O.HENRY
Rất lâu trước khi bụng dạ lờ đờ của anh nhà quê cảm nhận được hơi xuân thì tay thị dân ấy đã biết rằng bà chúa xanh màu cỏ ấy đã lên ngôi.
Minh họa: Nhím
Ông ta ngồi với phần điểm tâm gồm trứng với bánh mì nướng, bị vây giữa những bức tường đá, mở tờ báo buổi sáng ra và xem bọn báo chí để lại vị xuân ở hòm thư.
Bởi vì, tuy những dấu hiệu báo tin xuân từng là bằng chứng cho sự hiện diện của những giác quan tinh nhạy của chúng ta, nhưng nay hãng tin AP đã làm chuyện đó ngon lành.
Tiếng líu lo của con chim cổ đỏ đầu tiên ở Hackensack, sự lay động của nhựa cây thích ở Bennington, việc đâm chồi của đám liễu tơ dọc phố Main ở Syracus, tiếng lích chích đầu tiên của con sơn ca, tiếng hót thiên nga của làng Blue Point, cơn bão xoáy hàng năm ở St. Louis, lời than vãn của kẻ sợ đào kém ngọt ở Pompton, New Jersey, chuyến viếng thăm đều đặn của con ngỗng trời thuần hóa với một chân bị què tới cái hồ gần giao lộ Bilgewater, âm mưu tồi tệ của hãng dược phẩm Drug Trust nhằm tăng giá thuốc ký ninh bị dân biểu Jinks chặn lại ở Hạ viện, cây dương cao đầu tiên bị sét đánh trúng và những người đi dã ngoại hoảng hồn như thường lệ tìm chỗ ẩn náu, tiếng rạn nứt đầu tiên của khối băng dồn trên sông Allegheny, việc phát hiện một bông hoa tím dại trên luống đất đầy rêu bởi một phóng viên ở Round Corners - đấy là những dấu hiệu báo trước của cái mùa đâm chồi nảy lộc được gửi tới cho thành phố thông thái này, trong khi anh nông dân chẳng thấy gì ngoài mùa đông trên những cách đồng thê lương của anh ta.
Nhưng chúng chỉ là những thứ bên ngoài. Kẻ báo hiệu mùa xuân đích thực chính là con tim. Khi con uyên tìm kiếm con ương của mình còn chim thư tìm chim cưu, thì chỉ có mùa xuân được gửi tới và bài tường thuật về vụ hạ sát con rắn chuông dài thước rưỡi ở bãi cỏ của Squire Pettigrew được khẳng định.
Trước khi đóa hoa tím dại đầu tiên nở ra, ông Peters, ông Ragsdale và ông Kidd ngồi với nhau trên một băng ghế trong Quảng trường Union và bàn bạc. Peters là chàng D’Artagnan của nhóm ăn không ngồi rồi ở đó. Ông ta là người bẩn thỉu nhất, lười biếng nhất, vết đốm nâu đáng tiếc nhất trên cái nền xanh của mọi băng ghế trong công viên. Nhưng ngay lúc đó ông ta là kẻ quan trọng nhất của bộ ba.
Ông Peters có một bà vợ. Điều này cho đến nay không hề ảnh hưởng tới vị trí của ông đối với Ragsy và Kidd. Nhưng hôm nay nó đem lại cho ông một thế mạnh đặc biệt. Các bạn ông, sau khi đã thoát khỏi đời sống hôn nhân, có xu hướng chế nhạo ông Peters vì cảnh gian nan của ông trong vùng biển động ấy. Nhưng sau cùng họ buộc lòng phải thừa nhận rằng hoặc ông có tài nhìn xa trông rộng thiên phú hoặc ông là một trong những đứa con may mắn của Thần Tài.
Bởi vì, bà Peters có một đô la. Tờ một đô la nguyên vẹn, còn tốt và được chính phủ chấp nhận để đóng thuế, nộp cho hải quan, và mọi nghĩa vụ công dân khác. Làm sao lấy được tờ một đô la đó hiện đang là vấn đề bàn bạc của ba chàng ngự lâm hom hem ấy.
“Sao ông biết đó là một đô la?” Ragsy hỏi, độ lớn lao của con số khiến ông ta hoài nghi.
“Gã giao than thấy bà ta có tờ đó,” ông Peters nói. “Hôm qua bà ấy ra ngoài làm mấy việc giặt giũ. Và coi thử bà ấy cho tôi cái gì để điểm tâm - một khúc cùi chỏ bánh mì với một cốc cà phê, còn bà ấy có một đô la!”
“Tàn bạo thật,” Ragsy nói.
“Nếu như tụi mình lên đó và đấm bả một trận rồi nhét khăn vào miệng và tịch thu đồng tiền đó,” Kidd gợi ý, một cách hiểm ác. “Mấy ông đâu có sợ một mụ đàn bà, phải không?”
“Có thể bà ấy gào lên để người ta tóm cổ bọn mình,” Ragsy e ngại phản đối. “Tôi không tin chuyện đục được một mụ đàn bà với cả đống người trong nhà.”
“Các ông này,” ông Peters nói, nghiêm trọng, qua mớ râu ria đỏ cạch, “hãy nhớ rằng các ông đang nói về vợ tôi. Đàn ông là không thể vung tay lên với vợ trừ khi theo kiểu...”
“Maguire,” Ragsy nói, với vẻ châm chích, “mới bày bảng hiệu bia Đức ra. Nếu có một đô la mình có thể...”
“Nín đi!” ông Peters nói, liếm môi. “Chúng ta bằng cách nào đó sẽ lấy được đồng tiền đang nói đó, các cậu ạ. Bộ bà vợ của một người thì không thuộc về ông ta sao? Để tôi lo vụ đó. Tôi sẽ về nhà và lấy nó. Cứ ở đây đợi tôi.”
“Tôi thấy mấy bà chịu thua lẹ lắm, và khai ngay nó giấu ở đâu nếu ông cứ đá vào sườn,” Kidd nói.
“Ai mà đi đá phụ nữ,” Peters nói, vẻ cao đạo. “Bóp cổ chút đỉnh - chỉ chạm vào khí quản thôi - là xong xuôi với họ ngay - mà không để lại dấu vết. Đợi tôi nghe. Tôi sẽ mang đồng đô la đó về, các cậu ạ.”
Cao phía trên một tòa nhà căn hộ cho thuê giữa Đường số 2 và bờ sông là chỗ ở của nhà Peters, trong một căn phòng phía sau u ám đến độ chủ nhà mắc cỡ khi nhận tiền thuê nó. Bà Peters làm việc vào nhiều lúc khác nhau, với những việc cọ rửa và giặt giũ lặt vặt. Ông Peters có một kỷ lục nguyên vẹn, chưa từng bị phá là năm năm liền không kiếm được một xu. Thế nhưng họ vẫn sống bấu vào nhau, chia sẻ sự thù ghét và khốn khổ của mỗi người, sống đời tạo vật của thói quen. Của thói quen, cái ma lực giữ cho trái đất khỏi bay tung ra từng mảnh; tuy rằng có thứ lý thuyết ngu ngốc nào đó về trọng lực.
Bà Peters đặt tấm thân gần một tạ trên cõi an toàn của hai cái ghế và nhìn lơ mơ qua cửa sổ tới bức tường gạch đối diện. Đôi mắt bà đỏ và ươn ướt. Mớ đồ đạc lẽ ra đã được chở đi bằng xe đẩy, nhưng chắc chẳng phu xe đẩy nào dọn nó đi như một thứ quà tặng.
Cửa mở ra cho ông Peters vào. Đôi mắt như mắt chó sục cáo lộ ra một ước muốn. Khả năng chẩn đoán của bà vợ xác định đúng ngay nguồn gốc của nó, nhưng lại hiểu lầm đó là cơn đói thay vì cơn khát.
“Từ giờ tới tối, ông chẳng mong kiếm thêm được cái gì để ăn đâu,” bà nói, lại nhìn ra cửa sổ. “Mang cái mặt chó săn của ông ra khỏi phòng đi.”
Tia mắt của ông Peters đo lường khoảng cách giữa hai người. Bằng cách bất ngờ tấn công thì có thể nhảy đè lên bà, vật ngã bà, và áp dụng chiến thuật siết cổ mà ông đã khoác lác với đám chiến hữu đang chờ kia. Thực ra, đó chỉ là một lời khoác lác; ông chưa bao giờ dám chạm đôi tay bạo lực vào người bà; nhưng với những ý nghĩ về thứ bia đen hay bia Culmbacher mát mẻ, ngon lành gia cố cho tinh thần, ông ta tiến gần đến chỗ lật đổ các lý thuyết của mình về cách cư xử đúng điệu của một quý ông đối với một quý bà. Nhưng, với tình yêu của kẻ lười nhác trong ông dành cho cách thức nghệ thuật hơn và ít cực nhọc hơn, ông chọn con đường ngoại giao trước, nước cờ cao trong cuộc chơi - thái độ của sự thành công coi như đã đạt được.
“Bà có một đô,” ông nói, vẻ cao đạo, nhưng đầy ý nghĩa trong cái giọng đi kèm với việc mồi một điếu xì gà - khi tài sản nằm ngay tầm tay.
“Tui có,” bà Peters nói, chìa tờ giấy bạc từ trong ngực ra và vung vẩy nó tanh tách, trêu ngươi.
“Tôi được đề nghị một chỗ làm... trong một tiệm trà,” ông Peters nói. “Mai tôi bắt đầu đi làm. Nhưng như thế tôi cần mua một vài...”
“Ông nói xạo,” bà Peters nói, giấu vội tờ giấy bạc trở vào trong ngực. “Không tiệm trà nào, chẳng tiệm A B C nào, chẳng cửa hàng đồng nát nào mướn ông cả. Tui tróc hết da hai bàn tay vì giặt giũ những áo khoác với quần yếm để kiếm được đô la này. Bộ ông tưởng nó hiện ra từ mớ bọt bia để mua cái món ông cho vào người hả? Dẹp đi! Đừng có nghĩ tới tiền bạc nữa”.
Rõ ràng những tư thế của nhà ngoại giao cỡ Talleyrand cũng chẳng đáng giá một trăm xu trên đồng đô la đó. Nhưng ngoại giao là phải khéo léo. Khí chất nghệ sĩ của ông Peters nắm những dây đai thắt đôi ghệt rồi nhấc ông lên đặt vào một tư thế mới. Ông bày ra một ánh u sầu tuyệt vọng trong đôi mắt.
“Clara,” ông nói, một cách trống rỗng, “phấn đấu mấy cũng là vô ích. Bà luôn hiểu lầm tôi. Có Chúa biết cho rằng tôi đã cố gắng hết sức mình để vươn cao đầu trên những đợt sóng rủi ro, nhưng...”
“Dẹp cái cầu vồng hy vọng đó với cái trò mơ tưởng bước qua từng hòn đảo nhỏ hẹp của Tây Ban Nha đi,” bà Peters nói, thở dài đánh sượt. “Tui nghe chuyện đó hoài à. Có chai thuốc sát trùng một xị trên kệ đàng sau lon cà phê rỗng đó. Cứ uống thoải mái đi”.
Ông Peters ngẫm nghĩ. Làm gì tiếp đây trời! Những mưu chước cũ đã thất bại. Hai lão ngự lâm hom hem đang mỏi mòn trông đợi ông bên tòa lâu đài đổ nát - ý là muốn nói, trên băng ghế công viên với những chân ghế bằng gang ọp ẹp. Danh dự của ông lâm nguy. Ông đã cam kết đơn thân độc mã đột kích vào lâu đài và đem về mớ kho báu vốn có thể cung cấp cho họ cuộc chè chén và khuây khỏa. Và đứng chặn giữa ông với đồng đô la đáng thèm muốn kia là vợ ông, từng là một thiếu nữ nhỏ bé mà ông có thể... aha! tại sao không làm lại được lần nữa? Từng có thời bằng những lời lẽ dịu dàng ông đã có thể, như người ta vẫn nói, quay bà ấy như quay dế. Tại sao không làm lại được lần nữa? Ông đã không thử làm vậy bao năm rồi. Cảnh nghèo khổ ác nghiệt và lòng thù ghét lẫn nhau đã giết chết toàn bộ chuyện đó. Nhưng Ragsy với Kidd đang đợi ông mang đồng đô la đó về kia!
Ông Peters lén nhìn bà một cái sắc lẻm. Khối thân thể xồ xề của bà chảy tràn khỏi ghế. Bà cứ nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ với một vẻ mất hồn kỳ lạ. Đôi mắt bà cho thấy mới đây bà đã khóc.
“Mình không biết,” ông Peters tự nhủ, “liệu có cái gì trong đó.”
Cửa sổ mở ra bức tường gạch và những khoảng sân sau xám xịt, trơ trọi. Ngoại trừ vẻ dịu dàng của không gian len vào thì trong thành phố trời vẫn như giữa mùa đông đang cau có nhìn mùa xuân vây quanh. Nhưng mùa xuân không đến với tiếng đại bác ầm vang. Nó là lính công binh và giật mìn, và bạn phải chịu thua nó thôi.
“Mình sẽ cố thử,” ông Peters tự nhủ, với bộ mặt dở khóc dở cười.
Ông bước tới chỗ bà vợ và đặt tay lên vai bà.
“Clara em yêu,” ông nói bằng cái giọng mà chắc không lừa nổi một con hải cẩu mới đẻ, “sao mình cứ nói những lời khó nghe với nhau? Bà không phải mèo cưng của tôi sao?”
Một điểm xấu cho ông, Peters ạ, trong cuốn sổ thiêng liêng của thần tình yêu Cupid. Những cáo buộc cho ông về tội âm mưu mua chuộc đã được ghi nhận, về tội làm giả và thốt ra hai từ danh xưng thần thánh nhất của Tình Yêu.
Nhưng phép lạ của mùa xuân đã được thực hiện. Dấu hiệu mùa xuân đã bò vào căn phòng phía sau bên trên con hẻm thoát hiểm giữa hai bức tường đen. Thật là buồn cười, nhưng tuy vậy... Phải, đó là một cái bẫy chuột, và bạn, quý bà và quý ông và tất cả chúng ta, đều nằm trong đó.
Đỏ lự và mập và khóc lóc như suối Niobe hay thác Niagara, bà Peters vòng hai tay ôm lấy ông chồng và tan ra trên ông ấy. Ông Peters hẳn có thể rút được đồng đô la khỏi chỗ hầm chôn giấu nó, nhưng hai tay ông bị kẹt cứng vào thân mình.
“Ông thương tui không, James?” bà Peters hỏi.
“Như điên,” ông Peters đáp, “nhưng...”
“Ông bệnh rồi!” bà Peters kêu lên. “Sao ông coi xanh xao mệt mỏi vậy?”
“Tôi thấy mệt lử,” ông Peters nói. “Tôi...”
“Ôi, chờ đã; tui biết đó là gì rồi. Chờ đó, James. Chút xíu tui quay về liền.”
Với một cú ôm siết chia tay vốn khiến ông Peters nhớ lại tay đô vật có biệt danh Tên Thổ Khủng Khiếp, bà vợ ông tất tả rời phòng và lao xuống cầu thang.
Ông Peters móc hai ngón tay vào dây đeo quần.
“Được rồi,” ông thổ lộ với trần nhà. “Mình đã khiến bà ta chạy đi. Mình không hề nghĩ con mụ này dưới cái vẻ ngốc nghếch đó mà còn dễ mềm lòng như vậy. Được thôi, thưa ngài; tôi không đáng mặt thám tử Claude Melnotte của khu hạ East Side này sao? Cái gì? Cá một trăm ăn một là tôi lấy được đồng đô la đó. Tôi không biết bà ấy đi lấy cái gì. Tôi đoán bà ta đi kể với bà Muldoon ở tầng hai, rằng tụi tôi đã làm lành. Tôi sẽ nhớ vụ này. Thứ mềm như bún! Cha Ragsy lại còn nói chuyện phải đục bà ấy nữa chứ!”
Bà Peters trở về với một chai thuốc bổ thổ phục linh.
“Tui mừng vì nhằm lúc tôi có được đồng đô la đó,” bà ấy nói. “Ông coi suy quá rồi, cưng.”
Ông Peters bị tọng cho một thìa to tướng thứ thuốc đó. Rồi bà Peters ngồi ngay vào lòng ông và rù rì:
“Gọi tui là mèo cưng như hồi xưa lần nữa đi, James.”
Ông ngồi im re, bị nữ thần mùa xuân bằng xương bằng thịt giữ cứng tại chỗ.
Mùa xuân đã đến.
Trên băng ghế trong Quảng trường Union, ông Ragsdale với ông Kidd ngồi vặn vẹo, khát khô bong lưỡi, chờ đợi chàng D’Artagnan với đồng đô la.
“Phải chi mình bóp cổ bà ấy ngay từ đầu,” ông Peters tự nhủ.
Phạm Viêm Phương dịch
(SH295/09-13)
Tải mã QRCode
DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.
S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.
WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?
SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.
SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar trong một gia đình nông dân thuộc tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.
MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.
PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.
SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)
ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.
DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.
MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.
HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.
GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.
VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.
NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.
S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.
JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.
KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.
ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.
KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.