. Lên đây làm ăn sinh sống. Tiếc là bây giờ ít gặp người để dùng lại cho thạo thứ ngoại ngữ mình biết.

- Không sao, không sao! Russel kêu lên:

Xe lại xuôi dốc. Những vườn cà phê hai bên đường chìa cành đầy quả đỏ chín. Gió Lào như đẩy thêm tốc độ. Những người Vân Kiều thồ nặng hàng rẽ những lối vào bàn.

Phải những người Vân Kiều kìa! Anh đã từng quen với một đôi vợ chồng người "Mỹ Vân kiều". Họ đã Vân Kiều hóa thực sự. Chỉ có màu da chưa đủ để nhầm lẫn họ. Họ hút tẩu bằng đất thuốc lá địa phương mà Russel chỉ mới ngửi thôi đã ho sặc sụa và lộn mửa. Khét như mùi giẻ cháy, ông chồng cũng đóng khố và người vợ mặc "váy thổ dân" - như bà ta bảo. Họ thờ "đạo giàng" - đạo thờ trời! Những người Vân Kiều có thể đến cầu nguyện trước bàn thờ Giàng và cầu xin những gì họ cần. Vợ chồng người Mỹ đứng đó, chứng kiến và nghe những câu khấn to, rõ ràng. Lát sau, sẽ có những người khác mang đến cho họ những thứ đã cầu khẩn, hào gạo, thịt, quần áo, kể cả xa xỉ phẩm nước hoa, xà phòng...

- Đấy, Giàng nghe biết hết mà! Giàng nó thương người Vân Kiều lắm!

Russel hiểu Giàng của đôi vợ chồng người "Mỹ Vân Kiều" là chiếc máy ghi âm và dây dẫn mà những người của rừng núi nguyên sơ này khó có thể biết đến.

Nhưng chính cái điều mà Russel thú vị là đã có một người đàn ông Vân Kiều nào đó đến tại đây, ra lệnh cho người phụ nữ Mỹ phải bỏ cái "đạo Giàng" của bà ta ở trên đất này đi. Trong lúc người chồng vắng mặt, người đàn ông kia không hề có một hành động thô bạo, đã cho súng vào bao và chỉ nói:

- Tôi có thể giết bà, nhưng tôi không làm điều ấy với phụ nữ, kể cả những việc khác đối với bà. "Tôi muốn ông bà không dùng cái "đạo Giàng" của mình để lừa dối bà con chúng tôi.

Đúng là một con người lịch sự.

Russel kể lại hồi ức của mình và quay sang hỏi:

- Các anh có biết người đàn ông Vân Kiều ấy là ai không? Hẳn là một "Vi-xi"?

Tôi nói cho anh:

- Đúng, đấy là Hồ Ai, một chiến sĩ Vi-xi, một người Vân Kiều đích thực, anh ấy từng sống với chúng tôi.

- Tôi cảm phục anh ta. Russel ngập ngừng rồi tiếp - trong khi các bạn tôi... có người...

Anh bỏ lửng câu nói.

Chúng tôi cùng hiểu phần anh không nói thêm. Và bỗng hiện lên trước mắt tôi những trang phóng sự ảnh của báo Life về vụ Sơn Mỹ từ những năm xa. Hẳn là của cả Russel.

Buổi trưa, chúng tôi nghỉ lại dưới móng cầu Đa Krông. Tất cả ào xuống tắm. Russel lôi ở túi ra một mẩu đá nhỏ, đưa xuống nước rửa sạch. Anh giơ cao hòn đá lên:

- Tà Cơn, Tà Cơn. Rồi anh lại bỏ vào túi áo ngực.

Xong anh lại lấy một cây gậy, không, một chiếc cần câu. Anh rút từng đoạn ra thành một cần câu bằng chất thép công nghiệp như một cần ăng-ten radiô nối dây câu vào, và mắc vào lưỡi một con cá chép lớn nhựa hồng nom như cá thật. Anh kéo rê con cá lên dòng nước Đa Krông. Con cá nhảy lên theo lớp sóng cao thấp do những tảng đá tạo ra. Chúng tôi ngồi tắm và ngắm nhìn anh chàng bé con Russel say sưa trò chơi câu cá không cần cá. Màu hồng con cá nhựa ánh lên trong những gợn nước có lúc như một bó hoa rừng.

Tôi nói với anh bạn Đà Nẵng:

- Một Hemingway tưởng tượng!

Chắc chẳng cần nói gì thêm về anh bạn Russel - "một người Mỹ thầm lặng" này nữa.

T.H
(TCSH57/09&10-1993)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • HOÀNG PHƯỚC   

    Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám đã thành công rực rỡ, tiếp đó, ngày 24 tháng 2 năm 1946, cử tri toàn tỉnh Thừa Thiên phấn khởi nô nức đi bầu Hội đồng Nhân dân tỉnh và Hội đồng Nhân dân thành phố Huế. Đây là ngày hội lớn chưa từng có trong lịch sử của toàn thể Nhân dân Việt Nam sau ngày đất nước được độc lập.

  • TRẦN NGUYÊN HÀO  

    Năm 1946, lần đầu tiên toàn thể người dân Việt Nam được hưởng và thực thi quyền làm chủ, tự do lựa chọn bầu ra những người đại diện xứng đáng gánh vác công việc chung của đất nước; cùng với đó là những tư tưởng về dân chủ, pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại bài học giá trị cho mai sau.

  • NGUYỄN ĐÌNH CHI
                        Hồi ký

    KỶ NIỆM 102 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 19-5-1890 _ 19-5-1992.

  • THÁI VŨ

    Nguyễn Phúc Đảm (sau này là vua Minh Mạng), sinh năm 1791 tại Gia Định, là con trai thứ 4 của Vua Gia Long, Nguyễn Phúc Ánh, nối ngôi vua năm 1820 lúc 30 tuổi.

     

  • TỪ HỒNG QUANG     

    Thông thường, khi vui người ta nghĩ đến những điều vui và kể lại cho bạn bè nghe. Nhưng ông cha ta có câu: “Không ai nắm chặt tay từ sáng đến tối”. Lại có câu: “Bảy mươi chưa hết què, chớ khoe mình lành”.

  • ĐÔNG HÀ   

    Tôi không biết từ đâu, tôi lại tha thiết yêu những câu hát đẹp như mơ được cất lên từ chị, có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt em đã nương theo vào đời làm từng nỗi ưu phiền

  • HÀ KHÁNH LINH

    Theo hẹn, tôi đến trước vài phút ngồi ở salon khách sạn Hương Giang - lơ đãng nhìn những người đi lại trong hành lang.

  • TRẦN NGỌC TRÁC

    Như duyên nợ, chúng tôi đã đồng hành cùng nhau qua series ký sự “Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du”(1).

  • PHẠM XUÂN PHỤNG

    Vào đúng 9 giờ đêm 26 tháng 3 năm 1975, chúng tôi vui sướng đến nghẹn ngào nhận tin vui Huế đã được giải phóng qua sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam phát thanh từ Hà Nội. Tiếp đến là mệnh lệnh tất cả sẵn sàng hành quân về Huế. Không ai không mong chờ niềm vui ấy, nhưng những người lính quê Thừa Thiên, trong đó có tôi đều vui mừng vì sắp được trở lại quê nhà!

  • PHI TÂN

    1.
    Buổi chiều trên đường đi làm về thấy một chị phụ nữ bày bán những con heo đất bên vỉa hè màu xanh, đỏ, vàng, cam nhìn thật vui mắt.

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Hồi ức làm ta muốn khóc...
                            (Vasiliev)

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Vua Minh Mạng có 78 hoàng tử, được giáo dưỡng đàng hoàng, hầu hết các hoàng tử có học hạnh, hoàng trưởng tử trở thành vua hiền Thiệu Trị, một số trở thành vương công nổi tiếng như Thọ Xuân vương, Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương…

  • NGUYỄN NHÃ TIÊN   

    Chưa bao giờ tôi được lội bộ đùa chơi với cỏ thỏa thích như bao lần khai hội Festival ở Huế. Đêm, giữa cái triều biển người nối đuôi nhau từ khắp các ngả đường hướng về khu Đại Nội, tôi và em mồ hôi nhễ nhại, hai đôi chân rã rời, đến nỗi em phải tháo giày cầm tay, bước đi xiêu lệch.

  • HÀ KHÁNH LINH   

    Bão chồng lên bão, lũ lụt nối tiếp lũ lụt. Miền Trung Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng chưa bao giờ phải hứng chịu thiên tai dồn dập khủng khiếp đến mức chỉ trong vòng trên dưới một tháng mà có đến sáu cơn bão mạnh với hai áp thấp nhiệt đới, đã cướp đi nhiều sinh mạng và xóa sạch tài sản của những con người suốt một đời chắt chiu dành dụm xây cất lên...

  • PHẠM XUÂN PHỤNG

    Một buổi chiều năm 1968, chúng tôi nhận lệnh tập trung tại một khu vườn thuộc làng (nay là phường) Kim Long.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌC

    Mười năm trước đây, một sự kiện văn hóa diễn ra tại Huế đã khiến nhiều người ngạc nhiên và tự hào: Huế từng có Nhà xuất bản Tinh Hoa xuất bản các ấn phẩm âm nhạc sớm nhất toàn cõi Đông Dương, sự kiện Gala Tinh Hoa - Sông Hương nhằm tôn vinh Nhà xuất bản Tinh Hoa. Sự kiện đó đã làm rung động nhiều trái tim yêu âm nhạc, nhất là những ai mê lịch sử Tân nhạc Việt Nam.

  • HÀ LÂM KỲ

           Hồi ký

  • NGUYỄN QUANG HÀ

    Tôi vốn là người lính. Sau Mậu Thân 1968, một số phóng viên báo Cờ Giải Phóng - Huế hy sinh, một số bị thương ra Bắc, tôi được thành đội trưởng Huế cử biệt phái sang làm phóng viên báo Cờ Giải Phóng, sau mấy năm thì trở thành phóng viên thật sự.

  • Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (18/9/1945 - 18/9/2020)

    DƯƠNG PHƯỚC THU