Hang Pác Bó - Ảnh: internet
Sau vài ba câu chuyện thăm hỏi, Trường như sực nhớ ra một điều: - Ở đây, có người nhắc đến anh đấy. Chưa kịp chờ Huy phản ứng, anh nói luôn: - Một cô bạn miền núi. Huy ngơ ngác: - Làm gì mình có bạn miền núi giữa thủ đô Hà Nội này? Trường trở nên sôi động: - Thì anh cứ theo tôi. Người ta cũng ở gần đây thôi. - Ít nhất, cậu cũng phải cho mình biết tên cô ta chứ! Trường vẫn cười bí mật: - Không nói tên đâu! Đến đó khắc biết! Khi chủ nhân gian phòng được đánh động là có “khách phương xa tới thăm” vừa bước ra cửa đón tiếp, Trường đã đon đả giới thiệu ngay: - Đấy, ông bạn miền Trung cô hay nói chuyện với tôi hôm nay đã xuất hiện đấy! Chủ nhân gian phòng nhận ra khách, mừng rỡ thốt lên: - Gớm, tưởng anh quên Việt Bắc rồi! Nhưng Huy vẫn chưa nhớ ra thật, nếu không nói là quên! Trước mặt anh là một cô gái, trên dưới ba mươi tuổi khuôn mặt miền núi bầu bĩnh và chất phác, được những đường nét thanh tú ở khóe miệng và vừng trán làm tăng thêm vẻ duyên dáng. Mái tóc phi-dê đem lại cho cô cái vẻ ngoài của một cô gái Hà Nội, duy đôi mắt là vẫn rất hiền, đượm chút mơ mộng thường gặp ở các cô gái vùng cao. Thấy Huy ngập ngừng, sắc mặt cô bạn đột nhiên tái đi. Trường cũng đâm ra lúng túng, anh gợi ý khéo: - Người cũ Pác Bó đẹp lên, nên nhà văn không nhận ra chứ gì! Hai chữ Pác Bó rạch nên một tia chớp rực rỡ. Huy bàng hoàng kêu lên: - Ôi, cô Diên đấy ư? Và tất cả, trong anh bỗng trở nên sáng tỏ: Hang Pác Bó. Suối Lê-nin. Nắng chiều trên núi Mác. Rừng trúc, gốc ổi, hoa Kim Anh… Và bên cạnh anh là người bạn thơ miền núi quê ở Hòa An, là cô thuyết minh trẻ tuổi lớn lên trên đất Cao Bằng với hai con mắt mở to khi thấy người khách tham quan khu di tích Pác Bó, đang đứng ngẩn ngơ bỗng nhiên sụp quì xuống bên bàn đá, chỗ Bác Hồ ngồi dịch lịch sử Đảng ngày xưa, ôm mặt khóc nức nở… *** Ngày đó, cách đây đúng mười năm! Sau bốn mươi ki-lô-mét cùng đạp xe từ huyện Hòa An về đến Pác Bó thì trời đã ngả chiều, An, anh bạn làm thơ người miền núi đưa Huy vào ngay phòng khách nhà bảo tàng di tích Bác Hồ. Đồng chí phụ trách chính đi vắng. Cô Diên, nhân viên trẻ vừa mới ra trường, niềm nở tiếp đoàn. Nhà thơ miền núi vốn là người quen cũ của cô. Khi nghe anh đề nghị cho vào thăm hang Pác Bó theo yêu cầu của ông khách miền Trung từ xa đến (anh vừa cười vừa vỗ vào vai Huy thân mật giới thiệu Huy với cô), cô vui vẻ nhận lời ngay. Đường từ làng vào hang độ hai cột số. Nắng chiều nhuộm vàng các mỏm núi cao làm lòng thung lũng như bị thu hẹp lại, các mái ngói âm dương như đen thẫm thêm trong khi các cột điện chạy dọc dãy dài theo con đường làng như trắng rỡ ra, ngời sáng lên. Ra khỏi đám ruộng nhỏ trước bìa làng đã là núi. Đến một khoảng đất hẹp có dòng nước chảy qua, Diên trỏ vào các đám cải soong xanh rờn hai bên bờ mương, bắt đầu công việc giới thiệu của mình: - Đây là giống cải soong Bác ươm. Trước kia, đồng bào miền núi không quen ăn cải soong. Bây giờ quen rồi. Thấy mát và bổ, bà con trồng thêm. Nay phát triển ra nhiều, ăn hoài không hết! Con đường mòn tiếp tục xuyên qua bờ bụi, khe núi. Một mùi hương thoảng đưa, mùi hương dễ chịu của núi rừng. Đang là mùa xuân, hoa kim anh khắp nơi nở trắng. Lên đến một chỗ cao khá thoáng, Diên đột nhiên trỏ vào mảng nắng xanh rung rinh trước mắt: - Kia là rừng trúc Bác trồng. Ánh nắng từ núi hắt xuống. Nhìn từ xa rừng trúc lấp lánh như cảnh vẽ trong tranh sơn mài. Càng đến gần, tiếng gió càng xôn xao. Diên dẫn đoàn tham quan lách vào rừng. Những cây trúc mảnh dẻ, khỏe và chắc, san sát bên nhau, lao xao khua lá. Tự nhiên mọi người đều im lặng. Anh bạn miền núi, vốn vui tính, bỗng trở nên ít lời. Huy chợt bàng hoàng nhớ đến những đoạn hồi ký cách mạng kể lại thời kỳ Bác về làm việc ở hang Pác Bó. Chao ôi, rừng trúc Bác trồng là đây! Dạo đó, Bác chỉ trồng mấy bụi mà bây giờ trúc đã thành rừng. Không biết bụi trúc nào ngày xưa Bác đã chiết lấy một cành làm cần câu cá? Qua khỏi rừng trúc, họ gặp lại dòng suối Lê-nin. Dòng suối đến đây lởm chởm những đá, hẹp chỉ vừa mấy tầm nhảy, nước trong văn vắt. Huy cúi xuống, vốc một vốc vào lòng bàn tay, uống luôn mấy hớp. Nước mát thấm tận gan ruột. Anh cười, quay sang bảo bạn: - Nước nguồn đây, cậu ơi! Diên nghiêm trang chỉ vào phiến đá dưới bóng một tán cây rừng. - Bác thường ngồi câu trên phiến đá nầy đây!
Nước ở đây khá sâu. Một chút lá rừng rơi xuống mặt suối, vẽ một vòng gương nước rung động. Làn rêu xanh im lìm trên phiến đá như vô tình không nghe tiếng chân bước. Huy thử soi lên mặt nước, nhưng anh chỉ thấy bóng dáng đầu tóc của mình khẽ rung rinh trên bước đi yên tĩnh của buổi chiều. Trong im lặng thiêng liêng của núi rừng. Huy nói khẽ với Diên như nói với chính mình: - Những đêm nằm hầm dưới tầm bom B.52, tôi từng ao ước sẽ có ngày được ngồi lên phiến đá Bác ngồi câu cá ở hang Pác Bó … Hình như Diên đọc được sự xúc động trên mặt Huy. Cô cũng xúc động thật sự. Cô biết, trước mắt cô là một nhà văn từng trải qua nhiều thử thách ác liệt trên chiến trường. Những ngày B.52 cả thế giới đều xúc động theo dõi. Những căn hầm chữ A ngột ngạt khói đèn dầu. Những trận đấu pháo qua về trên sông Bến Hải. Những bài thơ rực lửa chiến đấu vang lên trong tiếng thơ đài phát thanh tiếng nói Việt Nam… Cô hỏi rất khẽ: - Ở trong ấy, những năm đánh Mỹ, chắc khổ lắm phải không anh? Huy lắc đầu: - Không khổ đâu cô Diên ạ. Dữ dội thì có! Gian khổ thì có! Nhưng phải nói là chúng tôi rất yên tâm! Trời đã khá chiều. Diên đưa mắt nhìn về phía mặt trời, lên tiếng giục dã: - Chúng ta sang chỗ bàn thạch rồi còn vào hang! Phải khẩn trương một tí kẻo mặt trời tắt, vào hang tối lắm. Đi ngược lên bờ suối, ba người đến một chỗ nhiều phiến đá ngổn ngang trên mặt đất. Không biết những phiến đá đó tách vách núi lăn xuống đây từ bao giờ? Và cũng không biết từ bao giờ mưa gió đã mài mòn những cạnh sắc của đá. Không ai bảo ai, cả Huy và An đều bước mau đến chỗ những phiến đá được xếp chồng lên nhau như hình một chiếc bàn con bên cạnh một phiến nhẵn hơn, dùng làm ghế, được xếp thấp hơn một chút. Cảnh trí ở đây trang nghiêm, thanh nhã lạ lùng. Trùm lên dòng suối đang chảy là bóng núi đồ sộ. Một vài con chim rừng nghe động, giật mình bay đi, để lại trong thinh không những tiếng kêu vui với những vết nắng lấp loáng trên đôi cánh mềm mại. Giọng Diên như lắng xuống: - Những phiến đá nầy chính tự tay Bác cùng một số đồng chí hoạt động bí mật thời bấy giờ dựa vào chỗ thuận lợi của thiên nhiên mà sắp xếp lại, làm thành bàn đá, có thể ngồi viết được vào những ngày mát trời… - Diên ơi đừng nói nữa, điều đó tôi đã được biết cả rồi! Huy tự nhiên thầm kêu lên trong im lặng. Như cảm thông được ý nghĩ của anh, đột nhiên Diên cũng lặng im. Cô cảm thấy những lời giới thiệu của mình bây giờ là thừa. Và trong im lặng, Huy nghe ra tiếng rừng đang nói, dịu dàng, thắm thiết: - Đồng chí biết đấy! Đồng chí đang đứng trước bàn đá của lịch sử. Cái bàn bằng đá mà không là của thời kỳ đồ đá. Ở đây, Bác đã ngồi dịch sử Đảng sau những cơn sốt. Sau lưng Bác là những biến động của gần cả một thế kỷ đầy đau khổ nhưng cũng đầy hy vọng. Và chính Bác cũng đã làm lịch sử thay đổi từ những bước đi ban đầu, ở cái bàn đá giản dị nầy, bằng trí tuệ và trí thức của mình, bằng khát vọng và tâm hồn của mình. Theo Bác, cả một dân tộc đã vươn mình đứng dậy. Pác Bó … Tân Trào… Hà Nội… Điện Biên Phủ… những ngày đánh Mỹ hôm qua… Phút giờ yên tĩnh hôm nay… Không nén được cảm xúc, Huy bỗng quỳ xuống đất, gục xuống mặt bàn đá mát lạnh nức nở khóc. Tôn trọng sự xúc động của bạn, An cũng đứng lặng yên. Lát sau, Huy ngẩng lên, anh bỗng bắt gặp hai giọt nước mắt đang lặng lẽ rung rinh trong khóe mắt của Diên, chập chờn nửa muốn tan đi, nửa muốn rời lăn xuống má. Diên ngượng ngùng quay đi, lấy mù soa lau nhanh nước mắt. - Em đã đưa nhiều khách tham quan đi thăm Pác Bó. Đến chỗ bàn đá này, ai cũng cảm động… Bây giờ đến lượt An giục: - Chúng ta vào hang thôi! Núi sắp ăn hết mặt trời rồi! Đêm đó, trở về phòng khách, Huy hỏi mượn Diên tất cả các tập lưu niệm đã có ở nhà bảo tàng, ngồi đọc cho đến khuya. Xong đâu đấy, anh lấy bút ngồi ghi những cảm tưởng của mình dưới dạng một chùm tứ tuyệt vào cuốn lưu niệm gần nhất. Anh đâu biết, ở phòng trên, cô hướng dẫn cũng bắt đầu chú ý đến người tham quan đã thức gần trắng đêm sau một ngày đi đường, đạp xe và leo núi vất vả. Sáng hôm sau, trên đường về, mải trò chuyện với An, anh ít có dịp nói chuyện với cô bạn mới quen. Chả là Diên đi xe đạp đường xa không bằng cánh đàn ông nên cứ bị tụt lại. Mỗi khi lên dốc, Huy và An lại phải xuống xe đứng đợi. Một lần, đợi Diên lên đến nơi, An trêu: - Con gái Việt Bắc gì mà lên dốc kém thế! Và Huy đã bênh vực Diên: - Bây giờ bỏ xe, leo núi, chúng mình chưa chắc đã theo kịp cô ấy! Có một lúc, Huy để cho An đạp lên trước, lùi xuống kèm Diên một đoạn đường, bắt chuyện với Diên để có dịp hiểu thêm về đời sống một cô cán bộ miền núi. Qua chặng đường đó, Huy được biết Diên có một quãng đời rõ ràng và trong sáng như nhiều cô gái miền núi khác lớn lên sau cách mạng tháng Tám: bé, học ở trường làng, tốt nghiệp cấp hai ở trường huyện, tiếp tục học chuyên nghiệp ở tỉnh rồi đi cán bộ. Tự hào về truyền thống cách mạng của quê hương, cô xin đi sâu vào ngành bảo tồn bảo tàng và chuyên trách giới thiệu các thời kỳ hoạt động của Bác ở Việt Bắc. Cô gái Nùng hai mươi tuổi ấy chưa có người yêu… Câu chuyện chỉ dừng tới đó. Và cũng chỉ chừng đó. Huy biết ở Diên, một trong nhiều người anh từng tiếp xúc, trên đường dài công tác của mình. Về đến Cao Bằng họ chia tay nhau. Anh bạn trở về trường vừa dạy vừa làm ở huyện, Diên theo công việc ở ty Văn hoá, còn anh, anh phải ra bến xe ô-tô lấy vé đi Lạng Sơn để từ đó xuôi tàu về Hà Nội. Đợt đi Cao Bằng đã mang về cho anh một chùm thơ cùng vài kỷ niệm nhẹ nhàng… Giờ thì đây, trước mắt Huy là cô bé thuyết minh hồn nhiên dễ thương mười năm về trước. Cô bé ấy đã lớn lên nhiều đến nỗi anh không nhận ra. - Cô Diên vẫn công tác ở nhà bảo tàng Pác Bó từ ấy đến nay chứ? - Nhiều thăng trầm lắm anh ạ. Không ngờ rồi chỗ chúng em cũng bom đạn như vùng đất anh ở hôm qua. Tất nhiên là không ác liệt bằng chỗ các anh trong ấy. Trong óc Huy bỗng hiện lên những ngày tháng hai, tháng ba năm 79. Bọn phản động Bắc Kinh hùng hổ xục quân đánh phá một số tỉnh ở biên giới phía Bắc. Chúng đã đặt chân đến vùng Hà Quảng, Hòa An, đã xúc phạm vùng di tích Pác Bó … Mốc biên giới 108, chỗ Bác dừng chân trên đường về nước bị chúng bứng đi đem chôn vào chỗ khác để lấn đất. Từ đấy, đại bác của chúng câu vào Bó Bũm, bản Hoàng… Máu đã loang bờ suối Lê-nin. Nhà bảo tàng Pác Bó bị đánh sập! - Dạo đó chúng em phải sơ tán một phần nhà Bảo tàng về tận dưới Hà Nội. Còn thiếu chi là khó khăn gian khổ hở anh! Nhưng rồi cũng xong tất. Ngay cả tấm bàn thạch cũng được dời đi. Cả mẩu tượng Mác, Bác khắc ở trong hang đá. Nay đã lại chuyển trở về trên ấy một ít. Dù không được hoàn chỉnh như thời anh về thăm, Pác Bó vẫn phải là Pác Bó chứ anh! Ngừng một lát. Diên kể tiếp: - Sau đợt sơ tán lịch sử đó- chúng em vẫn gọi đùa với nhau đó là một cuộc sơ tán của lịch sử - em được ty Văn hoá Cao Bằng giới thiệu lên Bộ theo học lớp chuyên tu nầy. Bỗng như sực nhớ, anh quay sang hỏi Diên: - À, mà cô Diên nầy, dạo này hoa kim anh vẫn còn nở nhiều trên đường vào hang Pác Bó đấy chứ? Đôi mắt Diên trở nên mơ màng: - Nó vẫn nở đấy, anh ạ! Thứ hoa kể cũng thật lạ - Nó nở khắp nơi. Trắng núi, trắng rừng. Trên bụi bờ, trên mặt đất, mặt đá. Ngày xưa, lúc Bác về, nó đã nở. Cứ đến mùa xuân, nó lại nở. Nó sẽ nở hết năm này qua năm khác… Chúng em vẫn gọi hoa Kim Anh là hoa mùa xuân đấy mà… Trên đường tiễn Huy ra về, Trường đi sát bên anh, nhỏ giọng: - Anh biết không? Chuyện anh khóc trước bàn đá ở hang Pác Bó, cô Diên đã kể hết cho tôi nghe. Và cô cũng đã tự thú với tôi như thế nầy: Chính anh, anh đã làm cô ấy yêu thêm nghề của mình, một điều mà chắc chắn anh không hề ngờ tới? Huy không trả lời bạn. Anh thong thả bước từng bước dài. Trước mắt anh núi rừng Pác Bó đang sáng rực trong nắng chiều sắc hoa Kim Anh. X.H. (5/2-84) |
Tải mã QRCode
TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.
HOÀNG QUỐC HẢI Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.
JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).
PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.
PHẠM THỊ CÚC KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.
THÁI VŨ Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.
PHƯƠNG HÀ (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.
LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.
PHẠM THỊ CÚC Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…
LÊ VĨNH THÁI Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.
TRƯƠNG ĐÌNH MINH Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...
DƯƠNG PHƯỚC THU Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.
ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.
TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.
PHẠM THỊ ANH NGA Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.
TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.
CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...
NGUYỄN HỮU THÔNG Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò
TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)