O.HENRY
Rất lâu trước khi bụng dạ lờ đờ của anh nhà quê cảm nhận được hơi xuân thì tay thị dân ấy đã biết rằng bà chúa xanh màu cỏ ấy đã lên ngôi.
Minh họa: Nhím
Ông ta ngồi với phần điểm tâm gồm trứng với bánh mì nướng, bị vây giữa những bức tường đá, mở tờ báo buổi sáng ra và xem bọn báo chí để lại vị xuân ở hòm thư.
Bởi vì, tuy những dấu hiệu báo tin xuân từng là bằng chứng cho sự hiện diện của những giác quan tinh nhạy của chúng ta, nhưng nay hãng tin AP đã làm chuyện đó ngon lành.
Tiếng líu lo của con chim cổ đỏ đầu tiên ở Hackensack, sự lay động của nhựa cây thích ở Bennington, việc đâm chồi của đám liễu tơ dọc phố Main ở Syracus, tiếng lích chích đầu tiên của con sơn ca, tiếng hót thiên nga của làng Blue Point, cơn bão xoáy hàng năm ở St. Louis, lời than vãn của kẻ sợ đào kém ngọt ở Pompton, New Jersey, chuyến viếng thăm đều đặn của con ngỗng trời thuần hóa với một chân bị què tới cái hồ gần giao lộ Bilgewater, âm mưu tồi tệ của hãng dược phẩm Drug Trust nhằm tăng giá thuốc ký ninh bị dân biểu Jinks chặn lại ở Hạ viện, cây dương cao đầu tiên bị sét đánh trúng và những người đi dã ngoại hoảng hồn như thường lệ tìm chỗ ẩn náu, tiếng rạn nứt đầu tiên của khối băng dồn trên sông Allegheny, việc phát hiện một bông hoa tím dại trên luống đất đầy rêu bởi một phóng viên ở Round Corners - đấy là những dấu hiệu báo trước của cái mùa đâm chồi nảy lộc được gửi tới cho thành phố thông thái này, trong khi anh nông dân chẳng thấy gì ngoài mùa đông trên những cách đồng thê lương của anh ta.
Nhưng chúng chỉ là những thứ bên ngoài. Kẻ báo hiệu mùa xuân đích thực chính là con tim. Khi con uyên tìm kiếm con ương của mình còn chim thư tìm chim cưu, thì chỉ có mùa xuân được gửi tới và bài tường thuật về vụ hạ sát con rắn chuông dài thước rưỡi ở bãi cỏ của Squire Pettigrew được khẳng định.
Trước khi đóa hoa tím dại đầu tiên nở ra, ông Peters, ông Ragsdale và ông Kidd ngồi với nhau trên một băng ghế trong Quảng trường Union và bàn bạc. Peters là chàng D’Artagnan của nhóm ăn không ngồi rồi ở đó. Ông ta là người bẩn thỉu nhất, lười biếng nhất, vết đốm nâu đáng tiếc nhất trên cái nền xanh của mọi băng ghế trong công viên. Nhưng ngay lúc đó ông ta là kẻ quan trọng nhất của bộ ba.
Ông Peters có một bà vợ. Điều này cho đến nay không hề ảnh hưởng tới vị trí của ông đối với Ragsy và Kidd. Nhưng hôm nay nó đem lại cho ông một thế mạnh đặc biệt. Các bạn ông, sau khi đã thoát khỏi đời sống hôn nhân, có xu hướng chế nhạo ông Peters vì cảnh gian nan của ông trong vùng biển động ấy. Nhưng sau cùng họ buộc lòng phải thừa nhận rằng hoặc ông có tài nhìn xa trông rộng thiên phú hoặc ông là một trong những đứa con may mắn của Thần Tài.
Bởi vì, bà Peters có một đô la. Tờ một đô la nguyên vẹn, còn tốt và được chính phủ chấp nhận để đóng thuế, nộp cho hải quan, và mọi nghĩa vụ công dân khác. Làm sao lấy được tờ một đô la đó hiện đang là vấn đề bàn bạc của ba chàng ngự lâm hom hem ấy.
“Sao ông biết đó là một đô la?” Ragsy hỏi, độ lớn lao của con số khiến ông ta hoài nghi.
“Gã giao than thấy bà ta có tờ đó,” ông Peters nói. “Hôm qua bà ấy ra ngoài làm mấy việc giặt giũ. Và coi thử bà ấy cho tôi cái gì để điểm tâm - một khúc cùi chỏ bánh mì với một cốc cà phê, còn bà ấy có một đô la!”
“Tàn bạo thật,” Ragsy nói.
“Nếu như tụi mình lên đó và đấm bả một trận rồi nhét khăn vào miệng và tịch thu đồng tiền đó,” Kidd gợi ý, một cách hiểm ác. “Mấy ông đâu có sợ một mụ đàn bà, phải không?”
“Có thể bà ấy gào lên để người ta tóm cổ bọn mình,” Ragsy e ngại phản đối. “Tôi không tin chuyện đục được một mụ đàn bà với cả đống người trong nhà.”
“Các ông này,” ông Peters nói, nghiêm trọng, qua mớ râu ria đỏ cạch, “hãy nhớ rằng các ông đang nói về vợ tôi. Đàn ông là không thể vung tay lên với vợ trừ khi theo kiểu...”
“Maguire,” Ragsy nói, với vẻ châm chích, “mới bày bảng hiệu bia Đức ra. Nếu có một đô la mình có thể...”
“Nín đi!” ông Peters nói, liếm môi. “Chúng ta bằng cách nào đó sẽ lấy được đồng tiền đang nói đó, các cậu ạ. Bộ bà vợ của một người thì không thuộc về ông ta sao? Để tôi lo vụ đó. Tôi sẽ về nhà và lấy nó. Cứ ở đây đợi tôi.”
“Tôi thấy mấy bà chịu thua lẹ lắm, và khai ngay nó giấu ở đâu nếu ông cứ đá vào sườn,” Kidd nói.
“Ai mà đi đá phụ nữ,” Peters nói, vẻ cao đạo. “Bóp cổ chút đỉnh - chỉ chạm vào khí quản thôi - là xong xuôi với họ ngay - mà không để lại dấu vết. Đợi tôi nghe. Tôi sẽ mang đồng đô la đó về, các cậu ạ.”
Cao phía trên một tòa nhà căn hộ cho thuê giữa Đường số 2 và bờ sông là chỗ ở của nhà Peters, trong một căn phòng phía sau u ám đến độ chủ nhà mắc cỡ khi nhận tiền thuê nó. Bà Peters làm việc vào nhiều lúc khác nhau, với những việc cọ rửa và giặt giũ lặt vặt. Ông Peters có một kỷ lục nguyên vẹn, chưa từng bị phá là năm năm liền không kiếm được một xu. Thế nhưng họ vẫn sống bấu vào nhau, chia sẻ sự thù ghét và khốn khổ của mỗi người, sống đời tạo vật của thói quen. Của thói quen, cái ma lực giữ cho trái đất khỏi bay tung ra từng mảnh; tuy rằng có thứ lý thuyết ngu ngốc nào đó về trọng lực.
Bà Peters đặt tấm thân gần một tạ trên cõi an toàn của hai cái ghế và nhìn lơ mơ qua cửa sổ tới bức tường gạch đối diện. Đôi mắt bà đỏ và ươn ướt. Mớ đồ đạc lẽ ra đã được chở đi bằng xe đẩy, nhưng chắc chẳng phu xe đẩy nào dọn nó đi như một thứ quà tặng.
Cửa mở ra cho ông Peters vào. Đôi mắt như mắt chó sục cáo lộ ra một ước muốn. Khả năng chẩn đoán của bà vợ xác định đúng ngay nguồn gốc của nó, nhưng lại hiểu lầm đó là cơn đói thay vì cơn khát.
“Từ giờ tới tối, ông chẳng mong kiếm thêm được cái gì để ăn đâu,” bà nói, lại nhìn ra cửa sổ. “Mang cái mặt chó săn của ông ra khỏi phòng đi.”
Tia mắt của ông Peters đo lường khoảng cách giữa hai người. Bằng cách bất ngờ tấn công thì có thể nhảy đè lên bà, vật ngã bà, và áp dụng chiến thuật siết cổ mà ông đã khoác lác với đám chiến hữu đang chờ kia. Thực ra, đó chỉ là một lời khoác lác; ông chưa bao giờ dám chạm đôi tay bạo lực vào người bà; nhưng với những ý nghĩ về thứ bia đen hay bia Culmbacher mát mẻ, ngon lành gia cố cho tinh thần, ông ta tiến gần đến chỗ lật đổ các lý thuyết của mình về cách cư xử đúng điệu của một quý ông đối với một quý bà. Nhưng, với tình yêu của kẻ lười nhác trong ông dành cho cách thức nghệ thuật hơn và ít cực nhọc hơn, ông chọn con đường ngoại giao trước, nước cờ cao trong cuộc chơi - thái độ của sự thành công coi như đã đạt được.
“Bà có một đô,” ông nói, vẻ cao đạo, nhưng đầy ý nghĩa trong cái giọng đi kèm với việc mồi một điếu xì gà - khi tài sản nằm ngay tầm tay.
“Tui có,” bà Peters nói, chìa tờ giấy bạc từ trong ngực ra và vung vẩy nó tanh tách, trêu ngươi.
“Tôi được đề nghị một chỗ làm... trong một tiệm trà,” ông Peters nói. “Mai tôi bắt đầu đi làm. Nhưng như thế tôi cần mua một vài...”
“Ông nói xạo,” bà Peters nói, giấu vội tờ giấy bạc trở vào trong ngực. “Không tiệm trà nào, chẳng tiệm A B C nào, chẳng cửa hàng đồng nát nào mướn ông cả. Tui tróc hết da hai bàn tay vì giặt giũ những áo khoác với quần yếm để kiếm được đô la này. Bộ ông tưởng nó hiện ra từ mớ bọt bia để mua cái món ông cho vào người hả? Dẹp đi! Đừng có nghĩ tới tiền bạc nữa”.
Rõ ràng những tư thế của nhà ngoại giao cỡ Talleyrand cũng chẳng đáng giá một trăm xu trên đồng đô la đó. Nhưng ngoại giao là phải khéo léo. Khí chất nghệ sĩ của ông Peters nắm những dây đai thắt đôi ghệt rồi nhấc ông lên đặt vào một tư thế mới. Ông bày ra một ánh u sầu tuyệt vọng trong đôi mắt.
“Clara,” ông nói, một cách trống rỗng, “phấn đấu mấy cũng là vô ích. Bà luôn hiểu lầm tôi. Có Chúa biết cho rằng tôi đã cố gắng hết sức mình để vươn cao đầu trên những đợt sóng rủi ro, nhưng...”
“Dẹp cái cầu vồng hy vọng đó với cái trò mơ tưởng bước qua từng hòn đảo nhỏ hẹp của Tây Ban Nha đi,” bà Peters nói, thở dài đánh sượt. “Tui nghe chuyện đó hoài à. Có chai thuốc sát trùng một xị trên kệ đàng sau lon cà phê rỗng đó. Cứ uống thoải mái đi”.
Ông Peters ngẫm nghĩ. Làm gì tiếp đây trời! Những mưu chước cũ đã thất bại. Hai lão ngự lâm hom hem đang mỏi mòn trông đợi ông bên tòa lâu đài đổ nát - ý là muốn nói, trên băng ghế công viên với những chân ghế bằng gang ọp ẹp. Danh dự của ông lâm nguy. Ông đã cam kết đơn thân độc mã đột kích vào lâu đài và đem về mớ kho báu vốn có thể cung cấp cho họ cuộc chè chén và khuây khỏa. Và đứng chặn giữa ông với đồng đô la đáng thèm muốn kia là vợ ông, từng là một thiếu nữ nhỏ bé mà ông có thể... aha! tại sao không làm lại được lần nữa? Từng có thời bằng những lời lẽ dịu dàng ông đã có thể, như người ta vẫn nói, quay bà ấy như quay dế. Tại sao không làm lại được lần nữa? Ông đã không thử làm vậy bao năm rồi. Cảnh nghèo khổ ác nghiệt và lòng thù ghét lẫn nhau đã giết chết toàn bộ chuyện đó. Nhưng Ragsy với Kidd đang đợi ông mang đồng đô la đó về kia!
Ông Peters lén nhìn bà một cái sắc lẻm. Khối thân thể xồ xề của bà chảy tràn khỏi ghế. Bà cứ nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ với một vẻ mất hồn kỳ lạ. Đôi mắt bà cho thấy mới đây bà đã khóc.
“Mình không biết,” ông Peters tự nhủ, “liệu có cái gì trong đó.”
Cửa sổ mở ra bức tường gạch và những khoảng sân sau xám xịt, trơ trọi. Ngoại trừ vẻ dịu dàng của không gian len vào thì trong thành phố trời vẫn như giữa mùa đông đang cau có nhìn mùa xuân vây quanh. Nhưng mùa xuân không đến với tiếng đại bác ầm vang. Nó là lính công binh và giật mìn, và bạn phải chịu thua nó thôi.
“Mình sẽ cố thử,” ông Peters tự nhủ, với bộ mặt dở khóc dở cười.
Ông bước tới chỗ bà vợ và đặt tay lên vai bà.
“Clara em yêu,” ông nói bằng cái giọng mà chắc không lừa nổi một con hải cẩu mới đẻ, “sao mình cứ nói những lời khó nghe với nhau? Bà không phải mèo cưng của tôi sao?”
Một điểm xấu cho ông, Peters ạ, trong cuốn sổ thiêng liêng của thần tình yêu Cupid. Những cáo buộc cho ông về tội âm mưu mua chuộc đã được ghi nhận, về tội làm giả và thốt ra hai từ danh xưng thần thánh nhất của Tình Yêu.
Nhưng phép lạ của mùa xuân đã được thực hiện. Dấu hiệu mùa xuân đã bò vào căn phòng phía sau bên trên con hẻm thoát hiểm giữa hai bức tường đen. Thật là buồn cười, nhưng tuy vậy... Phải, đó là một cái bẫy chuột, và bạn, quý bà và quý ông và tất cả chúng ta, đều nằm trong đó.
Đỏ lự và mập và khóc lóc như suối Niobe hay thác Niagara, bà Peters vòng hai tay ôm lấy ông chồng và tan ra trên ông ấy. Ông Peters hẳn có thể rút được đồng đô la khỏi chỗ hầm chôn giấu nó, nhưng hai tay ông bị kẹt cứng vào thân mình.
“Ông thương tui không, James?” bà Peters hỏi.
“Như điên,” ông Peters đáp, “nhưng...”
“Ông bệnh rồi!” bà Peters kêu lên. “Sao ông coi xanh xao mệt mỏi vậy?”
“Tôi thấy mệt lử,” ông Peters nói. “Tôi...”
“Ôi, chờ đã; tui biết đó là gì rồi. Chờ đó, James. Chút xíu tui quay về liền.”
Với một cú ôm siết chia tay vốn khiến ông Peters nhớ lại tay đô vật có biệt danh Tên Thổ Khủng Khiếp, bà vợ ông tất tả rời phòng và lao xuống cầu thang.
Ông Peters móc hai ngón tay vào dây đeo quần.
“Được rồi,” ông thổ lộ với trần nhà. “Mình đã khiến bà ta chạy đi. Mình không hề nghĩ con mụ này dưới cái vẻ ngốc nghếch đó mà còn dễ mềm lòng như vậy. Được thôi, thưa ngài; tôi không đáng mặt thám tử Claude Melnotte của khu hạ East Side này sao? Cái gì? Cá một trăm ăn một là tôi lấy được đồng đô la đó. Tôi không biết bà ấy đi lấy cái gì. Tôi đoán bà ta đi kể với bà Muldoon ở tầng hai, rằng tụi tôi đã làm lành. Tôi sẽ nhớ vụ này. Thứ mềm như bún! Cha Ragsy lại còn nói chuyện phải đục bà ấy nữa chứ!”
Bà Peters trở về với một chai thuốc bổ thổ phục linh.
“Tui mừng vì nhằm lúc tôi có được đồng đô la đó,” bà ấy nói. “Ông coi suy quá rồi, cưng.”
Ông Peters bị tọng cho một thìa to tướng thứ thuốc đó. Rồi bà Peters ngồi ngay vào lòng ông và rù rì:
“Gọi tui là mèo cưng như hồi xưa lần nữa đi, James.”
Ông ngồi im re, bị nữ thần mùa xuân bằng xương bằng thịt giữ cứng tại chỗ.
Mùa xuân đã đến.
Trên băng ghế trong Quảng trường Union, ông Ragsdale với ông Kidd ngồi vặn vẹo, khát khô bong lưỡi, chờ đợi chàng D’Artagnan với đồng đô la.
“Phải chi mình bóp cổ bà ấy ngay từ đầu,” ông Peters tự nhủ.
Phạm Viêm Phương dịch
(SH295/09-13)
Tải mã QRCode
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.