ĐÔNG TRIỀU
Minh họa: Nhím
Hương lúa mới
nhớ chuột đồng và chim sẻ
Không đơn giản tôi được nhìn thấy theo gió
không đơn giản chỉ còn họ thức dậy bốn giờ sáng nấu cơm, rồi rời làng
tôi mang đến
con đường bê-tông ngoằng ngoèo mất dấu trong rặng cây, lại xuất hiện
rồi những con rồng đen không tìm thấy đầu và đuôi phẳng lì loáng
thoáng vết trắng
ghi nhớ tang thương
tôi mang đến cho người hái, tôi đến hái cho người mang đi
sẽ không còn bay trên cao lượn lờ báo tin và rót mật vào khoang mũi
người thấy mình đôi khi như vừa nói
người thấy mình đôi khi cũng buồn vời vợi
nhưng bây giờ chuột đồng và chim sẻ bỏ đi đâu? đã bỏ đi đâu?
Người nói với nhau vừa còn đó những miệng hang mới tinh dấu đồng loại
còn mới ngày nào tuồn rần rật tìm nhau như vỡ chợ
nhưng bối cảnh ấy chỉ là những con cua đồng chạy hạn !...
nó không thể mang cho tôi một giống nòi khác
nó không thể gọi người nông phu những ngày tôi và nắng trong cuộc
chiến chết ngạt
không thể bảo vệ nhau những ngày mây thấp như bầy côn trùng tràn ngập
lúc xưa phải lòng nhau chỉ một lần đoàn người tràn qua tôi vây bủa nó
và chim sẻ
đi tìm miếng cho con
chấm hết năm tháng dài đục nát bờ đê
con người chán chường những cuộc lùng sục không mang về nhà như
giấc mơ trên lá
nó chỉ đốn ngã thân vài ngọn cỏ vượt trời chen lấn nhau đi !...
Có những lần chúng tôi ngỡ được xe đưa rong chơi
ghé lại nhà hàng gặp nhau bạn cũ
đừng hỏi khi loài chim đã nhặt lông ai nhìn nhau mà nhớ?
tôi đã từng nấp ở ngóc ngách xóm làng, ra chợ và ngồi trên những
ngọn cây
có lúc ngửa mặt lên trời nhìn mây trắng toát vẫy tay
sống lâu năm gần nhau quen từng nhịp thở
tôi đang nghĩ về những chú chim sẻ trong nhà hàng, nhốt bên hông
chùa và trên đường phố
hôm qua
Những lúc rộn ràng này thưa vắng tiếng ca đàn chim sẻ
những lúc rộn ràng này ai sẽ bấu chân tôi khi còn là mạ
tôi tiếp tục mang đến những ngôi nhà mới, xốc dậy sự sống, tình yêu
và loằng ngoằng những
con rồng đen rồng trắng
chỉ có bóng dáng quá khứ chui xuống đất và bay lên trời cao biệt dấu
mỗi khi đàn châu chấu bay qua
mỗi khi ngọn cỏ giày thân ta
bao nhiêu năm nữa con người nhìn vào điều gì mà tưởng nhớ
theo những bài thơ bay như bóng ma ám lửng hồn người
chim trời, chuột nhũi và hương lúa mới
gió ngả nghiêng cười trăm năm xa xôi...
Lúc mùa về 2014
(SH308/10-14)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh