TẤN HOÀI
bút ký
Nhà văn Graham Grin có một quyển tiểu thuyết "MỘT NGƯỜI MỸ TRẦM LẶNG".
Ảnh: tư liệu
Và hôm nay, đi theo tôi - đúng hơn là cùng đi một người Mỹ thầm lặng. "Thầm lặng" chứ không phải trầm lặng như nhân vật của Graham Grin.
Hôm nay - tức là một ngày của năm 88. Thế là đúng mười ba năm sau hòa bình 1975 anh được trở lại. To, cao, khỏe là tiêu chuẩn lính Mỹ. Từ Đà Nẵng anh ra Bình Trị Thiên.
Anh phó ban điều hành Đà Nẵng giới thiệu:
Anh ta đi tìm bạn anh ta ở Quảng Trị.
- Bạn?
- Xác bạn ấy mà!
- Họ đã mang về hết rồi.
- Nơi cư trú của linh hồn bạn anh ta!
- Chậc! Hay đấy! Hóa ra linh hồn họ không về à?
- Cũng có thể!
Brow Ilt Russel thêm vào:
- Nước Mỹ là tổ quốc tôi, nhưng không phải thiên đường cho chúng tôi. Ở thiên đường không có chỗ cho những lương tâm trong sáng mà khốn khổ. Các bạn tôi chắc vẫn ở đây.
- Cảm ơn, một phát hiện mới lạ!
Sau chiến tranh Russel đi vào dân tộc học. Chưa thể gọi anh là "nhà", nhưng anh đang mê nó, nghiên cứu nó. Hình như sự định hướng ấy đã có từ thuở sắp là sinh viên. Anh vào quân đội Mỹ sang Việt Nam không theo mục đích của nó, mà theo những dự định riêng sắp sẵn. Ở Khe Sanh, lính Mỹ không được đi vào các làng bản trừ trong những cuộc hành quân của đơn vị. Chỉ có thể vào các nơi tập trung được gọi là trại định cư. Russel không thích thú gì khi biết trước kia họ sống tự do giữa thiên nhiên rừng núi. Họ trồng lúa trong những lỗ nhỏ thọc bằng gậy trên nương, trồng sắn lưng rẫy. Cuộc sống hòa quyện vào đất đai, cây cỏ dù rất nguyên thủy, lạc hậu. Họ săn bắt, kể cả hái lượm. Nhưng bây giờ Russel nhìn ngắm họ ở dưới những mái nhà lợp tôn công nghiệp, lấy nước trong những quả bầu bằng nhựa, và nhận gạo từ những miền khác chở đến không qua bàn tay họ gieo trồng. Russel gọi đó là những "chuồng thú người". Người lính Mỹ có thể cho họ kẹo như cho đàn khỉ nuôi. Anh không thể hiểu được đằng sau cuộc sống ấy, những người dân tộc thiểu số ấy nghĩ gì khác nữa.
Chiếc xe du lịch phóng đi, êm nhẹ. Russel yên lặng lướt tầm mắt ra ngoài. Người lái quặt vòng về phía cồn Tiên theo hướng dẫn.
Những thanh niên đi đường vẫy vẫy. Có cả phụ nữ. Họ reo lên vui vẻ "hello".
- Hello! Russel vui vẻ đáp lại. Anh quay sang tôi hỏi:
- Sao họ biết tôi là người Mỹ?
- Những du khách các nước không mấy ai đi đến những nơi người Mỹ chết trận.
Russel bỗng cúi mặt xuống. Chắc trong anh không nghĩ đến sự phân biệt chủng tộc mà nghĩ đến điều thiện ác. Đúng - dù đã lùi vào quá khứ, nhưng hình ảnh những kẻ làm điều ác như anh trước đây hẳn không song song tồn tại trong lòng nhân loại. Hẳn là một điều tủi hổ. Và cả anh nữa, cũng khác rồi!
Xe dừng. Chúng tôi xuống đi bộ. Đầu tiên tôi nói cho anh - khách du lịch của tôi:
- Ở đây, anh cần đi theo từng bước chân tôi, và tránh bước quá vào các lề cỏ bên đường.
Russel trợn tròn mắt ngạc nhiên, nói như đùa:
- Tôi là tù nhân của anh!
- Không! Nếu anh thích dùng chữ tù nhân, thì anh là tù nhân của bom mìn các anh rải còn sót lại. Chúng tôi đã phải hy sinh mấy nghìn người sau chiến tranh, khi phải tìm trong từng tấc đất những mầm chết người của các anh xưa. Vẫn còn nhiều, chưa hết đâu!
- Ôi, chiến tranh, sự tàn phá và khốc liệt. Hãy cho tôi dẫm lên đó, tôi xin làm chứng nhân mà! Lương tâm tôi còn khốn khổ đến tận bao giờ!
- Anh yên tâm, hãy đến với chúng tôi bằng lương tâm thanh thản, không có sự khốn khổ của mặc cảm của anh và linh hồn các bạn anh ở đây. Anh thấy chúng tôi đã san lấp hết các hố bom và cũng đã xóa gần hết dấu vết chiến tranh. Chúng tôi không muốn nhìn các anh là những kẻ hành hương khốn khổ.
- Hoàn toàn chân thật ở một đất nước nghèo và nhỏ như các anh.
Anh tiếp:
- Tôi biết - thời chúng tôi ở đây, cây cỏ cũng là Việt Cộng - Vi-xi ấy mà. Cho nên chúng tôi bắn, ném bom cài mìn khắp nơi. Trên đất Việt Cộng, chúng tôi phải tự vệ. Khi tôi về Mỹ rồi, tôi không còn thấy kẻ thù xung quanh, nhưng tôi bỗng thấy mình là kẻ thù của tất cả. Sự im lặng của các anh thành nỗi đau của tôi của bạn bè tôi, những người đã chết hay còn sống - những công dân hòa bình Mỹ. Tôi muốn đến thăm lại những con người hòa bình thật sự - các anh và - tử sĩ - bạn chúng tôi.
Đến một cái lô cốt đầy cỏ lấp, anh bỗng ngồi xuống. Anh rút từ trong xắc một thẻ hương, cắm vào giữa một đống sắt thép ngổn ngang.
- Bertrand, Smith, ôi những người khốn khổ, - những linh hồn trong sáng. Các bạn tôi, các bạn tôi!!!
Anh khóc thật sự. Chúng tôi đứng lặng yên xung quanh, như không muốn quấy thêm sự xáo động. Anh lau nước mắt và ngước lên:
- Tôi học cách cắm "hương" Việt Nam. Đấy là một sự gợi cảm tế nhị. Rồi như suy nghĩ điều gì, anh lấy một lá cờ Mỹ ở túi bên cạnh xắc, có cán nhỏ bằng cây bút chì, cắm xuống gần nắm hương đang cháy, tiếp:
- Đừng cho tôi là vi phạm lãnh thổ các ông nhé! (Bây giờ anh dùng đúng danh từ "ông"). Tôi xóa cấm vận với các ông, với tôi, và với các bạn tôi. Mặc kệ ông tổng thống Bush.
- Hoan nghênh "đại sứ" Russel. Chúng tôi như cũng muốn cùng anh xóa cái thầm lặng trầm mặc của mười mấy năm đè nặng lên lòng một người Mỹ, dù chúng tôi đều hiểu những điều luật về ngoại giao cũng như quy chế du lịch.
Trở lại đường Chín, chúng tôi ngược lên Khe Sanh như một người trút được gánh nặng, bây giờ anh có vẻ nhẹ nhàng hơn. Anh xin được về Tà Cơn. Đến đây, tôi mới càng hiểu thêm người lính Mỹ này. Anh ra khỏi quân đội Mỹ với cấp bậc trung úy và với bốn lần bị thương ở dọc đường lên Khe Sanh.
- Tôi không thể tự trả lời được. Russel tâm sự. Không biết tôi đã giết bao nhiêu các anh, hay không giết người nào - tôi mong như thế - vì tôi phải bắn vào bóng tối, vào lặng im, vào cái bóng tối sợ sệt và ảm đạm vây bọc lấy tôi. Tôi không hề thấy xác "Việt Cộng", nhưng tôi thấy nhiều xác bạn bè tôi, những Bertrand, những Smith...
Không khí Khe Sanh oi nồng. Như muốn mưa, như không muốn mưa. Đất ba-dan đỏ quạch phả bụi đỏ. Xe hai chiều mờ những hàng số. Xe xuôi đường êm ả hơn. Xe ngược, trừ những chiếc xe du lịch loại sang, tất cả đều ậm ạch, phì phò cố leo dốc. Chợ kín người, kín hàng, ngồi đứng lô nhô, ra vào đủ màu sắc: miền núi, đồng bằng, mới cũ.
- Khó hình dung nổi Khe Sanh ngày trước - lời Russel.
Chúng tôi vào một quán ở chợ. Hóa ra người chủ quán cũng nói được cả tiếng Anh. Anh nói như để chúng tôi hiểu hơn:
- Tôi từng làm thông dịch viên mà. Lên đây làm ăn sinh sống. Tiếc là bây giờ ít gặp người để dùng lại cho thạo thứ ngoại ngữ mình biết.
- Không sao, không sao! Russel kêu lên:
Xe lại xuôi dốc. Những vườn cà phê hai bên đường chìa cành đầy quả đỏ chín. Gió Lào như đẩy thêm tốc độ. Những người Vân Kiều thồ nặng hàng rẽ những lối vào bàn.
Phải những người Vân Kiều kìa! Anh đã từng quen với một đôi vợ chồng người "Mỹ Vân kiều". Họ đã Vân Kiều hóa thực sự. Chỉ có màu da chưa đủ để nhầm lẫn họ. Họ hút tẩu bằng đất thuốc lá địa phương mà Russel chỉ mới ngửi thôi đã ho sặc sụa và lộn mửa. Khét như mùi giẻ cháy, ông chồng cũng đóng khố và người vợ mặc "váy thổ dân" - như bà ta bảo. Họ thờ "đạo giàng" - đạo thờ trời! Những người Vân Kiều có thể đến cầu nguyện trước bàn thờ Giàng và cầu xin những gì họ cần. Vợ chồng người Mỹ đứng đó, chứng kiến và nghe những câu khấn to, rõ ràng. Lát sau, sẽ có những người khác mang đến cho họ những thứ đã cầu khẩn, hào gạo, thịt, quần áo, kể cả xa xỉ phẩm nước hoa, xà phòng...
- Đấy, Giàng nghe biết hết mà! Giàng nó thương người Vân Kiều lắm!
Russel hiểu Giàng của đôi vợ chồng người "Mỹ Vân Kiều" là chiếc máy ghi âm và dây dẫn mà những người của rừng núi nguyên sơ này khó có thể biết đến.
Nhưng chính cái điều mà Russel thú vị là đã có một người đàn ông Vân Kiều nào đó đến tại đây, ra lệnh cho người phụ nữ Mỹ phải bỏ cái "đạo Giàng" của bà ta ở trên đất này đi. Trong lúc người chồng vắng mặt, người đàn ông kia không hề có một hành động thô bạo, đã cho súng vào bao và chỉ nói:
- Tôi có thể giết bà, nhưng tôi không làm điều ấy với phụ nữ, kể cả những việc khác đối với bà. "Tôi muốn ông bà không dùng cái "đạo Giàng" của mình để lừa dối bà con chúng tôi.
Đúng là một con người lịch sự.
Russel kể lại hồi ức của mình và quay sang hỏi:
- Các anh có biết người đàn ông Vân Kiều ấy là ai không? Hẳn là một "Vi-xi"?
Tôi nói cho anh:
- Đúng, đấy là Hồ Ai, một chiến sĩ Vi-xi, một người Vân Kiều đích thực, anh ấy từng sống với chúng tôi.
- Tôi cảm phục anh ta. Russel ngập ngừng rồi tiếp - trong khi các bạn tôi... có người...
Anh bỏ lửng câu nói.
Chúng tôi cùng hiểu phần anh không nói thêm. Và bỗng hiện lên trước mắt tôi những trang phóng sự ảnh của báo Life về vụ Sơn Mỹ từ những năm xa. Hẳn là của cả Russel.
Buổi trưa, chúng tôi nghỉ lại dưới móng cầu Đa Krông. Tất cả ào xuống tắm. Russel lôi ở túi ra một mẩu đá nhỏ, đưa xuống nước rửa sạch. Anh giơ cao hòn đá lên:
- Tà Cơn, Tà Cơn. Rồi anh lại bỏ vào túi áo ngực.
Xong anh lại lấy một cây gậy, không, một chiếc cần câu. Anh rút từng đoạn ra thành một cần câu bằng chất thép công nghiệp như một cần ăng-ten radiô nối dây câu vào, và mắc vào lưỡi một con cá chép lớn nhựa hồng nom như cá thật. Anh kéo rê con cá lên dòng nước Đa Krông. Con cá nhảy lên theo lớp sóng cao thấp do những tảng đá tạo ra. Chúng tôi ngồi tắm và ngắm nhìn anh chàng bé con Russel say sưa trò chơi câu cá không cần cá. Màu hồng con cá nhựa ánh lên trong những gợn nước có lúc như một bó hoa rừng.
Tôi nói với anh bạn Đà Nẵng:
- Một Hemingway tưởng tượng!
Chắc chẳng cần nói gì thêm về anh bạn Russel - "một người Mỹ thầm lặng" này nữa.
T.H
(TCSH57/09&10-1993)
Tải mã QRCode
HUY CẬN - XUÂN DIỆU
Trích "Hồi ký song đôi"
Tháng 8 năm 1928 cậu tôi được lệnh của Sở học chính Trung kỳ đổi về Huế làm hiệu trường trường tiểu học Queignec ở phố Đông Ba.
LÊ QUANG KẾT
Bông hồng dâng mẹ
Vua Tự Đức - ông vua tại vị gặp cơn biến động trong lịch sử dân tộc, sinh thời nhà vua đã tán dương công ơn mẹ: “Nuôi ta là mẹ, dạy ta cũng là mẹ: Mẹ là Thầy vậy. Sinh ra ta là mẹ, hiểu ta cũng là mẹ: Mẹ là Trời vậy”.
TRẦN HOÀN
Hồi ký
Năm 1941 thi vào trường Quốc Học, tôi đỗ vào loại khá nhưng chưa đủ mức để được cấp học bổng toàn phần.
BỬU Ý
Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.
LÊ QUANG KẾT
Ký
Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).
VŨ THU TRANG
Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.
HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
Đoản văn
Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!
LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ
BÙI KIM CHI
Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.
KIM THOA
Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
(Hàn Mạc Tử)
NGUYỄN VĂN UÔNG
Hôm nay có một người du khách
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên
(Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)
HOÀNG THỊ NHƯ HUY
Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.
LÊ QUANG KẾT
Tùy bút
Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.
TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.
LÊ QUANG KẾT
Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.
HUY PHƯƠNG
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên
(Tố Hữu)
PHAN THUẬN AN
Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.
MAI KIM NGỌC
Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.
HOÀNG HUẾ
…Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…