Hồi dôn

08:43 09/06/2025
1. Tôi được nàng chọn và đưa về. Đó là một sự may mắn mà may mắn không thì chưa biết nhưng ít nhất cũng rời được tay một bà già. Với chừng đó thôi, lòng cũng đủ sướng rơn.

Nàng nhẹ nhàng nâng và dùng bàn tay con gái vuốt ve, tôi dâng trào cảm xúc. Tôi mơ màng, muốn tan ra bởi đôi mắt to, đen. Đôi mắt ướt, đa tình...

Chuyện tình nàng Thuận quả là truân chuyên. Nàng mến thương một người nhưng cha mẹ lại bán gả cho một gã khác. Gã đó được cái mã bên ngoài: cao ráo, trắng trẻo... Gã mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được ông bác họ giàu có cưu mang. Trong vùng, gã được xem là công tử bột; công tử bột với nghĩa giàu có song không làm được việc gì.

Nàng phải lấy chồng theo ý cha mẹ. Cha mẹ nàng là bạn thân với ông Tùng, bác của gã. Họ quen biết, cảm mến nhau từ trước nên “râu ngúc” và chọn ngày lành tháng tốt, bỏ qua mai mối lệ thường.

Lệ thường, từ chối mai dong là dễ, từ chối ý cha mẹ thật khó. Khó vì đó là cãi lời, trái lệnh.

- Chừ răng? Ý ba, mạ là rứa! - Cha nàng hỏi nhưng như đã trả lời, ông ngồi trong cùng mui, trước án thờ nhìn con gái một cách nghiêm nghị. 

- Dạ thưa ba, thưa mạ! Chữ hiếu làm đầu, con muốn ở cùng với ba mạ một thời gian nữa, con chưa muốn lấy chồng.

- Chưa chi nữa con ơi! Ba mạ có phần ba mạ, con gái có lứa có thì. Hâm rồi đó, hâm đi hâm lại rồi, biết không? - Mẹ nàng ngồi gần nàng nói với vẻ lo lắng. Mắt bà như nhòe đi vì dòng lệ cay. Bà cúi xuống, vén vạt quần lên lau.

- Hiếu! Đám ni là theo yêu cầu của con rồi, nó mồ côi nên về ở rể. - Cha nàng đăm chiêu nói rồi ông với tay tìm điếu thuốc lá để vấn.

Câu chuyện tối ở gia đình nàng xem như xong. “Nay mai ba mạ sẽ nhận cau trầu, mình sẽ là vợ người ta”. Nàng bước ra ngoài mui nén tiếng thở dài; mắt nhìn phía trời tây, nửa vầng thượng huyền cong như chiếc thuyền nan lơ lửng trôi. Sông in vạn vì sao và ánh lên những lân tinh. Song, ánh sắc kia đâu là thật, đâu là mơ? Sóng nhấp nhô vỗ mạn đò; lòng nàng cũng sóng. Người thương ơi, nay người tình phụ.

2.

Nàng đặt tôi ngồi vào bóng râm. Một hành động nho nhỏ thế thôi cũng đủ biết nàng quý mến. Nàng sợ tôi khát, sợ tôi úa nhàu. “Chắc nàng mong mình ra mắt người nhà nàng với dáng vẻ tươi tắn nhất”, tôi nghĩ và đóng mọi giác quan, hướng vào lòng lâng lâng.

Nàng vốc nhẹ mái chầm đưa chiếc thuyền dọc theo con hói ra sông. Thuyền lướt nhẹ chỉ đủ gợn sóng lay lay đám cỏ ven bờ. Tiếp bờ, là cánh đồng tháng năm bỏ hoang. Ở đó, đàn trâu tha hồ gặm cỏ, chim trời tha hồ tung bay. Sự tung bay ướm thử với mây trời, khao khát vươn tới tận cao xanh. Một cánh chim trắng rơi bóng trước mũi thuyền tạo ra dấu chấm than tuyệt đẹp.

Dấu chấm than bỗng quay ngang, nàng thả trôi thuyền và tìm đến tôi. Tìm đến như một sự chợt nhớ? Không! Là một chủ ý, có kế hoạch từ trước. Trong ý nghĩ người con gái đẹp, người con gái đã được chồng dạm hỏi song cuộc hôn nhân có nguy cơ rạn vỡ. Tình duyên, đôi khi rạn nứt không vì những lý do to tát mà nó đến từ những điều vô cùng nhỏ nhặt. Kiểu như khi ăn cơm mà nói quá nhiều và nói vấn đề không hợp vệ sinh; khi ngủ lệch giờ hoặc làm phiền giấc nhau; khi chơi cùng cảm thấy không vui…

Có lần như vầy, gã sang làm rể nhà nàng. Không biết sao đó, nàng nấu cơm bị khê. Khi bữa cơm dọn lên bị mẹ chê đã đành, gã cũng “bồi”:

- Chà, nấu cơm kiểu ni về làm dâu a bị gõ to đầu. Cơm ni thì cho chó cũng không ăn? - Gã vừa nói vừa cầm đôi đũa gõ gõ vào bát cơm mới đơm ra đặt trước mâm.

- Ừ, nấu như ri thì... nhưng con nói chó không ăn là không được. - Mẹ nàng giận nhưng giữ thái độ bao dung.

Cha nàng chỉ im lặng nhìn rể, nhìn con gái rồi và vội chén cơm tối. Nàng buồn lắm song trước mặt cha mẹ, nàng chỉ vờ như không. Nàng sẽ nói với gã vào tối khi hai người cùng nhau kéo rớ.

Chồ rớ giàn cách vạn đò không quá ba trăm mét. Tối hôm đó, cha nàng cố ý để con gái và rể ra làm rớ, xem như là cơ hội cho gã làm rể. Lúc nàng loay hoay lấy bịch dầu, rót thêm chai nước, lấy chiếc áo tay dài, thì gã cầm cây chầm ngắn nhảy qua thuyền ngồi chễm chệ đầu mũi, lên giọng thúc:

- Lẹ lên, chậm như rùa, qua quạng mới thắp đèn thì có mà ấp om!

Nàng bước xuống thuyền bơi mà lòng buồn rượi. “Mới dạm hỏi bữa hôm, bữa mai mà đã ri rồi. Một ngày mà chê mình mấy bận...”. Chiếc thuyền xô bơi thì có người trong vạn đò lên tiếng nói đổng: “Coi tề, đàn ông chi mà ngồi bơi mũi, coi bộ là thằng nhát rồi...”.

Đèn được nàng bơm đầy hơi, nhen lên rồi đem treo ở dây cột đèn. Ngọn măng sông sáng và tỏa hào quang. Nó như một sự mời mọc khéo léo khiến sự si mê của loài vây vi, giáp xác đến quần tụ và để rồi phải tái kiếp. Ánh sáng làm đôi mắt nàng huyền thêm lung linh, mộng mơ. Gã ngồi trên chồ đã không ít lần nhìn say đắm. Gã bắt chuyện song nàng vẫn im lặng. Nàng ngồi dưới thuyền buông neo cách chồ ba mét.

- Định làm mặt lạnh với tui à? - Gã lên tiếng có vẻ nhún nhường.

- Không!

- Rứa thì răng không nói chuyện?

- Tui không biết nói chuyện!

- Miệng để làm chi?

- Để ăn, nói chuyện với người hiểu biết! - Nàng cố ý khơi lại chuyện ăn cơm từ chiều hôm.

- Rứa là cho tui là người không biết chi à?

- Tui không nói rứa, tự ý thức. - Nàng lạnh lùng trả lời.

- À, khi hôm chừ tui có lỡ lời, tui xin lỗi!

- Không lỗi chi với tui hết. Về mà... - Nàng bỏ nửa chừng câu nói.

...

Tưởng được một đêm lãng mạn cho cặp vợ chồng trẻ cùng nhau tâm sự, tìm hiểu nhưng không ngờ là đối khẩu.

3.

Tôi ngồi và nhìn vẻ đẹp của nàng. Gương mặt trái xoan, nét đượm buồn như thiếu phụ góa chồng. Sống mũi cao thẳng, mày phượng thanh thanh. Tai đeo vành khuyên tròn nhỏ... Dưới chiếc nón cũ nhuốm màu nắng mưa là mái tóc dài duyên dáng. Nhìn người đẹp, tôi có trực giác đang cùng nàng đến thưa chuyện với bên nhà trai, cụ thể là người bác nuôi của gã. Thay vì cựa quậy từ chối thì tôi lại đồng tình nếu không nói là lấy làm vinh dự, vinh hạnh là đằng khác.

Nàng gặp người quen và nhắn gửi về gia đình rồi sang sông. Từ bờ nam nối bờ bắc là mặt sông ửng hồng, nhẹ sóng, mênh mông và sâu vợi. Ai đó bảo: “Dò sông dò bể dễ dò/ Mấy ai lấy thước mà đo lòng người”. Nàng của giây phút hiện tại cũng đắn đo, dự thảo rất nhiều bởi sắp đối diện với sự kiện quan trọng trong đời.

Nàng nhớ hôm trước, gã mới bước qua đò nàng, gã đã dõng dạc:

- Mai bác tui qua để xin lỗi - Gã nói với nàng rồi bước vô trong mui thưa với cha nàng:

- Thưa ba, mai cho bác con qua để xin lỗi ba mạ và vợ con.

- Có chuyện chi mà phải xin lỗi? Ba mạ có bắt lỗi chi mô?

- Dạ là...

Gã một thôi một hồi kể về vợ mình không chịu nói chuyện, làm mặt lạnh, nói lời khó chịu, bắt bẻ, đòi chia tay vì không thể sống... Gã nịnh với cha vợ. Cha nàng nghe và thương rể nên ngăm nghiến con gái. Thế là gã tỏ ra đắc ý, lên mặt. Tối đó, gã cùng nàng lại ra kéo rớ. Đêm đầu hạ trời đầy sao song trong lòng nàng vẫn thấy u ám như đông.

- Tui kể với bác tui rồi! Bác nói là con mọi rớ thì làm chi kiêu rứa!

- Tui là đồ mọi thì lấy tui về làm chi? Có phải nên bỏ nhau đi không? - Nàng giận song vẫn giữ bình tĩnh.

- Không, bác tui nói phải lấy cho bằng được Thuận để coi răng; cưới xong mới biết “tay anh, tay ả”. - Gã nửa thật thà, nửa hăm.

- A, thì mọi chuyện tui nói là về kể với bác hết? Bác là người lớn lo chuyện đại sự chớ hơi mô lo chuyện vợ chồng vô nghĩa ni. - Ý nàng muốn chê gã trẻ con, trách người bác lo chuyện bao đồng.

- Nói rứa, xem tui là chồng à. Tui phải kể mới nhờ bác dạy để sang đấu lý chơ.

Thực ra, nói gã dại thì không dại, khôn cũng không khôn. Gã kiểu người: “Khôn nói không lại, dại nói không qua”. Gã cứ ương ương, liều lém lỉnh rồi tự cho mình là thông minh. Điều này làm nàng chán nản song không muốn nói với ai. Hằng đêm đối diện với ngọn đèn rớ sáng mà cảm giác bóng tối cứ vây quanh. Nàng tìm đến những nhân vật trong tiểu thuyết, nhân vật trong các tuồng cải lương, hát bội mà tự phân giải lấy lời.

Rồi một buổi sáng, cha mẹ nàng la mắng nàng rất dữ. Họ bảo nếu không chịu lấy gã thì…; “muốn chi được nấy, cưng chiều quá nên hư”; “muốn ở rể, người ta đã đồng ý rồi còn đòi bỏ với hồi”... Cha nàng lấy cây roi kêu nàng nằm sấp lại đánh đòn. Bị ép đến cay nghiệt, nàng rút cây mác dắt gần chạn bếp bỏ trước mặt cha mình và thưa:

- Ba muốn thì cho con một lát cho chết chớ con không chịu la mắng, đánh đập như ri. Con không sai, cũng không muốn lấy người đàn ông không có chính kiến.

Thấy con cứng rắn quyết tâm, cha nàng bỏ đi tới mũi đò. Mẹ nàng cất cây mác và mắng con: “Chị, chị đừng có mà liều”. “Con thà chết vinh còn hơn”. “Vinh với chả nhục! Coi đi nấu nước cho mạ”.

...

Gã đưa ông Tùng qua thật. Khay cau trầu rượu được bày ra với bao lời trịnh trọng, có câu:

- Con dại cái mang, mọi lỗi của con xin hai bác tha cho và hãy uống ly rượu, ăn miếng trầu ni đặng bề tui xin lỗi cho phải phép.

Cha và mẹ nàng định với tay nhận thì nàng từ ngoài mui đò bước vào, quỳ xuống thưa:

- Dạ thưa bác, thưa ba mạ, cho con có lời ni đã!

- Ba mạ và bác cho phép, con nói đi! - Cha nàng nói.

- Thưa bác, thưa ba mạ. Bác và ba mạ muốn nên duyên, tốt đẹp cho vợ chồng con mới có khay trầu, chén rượu ni. Con đội ơn bác và ba mạ nhưng... ba mạ không được uống rượu, ăn miếng trầu ni.

- Rứa là cháu không cho bác thay mặt chồng cháu xin lỗi hay răng mà không cho hai bác nhận trầu rượu? - Ông Tùng vặn hỏi.

- Thưa bác, không phải. Rể đến nhà ông gia năm việc làm một, mười lời nói một. Dâu về nhà chồng việc một làm đôi, lời một nói thành ba mới nên gia sự. Năng nói ắt vấp. Nếu bác mang khay trầu xin lỗi thì mai sau về làm dâu, ba mạ cháu làm răng đủ trầu, rượu để xin phải, trái được. Nên...

- Hiểu rồi, hiểu rồi! Con nó nói đúng bác hè? Thanh niên thời nay tiến bộ.

Một chuyến đi xin lỗi với ý định mách khéo của ông Tùng không thành. Thế là, gã đưa ông ta về. Dù vậy, ông ta cũng vòi vĩnh thêm cha mẹ nàng phải thương thằng cháu dại; nhận làm rể không được thì nhận làm con nuôi để dạy bảo thêm vì “nó không có ba mạ, hãy thương xót”...

4.

Bơi non giữa sông, cuối múi que sáo, nàng níu vào đó và mở rổ lấy trầu ra têm, lấy cau bổ, rồi khoác chiếc áo dài... Lòng choáng bởi sự thay đổi của nàng, đúng như câu nói “Người đẹp vì lụa”. Một gái quê mộc mạc trong chốc lát biến hình thành cô gái thướt tha với tà áo dài tím biếc. Nàng soi mặt xuống dòng sông vuốt kẹp lại mái tóc. Đàn cá đối mòn chạy đua bỗng gặp chướng ngại vật, chúng nhảy phà lên không trung rồi rơi xuống như mưa. Chiếc thuyền nàng hứng được mấy con. Nàng nhẹ nhàng bắt từng con cá thả đi và nhìn theo chúng vẫy đuôi tạm biệt. “Dù răng, nó cũng là một sinh mệnh”.

Nàng quý sinh mạng cho từng con vật nhỏ thế mà mạng mình, nàng cũng không cần. Nàng quyết tâm tự tử mấy lần. Lần thứ nhất uống mật cá nóc biển, lần thứ hai níu ở gốc sào dưới nước; ngột thở tự động buông tay trồi lên. Lần thứ ba thì khác.

Nàng mở tủ lấy xem lại bức ảnh gia đình, gấp lại hai bộ áo quần mới của cha, hai bộ của mẹ; một bộ có ý cho chị gái đã lấy chồng và một bộ cho đứa cháu gọi bằng dì ruột... Đọc lại bức thư lần cuối:

“... Trời Phật cho con được là con của ba mạ. Con hạnh phúc và tự hào. Nếu có kiếp sau, con cũng nguyện làm con để đền đáp công sinh thành dưỡng dục. Kiếp ni con đành làm đứa con bất hiếu. Con sống thì phải lấy chồng; chồng mà không biết đối nhân xử thế thì phải làm răng? Con xin hồi bỏ thì ba mạ không cho. Hồi bỏ thì ba mạ bị mất lòng với họ hàng, với thông gia. Con đã khiến ba mạ buồn phiền, họ hàng cười chê... Nên con chọn cách giải thoát, con sẽ về với Đức Quán Thế Âm. Người sẽ dẫn con đi.

Cúi lạy ba mạ vạn lần. À, ít vàng, bạc trong tủ áo quần là của con dành dụm làm vốn liếng lâu ni. Con để lại ba mạ khi cần về sau. Nước mắt con chảy nhiều quá không viết được nữa... Con...”.

Đặt lại mọi thứ ngăn nắp, trải chiếc chiếu ra mặt ván đò và đổ hai gói thuốc chuột vào chén. Cái chén trắng viền xanh, có hình ông Tiên. “Bữa cơm sau mình không dùng cái chén ni rồi, uống xong mình thả nó qua lỗ mui. Rứa là ba mạ đi kỵ về cũng tưởng mình đắp chiếu nằm ngủ...”, nàng nghĩ.

Ý đã định. Nàng nâng chén uống với vẻ thiêng liêng và tinh tấn chưa từng có. Mọi sự đã buông, cuộc sống vốn vô vi, vô thường thì trở về cát bụi. Đời người là một hơi thở, thậm chí chỉ là ý niệm vừa khởi sinh đã diệt. Thứ bột có màu xanh được pha với ít nước thành hỗn hợp trông khá đẹp mắt. Nó sóng sánh nhưng rất khó nuốt, nàng húp vào một ngụm thì đã cứng đơ hàm, nghẹn ứ cổ họng. Lưỡi tê cứng, buồn nôn, khó thở... năm giác quan “co quắp” rồi dần thu lại.

Ánh sáng qua khe hở chiếc chiếu thêu dệt nên những đốm lân tinh. Mỗi đốm hóa thành một cửa sổ nhìn ra phía cửa mui. Ngoài mui là khoảng trời xuân vào độ sắp rét nàng Bân. Không gian bao la bị quán xuyến bởi mây mù. Gió đông bắc sót lại đâu đó xô đẩy dòng sông; con sóng tìm bờ, bên bãi bờ là vạn đò đang bình yên với cuộc sống đời thường. Tiếng dân gian ám vọng, hồi tưởng, mơ hồ rồi chẳng còn biết gì, nàng ngủ.

Ngủ vùi, ngủ sâu, “ngủ như chết”... Có phút giây con tim đã ngừng đập.

- Này em, răng mà dại dột thế. Có chi thì nói. Ta sẽ giúp đỡ cho chứ!? - Người đàn bà có khuôn mặt thánh thiện trong bộ áo nâu cầm tay người ốm và nói.

- D... a... ạ? - Người ốm mở mắt hiểu được có người đang động viên, có bác sĩ đang xem mạch, điều trị cho mình.

- Thuốc đây, uống nghen! - Người đàn bà mặc áo lam mang ly thuốc tới đưa cho người mặc áo nâu.

Một cảm giác thân quen, an ủi, sẻ chia và cứu chữa. Thuốc trong ly không màu, không mùi, không vị; chỉ thấy sau khi uống vào mát rượi cổ họng, lan dần ra mọi tế bào, mọi nơ-ron. Từng vi mạch thôi thúc, “trở giấc”... Hình ảnh, không! Là cái bóng. Không phải cái bóng. Là cái đồng dạng với thể xác. Cái đồng dạng kia có thể là hạt “alpha” hay “beta” nào đó xuyên qua vật chất mang linh hồn. Linh hồn trở về với thể xác. Nàng tỉnh lại.

5.

Đến bờ sông phía bắc, nơi xóm nhỏ có nhà ông Tùng, tôi được nàng “kéo theo” để làm “bia đỡ đạn”. Biết hôm nay, mình không thể trốn chạy nên sẵn sàng đón nhận mọi việc. Tôi chủ động đứng, ngồi... thấy mình linh hoạt hẳn. Tôi mến, thương nàng rồi thì phải? Tâm can tôi mong nàng thuận buồm xuôi gió.

Xóm Đá rộn lên vì tiếng trẻ con gọi nhau, trong chúng có vài đứa cởi trần, chân không dép. Chúng cứ bước mặc nhiên in dấu xuống cát. Chúng chưa bao giờ thấy một cô gái lạ mặt đẹp như vậy, thì phải. Nàng bưng trên tay chiếc khay bước đi tha thướt. Vài người đàn bà thấy thế, họ hỏi dò tin. Cụ bà cạnh bên đường hỏi vọng: “Có chuyện chi là lạ rứa bây? Mệ sang coi coi việc chi”. Ông Tùng ở trong nhà nói với vợ mấy câu gì đó rồi ra mở cửa.

Nàng vòng xuống cửa nhà lều đi lên, đặt khay trầu giữa phản nhà lớn. Lúc này trên phản, bác trai của gã ngồi xếp bàn góc trên, cụ già lúc nãy được mời ngồi lên; bác gái của gã lật đật đặt khay trà và lại ngồi ở chiếc giường căn dưới. Ngôi nhà ba gian của ông Tùng bỗng trở nên trịnh trọng, nghiêm trang đến lạ. Ngoài đường, mấy người phụ nữ đang đi tới, trẻ con nhòm qua song cửa sổ... Có tiếng ai đó bảo: “Đừng ồn mấy đứa, để mà nghe”. Nàng đứng vòng tay thưa:

- Dạ thưa hai bác, thưa mệ, thưa mấy dì, mấy chị! Hôm ni...

Nàng chưa nói hết câu thì có người “giật giọng”: “Chi rứa, khoan đã...”. Tiếng của một thanh niên từ ngoài xóm chạy vào. Đó không ai khác là gã. Gã đã lơ mơ hiểu ra có chuyện, “rứa là qua nhà bác hồi thiệt”. Gã hấp tấp vừa thở, vừa nói:

- Có chi thì nói với nhau, làm chi phải đem cau trầu qua đây?

- Dạ, đúng rồi! Có gì thì vợ chồng nói sau còn chừ đây em đang thưa chuyện với hai bác đã! - Nàng đổi giọng xưng hô ngọt lịch sự.

Ông bác thấy thế liền cắt ngang lời và liếc mắt ra hiệu gã dừng nói. Ông lên tiếng:

- Có chuyện chi cháu nói tiếp đi! - Ông ta vờ chưa hiểu chuyện mặc dù trong lòng đã nghe gã mách báo từ tuần trước.

- Dạ thưa hôm ni cháu qua đây, trước tiên là cháu cảm ơn hai bác đã “kết tóc se tơ” cho vợ chồng cháu. Vợ chồng cháu đội ơn không hết nhưng vì duyên chúng cháu không lành, không ngọt nên cháu vô cùng tạ lỗi. Chừ mời hai bác dùng trầu rượu xong cháu mới dám thưa tiếp.

- Được rồi! Nhưng chuyện vui thì bác nghe, chuyện buồn là bác không nghe, còn chuyện quan trọng là phải có người lớn!

- Dạ thưa bác cho phép thì cháu thưa. Chuyện có nửa vui và nửa buồn. Chuyện rất quan trọng dù không có người lớn nhưng có người trong cuộc, thiết nghĩ đã đủ ạ.

- Chi mà nửa này nửa tê, lại có người quan trọng hơn? Nói bác nghe!

Có tiếng xì xào, lao xao ngoài nhà, bà cụ lúc nãy giờ im lặng giờ mới lên tiếng:

- Tui sống bảy mươi năm ni mới lần đầu thấy dâu chưa cưới mà đến thưa chuyện với người lớn bên họ nhà trai ri a nả. Tui nghe mà háo hức lắm. - Bà cầm miếng trầu nơi tay, tỏ vẻ chờ đợi.

- Dạ thưa, rứa là bác chấp nhận lời thưa của cháu hôm ni!

- Ừ.

- Dạ thưa, sau lời cảm ơn, lời tạ lỗi thì cháu xin bác chấp thuận cho cháu và chồng cháu bỏ nhau vì duyên tụi cháu ngang đây là hết. Nửa buồn là tụi cháu xa nhau; nửa vui là tự do trả lại cho hai đứa khi không còn tình nghĩa. Còn người trong cuộc thì bác đã biết; cha mẹ sống một thời còn đời, tụi cháu mới là trong cuộc lâu dài nên...

- Bỏ nhau? Cháu nói là cháu bỏ chồng, hồi dôn?

- Dạ cháu xin hồi ạ.

- Không được, không được, không được! - Ông tỏ vẻ nghiêm trọng.

- Dạ, vì răng thưa bác?

- Thứ nhất là không có anh chị bên nhà. Thứ hai, ý kiến của chồng cháu. Thứ ba, có câu: “Trai bỏ vợ không tốn một đồng, gái bỏ chồng đền một gấp đôi”.

- Thứ nhất, cháu được lệnh ba mạ rồi, không có ba mạ nhưng được lệnh xem như được phép. Thứ hai, chồng cháu chỉ một nửa thôi vì trong đó có cháu một nửa. Thứ ba, cháu sẽ đền gấp ba. - Nàng trả lời từ tốn nhưng dứt khoát.

Mọi người có mặt ở đó tỏ ra ngạc nhiên vì lý luận sắc sảo. Gã tỏ ra không đồng ý nhưng phải chấp nhận nghe tiếp. Ông Tùng cũng ngạc nhiên, ông hỏi:

- Cháu định trả... Thử tính công làm rể trong gần hai năm, ít nhất là năm mươi ngày công; sính lễ đi hỏi, đi dạm, lễ đi tết, hiếu kỵ, cả công sức, tổn thất tinh thần...

6.

Tôi vẫn im lặng lắng nghe cuộc thưa chuyện hồi dôn của nàng. Ông Tùng là người quắc thước và nhiều lý lẽ. Song, ông càng bắt bẻ thì nàng càng thể hiện khôn khéo. Má nàng ửng hồng song sự điềm tĩnh của nàng làm lòng tôi mến mộ, ấn tượng. Tôi muốn giúp cho nàng “một tay” song...

Cách tính trả của, nàng thật khéo. Công người làm ba đồng, công rể chỉ một. Người làm công ăn một bữa, rể ăn ba. Người làm công làm không nghỉ, rể làm luôn ngơi. Khi yêu thương nhìn nhau là hạnh phúc, hạnh phúc đáng bạc, đáng vàng; khi không yêu nhìn nhau làm tổn thương, đau khổ. “Cứ tính mỗi ngày anh nhìn 10 lần, mỗi lần tổn thương tính ba hào. Mỗi ngày làm rể, anh đã nợ gấp đôi tiền công. Cơm người làm công gạo lứt, cá khô; cơm rể gạo trắng, cá tươi. Ngoài ra, phải tính nữ trang, nữ hạnh khi gái đã bị có chồng,”...

Ông Tùng đuối lý nên chuyển:

- Nếu tính rứa thì bác phải trả thêm tiền bạc, của cải cho cháu rồi! Nói đi thì phải nói lại. Cứ để thời gian mà tìm hiểu nhau thêm, biết đâu hai đứa còn... Chứ thời chừ, con trai quá dễ tìm vợ. Bác sợ thù hèm về sau. - Ý ông ta đánh giá cao về con trai, cả đe dọa về vũ lực.

- Dạ thưa, thời đại thì thanh niên luôn là thời đại. Thế giới đang tiến đến văn minh bình đẳng nam nữ rồi. Dạ, nữ thì chỉ một đời là hết, còn nam thì tận mười đời nên chuyện con gái có mất mát đi thì gia đình không ảnh hưởng chi ạ!

...

Nàng bước xuống thuyền bơi về để lại nhiều lời bàn tán sau lưng. Gã đau lòng nhưng đuối lý chỉ biết vợi trông người “sang sông”. Ông Tùng thở dài rồi đi lấy thuốc hút. Mọi người tản dần. Xóm Đá trở lại yên bình. Yên bình như ngàn năm, vạn năm nay luôn để nghe sóng biển sau lưng và sông trôi trước mặt.

Gió nồm từ biển thổi vào mát rượi, bay bay vạt áo dài. Gió đưa chiếc thuyền về bờ nam nhẹ tênh. Nắng vàng tươi nghiêng nghiêng chiều ra nhiều thi vị. Nụ cười ai thoáng hiện trên sông khiến bầy cá phải thả vây vi ngắm, chìm.

Sau đó, gã còn đến gia đình nàng mấy lần song không được tiếp đón. Ông Tùng có qua nói chuyện với cha mẹ nàng một lần. Rồi cuộc tình chia tay trong thầm lặng, làm lơ của hai bên gia đình. “Mặc cho bọn trẻ tự quyết”. “Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên”...

Duyên tôi cùng nàng bén từ buổi chợ hôm ấy. Cái buổi hôm ấy... buổi gì mà vấn vương đến vậy? “Vấn vương bởi ngọn trầu xanh/ Vấn vương bởi sự chưa thành... dứt duyên”; dứt đặng sự không thương, bỏ gã trai lì, xa kẻ cố “chịu đấm ăn xôi”... nàng thấy vui hơn, tìm lại được chính mình. Còn tôi, phiên bản ngọn trầu được quệt vôi trắng trong câu chuyện của nàng. Một lần cùng “sứ mệnh” hồi dôn cho người con gái sông quê, người con gái dám từ hôn để tìm tự do, tìm chân trời tươi mới cho mình.

Và rồi, trong triệu triệu phiên bản nào đó, nếu còn nhớ thì tôi vẫn sẽ kể lại câu chuyện này. Chiếc lá trầu cay, nàng mua buổi chợ sáng nao...

Đ.V.S
(TCSH435/05-2025)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.

  • PHAN TUẤN ANHLớp Lý trong một chiều nhốn nháo. Vài đứa con gái ngồi sụt sùi cho nhân vật nữ trong phim trên ti vi chết sớm và nguyền rủa đạo diễn như một tay giết người. Những đứa con trai thì tiếc rẻ cho một vài pha bóng hụt tối qua, để lại hậu quả là mất hẳn một "tháng lương" mà nhẽ ra đã có thể lĩnh sáng nay tại... chủ quán.

  • NGUYỄN VIỆT HOÀLGT: Khi ánh sáng phản chiếu từ mặt trái đồng tiền ùa vào cánh cửa làng mở rộng, “sức nóng” của nó gần như thiêu rụi mọi nền tảng đạo đức một bộ phận không nhỏ đám thượng lưu gồm cả quan viên hương lý. Căn bệnh mà tác giả Nguyễn Việt Hoà mổ xẻ trong truyện ngắn dưới đây, dẫu chưa cao tay để diệt bằng hết những vi-rút-làng, song việc ngăn chặn một đại dịch bắt đầu là có thể...S.H

  • TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…

  • NGUYỄN NGỌC LỢITôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

  • THÁI BÁ TÂN…Con chim hung dữ màu đen là trọng tâm của bức tranh, được ông giành hết tâm sức miêu tả rất sống động. Trong tranh, nó đang bám chân vào ngực Prômêtê, xoè hai cánh giữ thăng bằng, chiếc mỏ khoặm ngậm một miếng tim vừa moi từ lồng ngực khổng lồ của chàng…

  • NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNMọi người đến Huế với những lí do khác nhau. Riêng các văn nghệ sĩ thì thường đến để tìm cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên ý tưởng của mỗi người thì mỗi khác, chẳng ai giống ai. Họa sĩ Vĩnh Trung và nghệ sĩ Hải Lý là một trong những trường hợp như vậy.

  • XUÂN ĐÀIChuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

  • PHẠM THỊ XUÂNChị Xoan trở mình nhè nhẹ, sợ làm đứa cháu giật mình thức giấc. Chị quay mặt  vào tường như cố tránh cái ánh sáng xanh dịu phát ra từ ngọn đèn ngủ. Chị nhắm kín mắt nhưng vẫn không sao ngủ được. Đầu óc chị rối bời bao ý nghĩ. Có một cái gì day dứt, một cái gì tiếc nuối, một cái gì hẫng hụt vừa đi vào cuộc đời chị. Chị bỗng thấy lòng mình trống trải đến vô vị...

  • PHẠM THỊ XUÂNLGT: Ấn tượng của một nữ tác giả mới lần đầu tiên gửi tác phẩm đến cho TCSH thật khá đậm đà. Ấy là Phạm Thị Xuân, một phụ nữ ở độ tuổi đã qua thời thanh xuân, đang công tác tại một đơn vị y tế huyện Quảng Điền.

  • QUÝ THỂCó ai đến nhà chơi, bà cụ Tuần chỉ mép tấm phản gỗ mời ngồi, bà nói:- Giang sơn của "bầy choa" (chúng tôi) chỉ có chừng ni. Không ghế bàn, xa lông, sập gụ tủ chè chi cả, chịu khó ngồi đỡ, ông bà mô áo quần trắng trẻo sạch sẽ sợ dơ, thì ngồi lên đây. Bà cụ xoè cái quạt giấy cũ đã rách, lộ ra mấy cái nan tre lót cho khách ngồi. Nhưng không ai nỡ ngồi lên cái quạt giấy của cụ.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO...Sáng hôm ấy bà con xóm đạo đi lễ rất đông. Người ta nhìn thấy một vệt sao băng vào lúc trời tảng sáng. Họ cho rằng Chúa thấu hiểu được nỗi đau đang dày xéo trên thân thể Xoan. Nhưng cũng chính vì thế mà bố cô lại quay về làm chính con người liêm khiết hồi xưa. Thiên đường cũng có những con đường riêng để người ta sám hối.

  • XUÂN ĐÀI 1. Mỗi lần từ quê trở về Sài Gòn, sống bên chồng và hai đứa con, tôi không nguôi nhớ đến chị. Năm nay chị đã ngoài bốn mươi, không chồng, không con, lủi thủi ra vào trong ngôi nhà một gian hai chái. Ngôi nhà vừa được xây dựng cách đây gần ba năm bằng số tiền chị tằn tiện, chắt bóp mười mấy năm và tiền vợ chồng tôi phụ giúp chút đỉnh. Vài ba năm, vợ chồng con cái chúng tôi mới về thăm chị một lần. Chị mừng, chị vui, trò chuyện với các cháu suốt ngày. Chị quấn quýt lũ trẻ, lũ trẻ cũng quấn quýt chị.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNGNgày trăng tròn lẻ. Tháng Trung Thu năm Đại Bảo thứ 3.Người hai lưỡi bảo là ngày Sao Thổ phạm vào Thái Âm.Người ngắn lưỡi nói Sao Chổi mọc ở phương Tây.Người dài lưỡi bảo có tinh vượn đen ăn mặt trời, ngày Nhật thực, nếu không yểm kỹ sông Nhị đang nảy vàng ròng sẽ ngừng.Động đất.

  • VIỆT HÙNGTrước đây, anh là người lừng danh, một tay "cua - rơ khét tiếng" trên xa lộ. Đã một thời anh chỉ biết chiến thắng. Người ta từng mệnh danh, anh là người sinh ra để đua xe đạp, anh không hề có đối thủ. Anh xem thường sự chiến thắng của mình, cho nó là điều hiển nhiên. Anh coi ánh hào quang của vòng nguyệt quế chỉ có tác dụng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mình mà thôi. Bởi, không có nó, anh vẫn là một thần tượng chẳng gì "khuất phục nổi".

  • NGUYỄN THÁNH NGÃĐêm nay trăng nhão, không biết là đêm trăng gì. Ở xa nhìn về đồi Kà Mạ vẫn một khối đen sì. Nếu có ai nhướn mắt nhìn thật kỹ sẽ thấy cái khối đen sì ấy nhô lên như một cái đầu người đôi mắt lấp láy đom đóm. Thỉnh thoảng gió hất cái đầu tóc rối bù xù bay về phía ruộng. Tiếng chim cú kêu mỗi lúc một thê lương, ớn lạnh từng đốt xương sống...

  • THÁI BÁ TÂNTháng trước, ở phường B. thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm, nơi tôi về nghỉ hưu mấy năm nay, đã xẩy ra một vụ trọng án có nhiều tình tiết rất kỳ lạ, có thể nói bí ẩn không sao giải thích nổi, đến mức cuối cùng người ta quay sang cho rằng nhất định phải có yếu tố thần linh ma quỷ trong vụ này.

  • PHẠM THỊ ANH NGA                  Truyện ngắn...trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể nào biết được...

  • PHAN VĂN LỢIBuổi giao lưu và trao giải thưởng cho các tác giả đoạt giải trong cuộc thi viết truyện ngắn do Hội Nhà văn tổ chức đã tiến hành được gần nửa giờ. Gã nhấp nhỏm trên chiếc ghế kê phía sau cánh gà sân khấu, bồn chồn không yên. Chừng thông cảm với tâm trạng của gã, cô gái phục vụ mặc áo dài đỏ bưng tới cho gã ly nước, nhẹ nhàng nói: "Chú cứ yên tâm ngồi nghỉ cho khoẻ. Giải A bao giờ cũng trao cuối cùng, chú ạ!"