Hoa Kim Anh

10:11 08/10/2010
XUÂN HOÀNGHuy đang nói chuyện với mấy người bạn trẻ viết văn cùng quê thì Trường, anh bạn làm thơ trẻ người dân tộc ở phòng bên nghe tiếng, vui vẻ chạy sang.

Hang Pác Bó - Ảnh: internet

Sau vài ba câu chuyện thăm hỏi, Trường như sực nhớ ra một điều:

- Ở đây, có người nhắc đến anh đấy.

Chưa kịp chờ Huy phản ứng, anh nói luôn:

- Một cô bạn miền núi.

Huy ngơ ngác:

- Làm gì mình có bạn miền núi giữa thủ đô Hà Nội này?

Trường trở nên sôi động:

- Thì anh cứ theo tôi. Người ta cũng ở gần đây thôi.

- Ít nhất, cậu cũng phải cho mình biết tên cô ta chứ!

Trường vẫn cười bí mật:

- Không nói tên đâu! Đến đó khắc biết!

Khi chủ nhân gian phòng được đánh động là có “khách phương xa tới thăm” vừa bước ra cửa đón tiếp, Trường đã đon đả giới thiệu ngay:

- Đấy, ông bạn miền Trung cô hay nói chuyện với tôi hôm nay đã xuất hiện đấy!

Chủ nhân gian phòng nhận ra khách, mừng rỡ thốt lên:

- Gớm, tưởng anh quên Việt Bắc rồi!

Nhưng Huy vẫn chưa nhớ ra thật, nếu không nói là quên! Trước mặt anh là một cô gái, trên dưới ba mươi tuổi khuôn mặt miền núi bầu bĩnh và chất phác, được những đường nét thanh tú ở khóe miệng và vừng trán làm tăng thêm vẻ duyên dáng. Mái tóc phi-dê đem lại cho cô cái vẻ ngoài của một cô gái Hà Nội, duy đôi mắt là vẫn rất hiền, đượm chút mơ mộng thường gặp ở các cô gái vùng cao.

Thấy Huy ngập ngừng, sắc mặt cô bạn đột nhiên tái đi. Trường cũng đâm ra lúng túng, anh gợi ý khéo:

- Người cũ Pác Bó đẹp lên, nên nhà văn không nhận ra chứ gì!

Hai chữ Pác Bó rạch nên một tia chớp rực rỡ. Huy bàng hoàng kêu lên:

- Ôi, cô Diên đấy ư?

Và tất cả, trong anh bỗng trở nên sáng tỏ: Hang Pác Bó. Suối Lê-nin. Nắng chiều trên núi Mác. Rừng trúc, gốc ổi, hoa Kim Anh… Và bên cạnh anh là người bạn thơ miền núi quê ở Hòa An, là cô thuyết minh trẻ tuổi lớn lên trên đất Cao Bằng với hai con mắt mở to khi thấy người khách tham quan khu di tích Pác Bó, đang đứng ngẩn ngơ bỗng nhiên sụp quì xuống bên bàn đá, chỗ Bác Hồ ngồi dịch lịch sử Đảng ngày xưa, ôm mặt khóc nức nở…

***

Ngày đó, cách đây đúng mười năm!

Sau bốn mươi ki-lô-mét cùng đạp xe từ huyện Hòa An về đến Pác Bó thì trời đã ngả chiều, An, anh bạn làm thơ người miền núi đưa Huy vào ngay phòng khách nhà bảo tàng di tích Bác Hồ. Đồng chí phụ trách chính đi vắng. Cô Diên, nhân viên trẻ vừa mới ra trường, niềm nở tiếp đoàn. Nhà thơ miền núi vốn là người quen cũ của cô. Khi nghe anh đề nghị cho vào thăm hang Pác Bó theo yêu cầu của ông khách miền Trung từ xa đến (anh vừa cười vừa vỗ vào vai Huy thân mật giới thiệu Huy với cô), cô vui vẻ nhận lời ngay.

Đường từ làng vào hang độ hai cột số. Nắng chiều nhuộm vàng các mỏm núi cao làm lòng thung lũng như bị thu hẹp lại, các mái ngói âm dương như đen thẫm thêm trong khi các cột điện chạy dọc dãy dài theo con đường làng như trắng rỡ ra, ngời sáng lên.

Ra khỏi đám ruộng nhỏ trước bìa làng đã là núi. Đến một khoảng đất hẹp có dòng nước chảy qua, Diên trỏ vào các đám cải soong xanh rờn hai bên bờ mương, bắt đầu công việc giới thiệu của mình:

- Đây là giống cải soong Bác ươm. Trước kia, đồng bào miền núi không quen ăn cải soong. Bây giờ quen rồi. Thấy mát và bổ, bà con trồng thêm. Nay phát triển ra nhiều, ăn hoài không hết!

Con đường mòn tiếp tục xuyên qua bờ bụi, khe núi. Một mùi hương thoảng đưa, mùi hương dễ chịu của núi rừng. Đang là mùa xuân, hoa kim anh khắp nơi nở trắng. Lên đến một chỗ cao khá thoáng, Diên đột nhiên trỏ vào mảng nắng xanh rung rinh trước mắt:

- Kia là rừng trúc Bác trồng. Ánh nắng từ núi hắt xuống. Nhìn từ xa rừng trúc lấp lánh như cảnh vẽ trong tranh sơn mài. Càng đến gần, tiếng gió càng xôn xao. Diên dẫn đoàn tham quan lách vào rừng. Những cây trúc mảnh dẻ, khỏe và chắc, san sát bên nhau, lao xao khua lá. Tự nhiên mọi người đều im lặng. Anh bạn miền núi, vốn vui tính, bỗng trở nên ít lời. Huy chợt bàng hoàng nhớ đến những đoạn hồi ký cách mạng kể lại thời kỳ Bác về làm việc ở hang Pác Bó. Chao ôi, rừng trúc Bác trồng là đây! Dạo đó, Bác chỉ trồng mấy bụi mà bây giờ trúc đã thành rừng. Không biết bụi trúc nào ngày xưa Bác đã chiết lấy một cành làm cần câu cá?

Qua khỏi rừng trúc, họ gặp lại dòng suối Lê-nin. Dòng suối đến đây lởm chởm những đá, hẹp chỉ vừa mấy tầm nhảy, nước trong văn vắt. Huy cúi xuống, vốc một vốc vào lòng bàn tay, uống luôn mấy hớp. Nước mát thấm tận gan ruột. Anh cười, quay sang bảo bạn:

- Nước nguồn đây, cậu ơi!

Diên nghiêm trang chỉ vào phiến đá dưới bóng một tán cây rừng.

- Bác thường ngồi câu trên phiến đá nầy đây!

Bác Hồ ở hang Pác Bó - Ảnh: internet


Nước ở đây khá sâu. Một chút lá rừng rơi xuống mặt suối, vẽ một vòng gương nước rung động. Làn rêu xanh im lìm trên phiến đá như vô tình không nghe tiếng chân bước. Huy thử soi lên mặt nước, nhưng anh chỉ thấy bóng dáng đầu tóc của mình khẽ rung rinh trên bước đi yên tĩnh của buổi chiều. Trong im lặng thiêng liêng của núi rừng. Huy nói khẽ với Diên như nói với chính mình:

- Những đêm nằm hầm dưới tầm bom B.52, tôi từng ao ước sẽ có ngày được ngồi lên phiến đá Bác ngồi câu cá ở hang Pác Bó …

Hình như Diên đọc được sự xúc động trên mặt Huy. Cô cũng xúc động thật sự. Cô biết, trước mắt cô là một nhà văn từng trải qua nhiều thử thách ác liệt trên chiến trường. Những ngày B.52 cả thế giới đều xúc động theo dõi. Những căn hầm chữ A ngột ngạt khói đèn dầu. Những trận đấu pháo qua về trên sông Bến Hải. Những bài thơ rực lửa chiến đấu vang lên trong tiếng thơ đài phát thanh tiếng nói Việt Nam… Cô hỏi rất khẽ:

- Ở trong ấy, những năm đánh Mỹ, chắc khổ lắm phải không anh?

Huy lắc đầu:

- Không khổ đâu cô Diên ạ. Dữ dội thì có! Gian khổ thì có! Nhưng phải nói là chúng tôi rất yên tâm! Trời đã khá chiều. Diên đưa mắt nhìn về phía mặt trời, lên tiếng giục dã:

- Chúng ta sang chỗ bàn thạch rồi còn vào hang! Phải khẩn trương một tí kẻo mặt trời tắt, vào hang tối lắm.

Đi ngược lên bờ suối, ba người đến một chỗ nhiều phiến đá ngổn ngang trên mặt đất. Không biết những phiến đá đó tách vách núi lăn xuống đây từ bao giờ? Và cũng không biết từ bao giờ mưa gió đã mài mòn những cạnh sắc của đá. Không ai bảo ai, cả Huy và An đều bước mau đến chỗ những phiến đá được xếp chồng lên nhau như hình một chiếc bàn con bên cạnh một phiến nhẵn hơn, dùng làm ghế, được xếp thấp hơn một chút. Cảnh trí ở đây trang nghiêm, thanh nhã lạ lùng. Trùm lên dòng suối đang chảy là bóng núi đồ sộ. Một vài con chim rừng nghe động, giật mình bay đi, để lại trong thinh không những tiếng kêu vui với những vết nắng lấp loáng trên đôi cánh mềm mại.

Giọng Diên như lắng xuống:

- Những phiến đá nầy chính tự tay Bác cùng một số đồng chí hoạt động bí mật thời bấy giờ dựa vào chỗ thuận lợi của thiên nhiên mà sắp xếp lại, làm thành bàn đá, có thể ngồi viết được vào những ngày mát trời…

- Diên ơi đừng nói nữa, điều đó tôi đã được biết cả rồi!

Huy tự nhiên thầm kêu lên trong im lặng.

Như cảm thông được ý nghĩ của anh, đột nhiên Diên cũng lặng im. Cô cảm thấy những lời giới thiệu của mình bây giờ là thừa. Và trong im lặng, Huy nghe ra tiếng rừng đang nói, dịu dàng, thắm thiết:

- Đồng chí biết đấy! Đồng chí đang đứng trước bàn đá của lịch sử. Cái bàn bằng đá mà không là của thời kỳ đồ đá. Ở đây, Bác đã ngồi dịch sử Đảng sau những cơn sốt. Sau lưng Bác là những biến động của gần cả một thế kỷ đầy đau khổ nhưng cũng đầy hy vọng. Và chính Bác cũng đã làm lịch sử thay đổi từ những bước đi ban đầu, ở cái bàn đá giản dị nầy, bằng trí tuệ và trí thức của mình, bằng khát vọng và tâm hồn của mình. Theo Bác, cả một dân tộc đã vươn mình đứng dậy. Pác Bó … Tân Trào… Hà Nội… Điện Biên Phủ… những ngày đánh Mỹ hôm qua… Phút giờ yên tĩnh hôm nay…

Không nén được cảm xúc, Huy bỗng quỳ xuống đất, gục xuống mặt bàn đá mát lạnh nức nở khóc.

Tôn trọng sự xúc động của bạn, An cũng đứng lặng yên. Lát sau, Huy ngẩng lên, anh bỗng bắt gặp hai giọt nước mắt đang lặng lẽ rung rinh trong khóe mắt của Diên, chập chờn nửa muốn tan đi, nửa muốn rời lăn xuống má. Diên ngượng ngùng quay đi, lấy mù soa lau nhanh nước mắt.

- Em đã đưa nhiều khách tham quan đi thăm Pác Bó. Đến chỗ bàn đá này, ai cũng cảm động… Bây giờ đến lượt An giục:

- Chúng ta vào hang thôi! Núi sắp ăn hết mặt trời rồi!

Đêm đó, trở về phòng khách, Huy hỏi mượn Diên tất cả các tập lưu niệm đã có ở nhà bảo tàng, ngồi đọc cho đến khuya. Xong đâu đấy, anh lấy bút ngồi ghi những cảm tưởng của mình dưới dạng một chùm tứ tuyệt vào cuốn lưu niệm gần nhất. Anh đâu biết, ở phòng trên, cô hướng dẫn cũng bắt đầu chú ý đến người tham quan đã thức gần trắng đêm sau một ngày đi đường, đạp xe và leo núi vất vả.

Sáng hôm sau, trên đường về, mải trò chuyện với An, anh ít có dịp nói chuyện với cô bạn mới quen. Chả là Diên đi xe đạp đường xa không bằng cánh đàn ông nên cứ bị tụt lại. Mỗi khi lên dốc, Huy và An lại phải xuống xe đứng đợi. Một lần, đợi Diên lên đến nơi, An trêu:

- Con gái Việt Bắc gì mà lên dốc kém thế!

Và Huy đã bênh vực Diên:

- Bây giờ bỏ xe, leo núi, chúng mình chưa chắc đã theo kịp cô ấy!

Có một lúc, Huy để cho An đạp lên trước, lùi xuống kèm Diên một đoạn đường, bắt chuyện với Diên để có dịp hiểu thêm về đời sống một cô cán bộ miền núi.

Qua chặng đường đó, Huy được biết Diên có một quãng đời rõ ràng và trong sáng như nhiều cô gái miền núi khác lớn lên sau cách mạng tháng Tám: bé, học ở trường làng, tốt nghiệp cấp hai ở trường huyện, tiếp tục học chuyên nghiệp ở tỉnh rồi đi cán bộ. Tự hào về truyền thống cách mạng của quê hương, cô xin đi sâu vào ngành bảo tồn bảo tàng và chuyên trách giới thiệu các thời kỳ hoạt động của Bác ở Việt Bắc. Cô gái Nùng hai mươi tuổi ấy chưa có người yêu…

Câu chuyện chỉ dừng tới đó. Và cũng chỉ chừng đó. Huy biết ở Diên, một trong nhiều người anh từng tiếp xúc, trên đường dài công tác của mình.

Về đến Cao Bằng họ chia tay nhau. Anh bạn trở về trường vừa dạy vừa làm ở huyện, Diên theo công việc ở ty Văn hoá, còn anh, anh phải ra bến xe ô-tô lấy vé đi Lạng Sơn để từ đó xuôi tàu về Hà Nội. Đợt đi Cao Bằng đã mang về cho anh một chùm thơ cùng vài kỷ niệm nhẹ nhàng…


Giờ thì đây, trước mắt Huy là cô bé thuyết minh hồn nhiên dễ thương mười năm về trước. Cô bé ấy đã lớn lên nhiều đến nỗi anh không nhận ra.

- Cô Diên vẫn công tác ở nhà bảo tàng Pác Bó từ ấy đến nay chứ?

- Nhiều thăng trầm lắm anh ạ. Không ngờ rồi chỗ chúng em cũng bom đạn như vùng đất anh ở hôm qua. Tất nhiên là không ác liệt bằng chỗ các anh trong ấy.

Trong óc Huy bỗng hiện lên những ngày tháng hai, tháng ba năm 79. Bọn phản động Bắc Kinh hùng hổ xục quân đánh phá một số tỉnh ở biên giới phía Bắc. Chúng đã đặt chân đến vùng Hà Quảng, Hòa An, đã xúc phạm vùng di tích Pác Bó … Mốc biên giới 108, chỗ Bác dừng chân trên đường về nước bị chúng bứng đi đem chôn vào chỗ khác để lấn đất. Từ đấy, đại bác của chúng câu vào Bó Bũm, bản Hoàng… Máu đã loang bờ suối Lê-nin. Nhà bảo tàng Pác Bó bị đánh sập!

- Dạo đó chúng em phải sơ tán một phần nhà Bảo tàng về tận dưới Hà Nội. Còn thiếu chi là khó khăn gian khổ hở anh! Nhưng rồi cũng xong tất. Ngay cả tấm bàn thạch cũng được dời đi. Cả mẩu tượng Mác, Bác khắc ở trong hang đá. Nay đã lại chuyển trở về trên ấy một ít. Dù không được hoàn chỉnh như thời anh về thăm, Pác Bó vẫn phải là Pác Bó chứ anh!

Ngừng một lát. Diên kể tiếp:

- Sau đợt sơ tán lịch sử đó- chúng em vẫn gọi đùa với nhau đó là một cuộc sơ tán của lịch sử - em được ty Văn hoá Cao Bằng giới thiệu lên Bộ theo học lớp chuyên tu nầy.

Bỗng như sực nhớ, anh quay sang hỏi Diên:

- À, mà cô Diên nầy, dạo này hoa kim anh vẫn còn nở nhiều trên đường vào hang Pác Bó đấy chứ?

Đôi mắt Diên trở nên mơ màng:

- Nó vẫn nở đấy, anh ạ! Thứ hoa kể cũng thật lạ - Nó nở khắp nơi. Trắng núi, trắng rừng. Trên bụi bờ, trên mặt đất, mặt đá. Ngày xưa, lúc Bác về, nó đã nở. Cứ đến mùa xuân, nó lại nở. Nó sẽ nở hết năm này qua năm khác… Chúng em vẫn gọi hoa Kim Anh là hoa mùa xuân đấy mà…

Trên đường tiễn Huy ra về, Trường đi sát bên anh, nhỏ giọng:

- Anh biết không? Chuyện anh khóc trước bàn đá ở hang Pác Bó, cô Diên đã kể hết cho tôi nghe. Và cô cũng đã tự thú với tôi như thế nầy: Chính anh, anh đã làm cô ấy yêu thêm nghề của mình, một điều mà chắc chắn anh không hề ngờ tới?

Huy không trả lời bạn. Anh thong thả bước từng bước dài. Trước mắt anh núi rừng Pác Bó đang sáng rực trong nắng chiều sắc hoa Kim Anh.

X.H.
(5/2-84)




Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • MINH CHUYÊN (Tiếp Sông Hương số 12-2008)

  • MINH CHUYÊN (Tiếp theo và hết)

  • LÊ HUỲNH LÂMCó thể gọi xứ Huế là thành phố của những tiếng chuông. Sự khởi đầu của một ngày, một ngày mai hun hút trong tương lai cũng như một ngày tận trong nghìn trùng quá khứ. Một ngày mà âm thanh từ đại hồng chung phát ra; vang, ngân, vọng và im bặt. Người ta gọi âm thanh đó là tiếng chuông. Vậy thì, im bặt cũng là một phần của tiếng chuông.

  • MINH CHUYÊNCảnh làng mới Trà Tân cuối chiều mùa đông. Con suối chảy qua nước trong veo, róc rách. Phía tây con suối cách làng chừng nửa tầm mắt là rừng Sắc Rông, đủ các loại cây tầng tầng, lớp lớp. Cánh rừng đang chìm trong sương chiều. Rừng hoang vắng, huyền bí. Người ta kể sau ngày chiến tranh chấm dứt, rừng Sắc Rông càng trở nên bí ẩn. Người chỉ có vào mà không có trở ra. Vậy mà mấy tháng gần đây lại thường xuyên xuất hiện một người đàn bà ở đó.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGNgày xưa nhà mẹ nghèo hung, cơm không có ăn, khố không có mặc, suốt ngày lang thang trong rừng đào củ mài củ sắn kiếm cái cho vào bụng. Có ngày không tìm được chi, bụng đói lắc lư.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTrước ngày Huế khởi nghĩa 23/8/1945, có một sự kiện khiến cả thành phố náo nức vui mừng: đó là việc lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đỉnh cột cờ Huế ngày 21/8 thay cho cờ quẻ ly. Người chiến sĩ được đồng chí Trần Hữu Dực trực tiếp giao nhiệm vụ quan trọng ấy là chàng thanh niên 25 tuổi Đặng Văn Việt (ĐVV).

  • NGUYỄN QUANG HÀTạp chí văn nghệ của 6 tỉnh Bắc miền Trung gồm: Xứ Thanh, Sông Lam, Hồng Lĩnh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Sông Hương có một cam kết thú vị, luôn luôn trong nỗi chờ mong là mỗi năm anh chị em trong tạp chí thay nhau đăng cai luân phiên, mỗi năm gặp nhau một lần, ở thời điểm thích hợp nhất do tạp chí đăng cai tự chọn.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOTháng bảy, nồng nàn hương lúa mới trên những ruộng lúc mới vừa mùa gặt tháng 5, mùi rơm rạ kéo tôi ra khỏi thế giới của những đường phố xênh xang, đầy bụi và chật người. Tôi leo lên một tầng gác và nhìn về hướng quê tôi, hình dung đủ thứ nhưng nhớ vẫn là khói lam chiều với dáng mẹ tôi gầy cong như đòn gánh.

  • VĨNH NGUYÊNPhải nói tôi có ý định dông một chuyến xe máy ra Bắc đã lâu mà chưa có dịp. Nay có điều kiện để đi song tôi vẫn băn khoăn, không hiểu chuyến đi này mình sẽ gặp những ai đây? Hay là phải thở dài dọc đường xa với những cảnh đời khốn khó? Thôi thì tôi chỉ biết đi và đi.

  • VÕ MẠNH LẬP                Ghi chépNhân vật Mười Hương nhiều người đã biết đến qua sách báo và đặc biệt là vùng đất Nam Bộ - Sài Gòn.

  • DƯƠNG THÀNH VŨTrong đêm mỏng yên tĩnh dịu dàng, một mình một cõi với ly rượu trắng, cùng mùi hương của hoa rộn ràng, huy hoàng phát tiết; tôi miên man nhớ tới cõi người đến- cõi người đi nơi xa chốn gần, thời gian tuyến tính lẫn thời gian phi tuyến tính.

  • NHẬT HOA KHANH Mười năm những mấy ngàn ngày... (Tố Hữu: Mười năm )

  • TRUNG SƠNĐoàn văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế (TTH) lên đường “đi thực tế” một số tỉnh phía Bắc vào lúc lễ giỗ Tổ ở đền Hùng (10 tháng 3 âm lịch) vừa kết thúc. Tiền có hạn, thời gian có hạn chưa biết sẽ tới được những đâu, nhưng ai cũng “nhất trí” là phải lên Phú Thọ thăm Đền Hùng, dù lễ hội đã qua.

  • ALẾCHXĂNG GRINTại Luân Đôn, mùa xuân năm 1921, có hai ngài trung niên ăn mặc sang trọng dừng chân ở góc đường, nơi phố Pakađilli giao nhau với một ngõ nhỏ. Họ vừa ở một tiệm ăn đắt tiền đi ra. Ở đó, họ đã ăn tối, uống rượu vang và cùng đám nghệ sỹ của nhà hát Đriuđilenxky đùa cợt.

  • PHONG LÊQuê tôi là một xã nghèo ven chân núi Mồng Gà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Hà Nội, việc về thăm quê, đối với tôi không mấy khó khăn. Hồi là sinh viên thì mỗi năm hai lần, lần nghỉ hè lần nghỉ Tết. Khi đã là cán bộ, có gia đình thì mỗi năm một lần, cả nhà dắt díu về, với hai hành trình là tàu hoả từ Hà Nội vào Vinh, rồi là xe đạp từ Vinh về nhà.

  • NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ ông hay, nổi tiếng, nhiều người ái mộ. Thời buổi “nhuận bút không đùa với khách thơ”, kinh tế khó khăn, gia đình ông vẻ như cũng “rất ư  hoàn cảnh”.

  • ĐẶNG NHẬT MINHGia đình tôi ở Huế có một cái lệ: cứ vào dịp trước Tết tất cả nhà cùng nhau lên núi Ngự Bình quét dọn, làm sạch cỏ trên những nấm mộ của nhũng người thân đã khuất. Sau đó trở về nhà thờ của dòng họ, cùng nhau ăn một bữa cơm chay. Cái lệ đó người Huế gọi là Chạp. Ngày Chạp hàng năm không cố định, có thể xê dịch nhưng nhất thiết phải trước Tết và con cháu trong gia đình dù đi đâu ở đâu cũng phải về để Chạp mộ.

  • DƯƠNG PHƯỚC THUMùa xuân năm Đinh Mùi, 1307, tức là chỉ sau có mấy tháng kể từ ngày Công chúa Huyền Trân xuất giá qua xứ Chàm làm dâu, thì những cư dân Đại Việt đầu tiên gồm cả quan binh gia quyến của họ, đã rời khỏi vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã theo chân Hành khiển Đoàn Nhữ Hài, vượt qua ngàn dặm rừng rậm, núi cao, biển rộng đến đây cắm cây nêu trấn yểm, xác lập chủ quyền quốc gia.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhững ngọn gió heo may cuối cùng đã tắt. Nắng buổi sáng hanh vàng ngoài bến sông. Hàng cây trên phố Huế đã chừng như thay lá, lung linh một màu lá tơ non, mỏng như hơi thở của bầy con gái trường Hai Bà Trưng đang guồng xe đạp đến trường. Mùa xuân đã về bên kia sông. Đã về những cánh én nâu đen có đôi mắt lay láy màu than đá. Đã về những đóa hoa hoàng mai, vàng rưng rức như một lời chào ngày tao ngộ...

  • TÔ VĨNH HÀCon chó Giắc nhà tôi đẹp nhưng mà hư quá. Tôi hét nó nằm thì nó cứ giương mắt ra, rồi ngồi. Tôi không cho nó chạy vào nhà vì sợ nó làm bẩn cái nền nhà vừa lau thì nó đi vòng cửa sau, khi tôi ra cửa trước. Bực nhất là ngày lễ - nói chung là những ngày có việc, bất cứ ai vào nó cũng sủa rộn ràng. Tôi thì không muốn xóm giềng để ý. Vậy mà chó có biết cho tôi đâu...