|
Hội thảo đã phác thảo mang tính xây dựng những định hướng chung trong việc góp phần đánh giá, gìn giữ, bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn học ở Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay, đồng thời sẽ tạo nên những cơ sở cho việc định hướng nội dung trưng bày của Bảo tàng (Nhà lưu niệm) Văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế trong tương lai, gồm các nội dung: 1. Đánh giá đúng đắn về các giá trị văn học ở Thừa Thiên Huế theo diễn trình lịch sử; 2. Thảo luận về phương án xây dựng thiết chế “Nhà lưu niệm Văn nghệ sĩ” hay “Bảo tàng Văn học Nghệ thuật”; 3. Kế hoạch xây dựng hệ thống tư liệu, sưu tầm hiện vật và kế hoạch lập đề án cho việc xây dựng thiết chế này; 4. Sau Hội thảo, Ban tổ chức cần tập trung xây dựng khuyến nghị để trình các cấp xem xét, có cơ sở cho kế hoạch lâu dài.
Qua hơn 10 tham luận của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu trình bày về văn hóa - văn học Thừa Thiên Huế qua diễn trình lịch sử 700 năm (từ 1306) bắt đầu từ Thuận Hóa đến Phú Xuân để trở thành Kinh đô của cả nước (từ 1788-1801 dưới triều Tây Sơn, từ 1802-1945 dưới triều Nguyễn), rồi Thừa Thiên Huế sau này, văn hóa Huế đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng văn hóa của cả dân tộc. Trong đó, văn học là một thành tựu đáng kể góp phần hình thành nên những đặc trưng văn hóa giàu bản sắc của của vùng đất thi ca.
Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu đã dựng lại diễn trình văn học ở Thừa Thiên Huế qua các giai đoạn gắn liền với lịch sử của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân qua miêu thuật và đánh giá về “Thành tựu của thời kỳ văn học cổ điển ở Thừa Thiên Huế”. Quan tâm đến tính toàn diện về diện mạo văn học một vùng đất, tuy chỉ xác định là “Bước đầu tìm hiểu văn học Thừa Thiên Huế” nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm xuất phát từ những đặc điểm lịch sử của Thừa Thiên Huế để chỉ ra những đặc điểm làm nên vẻ riêng có của văn học vùng đất.
Bên cạnh, nhiều tham luận cũng đã phân tích những giá trị văn học Thừa Thiên Huế qua các thời kỳ đồng thời đóng góp nhiều ý kiến quan trọng xung quanh việc hoạch định ý tưởng, nội dung cho phần trưng bày văn học trong tổng thể Bảo tàng (Nhà lưu niệm) Văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế. Ở mảng đề tài này có các tham luận Một số ý kiến đóng góp về nội dung trưng bày di sản văn học xứ Huế của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa; Những định hướng và giải pháp thực hiện Nhà lưu niệm Văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân; Một công trình không chỉ có ý nghĩa với Huế của nhà văn Nguyễn Khắc Phê; Ý kiến nhỏ về một dự án lớn của nhà thơ Hồ Thế Hà; Phát biểu về xây dựng Nhà lưu niệm Văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế của nhà văn Tô Nhuận Vỹ; Cái chúng ta cần là sự thích nghi của nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch; Những nét nổi bật của văn học Thừa Thiên Huế của nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc; Văn học Thừa Thiên Huế, giá trị và di sản vật chất của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh; Nội dung trưng bày Phần văn học tại Nhà lưu niệm Văn nghệ sĩ nhìn từ việc phân tích đánh giá nguồn hiện vật và khả năng sưu tầm của nhà thơ Nguyễn Phước Hải Trung.
Cùng đó, các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu đã thảo luận về phương án xây dựng thiết chế “Nhà lưu niệm Văn nghệ sĩ” hay “Bảo tàng Văn học Nghệ thuật”. Theo nhà văn - dịch giả Bửu Ý thì không nên xây dựng nhà lưu niệm văn nghệ sĩ vì nhà lưu niệm chỉ dành riêng cho một cá nhân, nhưng ở đây lại là một tập thể. Vì vậy, theo ông nên xây dựng bảo tàng văn nghệ sĩ là thích hợp nhất, đây cũng là ý kiến của nhiều đại biểu tại Hội thảo.
Với tinh thần khoa học và sự nghiêm túc, các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu đã nêu bật nhiều nội dung quan trọng về diện mạo văn học Thừa Thiên Huế và đóng góp nhiều ý kiến cho việc xây dựng Bảo tàng văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế. Hy vọng, trong một tương lai gần, Thừa Thiên Huế sẽ xây dựng Bảo tàng Văn nghệ sĩ - chắc chắn đây sẽ là một điểm nhấn trong hành trình đến Cố đô Huế với công chúng yêu văn học, du khách và những người yêu mến vùng đất thi ca này.
|
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.