Nàng nhẹ nhàng nâng và dùng bàn tay con gái vuốt ve, tôi dâng trào cảm xúc. Tôi mơ màng, muốn tan ra bởi đôi mắt to, đen. Đôi mắt ướt, đa tình...
Chuyện tình nàng Thuận quả là truân chuyên. Nàng mến thương một người nhưng cha mẹ lại bán gả cho một gã khác. Gã đó được cái mã bên ngoài: cao ráo, trắng trẻo... Gã mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được ông bác họ giàu có cưu mang. Trong vùng, gã được xem là công tử bột; công tử bột với nghĩa giàu có song không làm được việc gì.
Nàng phải lấy chồng theo ý cha mẹ. Cha mẹ nàng là bạn thân với ông Tùng, bác của gã. Họ quen biết, cảm mến nhau từ trước nên “râu ngúc” và chọn ngày lành tháng tốt, bỏ qua mai mối lệ thường.
Lệ thường, từ chối mai dong là dễ, từ chối ý cha mẹ thật khó. Khó vì đó là cãi lời, trái lệnh.
- Chừ răng? Ý ba, mạ là rứa! - Cha nàng hỏi nhưng như đã trả lời, ông ngồi trong cùng mui, trước án thờ nhìn con gái một cách nghiêm nghị.
- Dạ thưa ba, thưa mạ! Chữ hiếu làm đầu, con muốn ở cùng với ba mạ một thời gian nữa, con chưa muốn lấy chồng.
- Chưa chi nữa con ơi! Ba mạ có phần ba mạ, con gái có lứa có thì. Hâm rồi đó, hâm đi hâm lại rồi, biết không? - Mẹ nàng ngồi gần nàng nói với vẻ lo lắng. Mắt bà như nhòe đi vì dòng lệ cay. Bà cúi xuống, vén vạt quần lên lau.
- Hiếu! Đám ni là theo yêu cầu của con rồi, nó mồ côi nên về ở rể. - Cha nàng đăm chiêu nói rồi ông với tay tìm điếu thuốc lá để vấn.
Câu chuyện tối ở gia đình nàng xem như xong. “Nay mai ba mạ sẽ nhận cau trầu, mình sẽ là vợ người ta”. Nàng bước ra ngoài mui nén tiếng thở dài; mắt nhìn phía trời tây, nửa vầng thượng huyền cong như chiếc thuyền nan lơ lửng trôi. Sông in vạn vì sao và ánh lên những lân tinh. Song, ánh sắc kia đâu là thật, đâu là mơ? Sóng nhấp nhô vỗ mạn đò; lòng nàng cũng sóng. Người thương ơi, nay người tình phụ.
2.
Nàng đặt tôi ngồi vào bóng râm. Một hành động nho nhỏ thế thôi cũng đủ biết nàng quý mến. Nàng sợ tôi khát, sợ tôi úa nhàu. “Chắc nàng mong mình ra mắt người nhà nàng với dáng vẻ tươi tắn nhất”, tôi nghĩ và đóng mọi giác quan, hướng vào lòng lâng lâng.
Nàng vốc nhẹ mái chầm đưa chiếc thuyền dọc theo con hói ra sông. Thuyền lướt nhẹ chỉ đủ gợn sóng lay lay đám cỏ ven bờ. Tiếp bờ, là cánh đồng tháng năm bỏ hoang. Ở đó, đàn trâu tha hồ gặm cỏ, chim trời tha hồ tung bay. Sự tung bay ướm thử với mây trời, khao khát vươn tới tận cao xanh. Một cánh chim trắng rơi bóng trước mũi thuyền tạo ra dấu chấm than tuyệt đẹp.
Dấu chấm than bỗng quay ngang, nàng thả trôi thuyền và tìm đến tôi. Tìm đến như một sự chợt nhớ? Không! Là một chủ ý, có kế hoạch từ trước. Trong ý nghĩ người con gái đẹp, người con gái đã được chồng dạm hỏi song cuộc hôn nhân có nguy cơ rạn vỡ. Tình duyên, đôi khi rạn nứt không vì những lý do to tát mà nó đến từ những điều vô cùng nhỏ nhặt. Kiểu như khi ăn cơm mà nói quá nhiều và nói vấn đề không hợp vệ sinh; khi ngủ lệch giờ hoặc làm phiền giấc nhau; khi chơi cùng cảm thấy không vui…
Có lần như vầy, gã sang làm rể nhà nàng. Không biết sao đó, nàng nấu cơm bị khê. Khi bữa cơm dọn lên bị mẹ chê đã đành, gã cũng “bồi”:
- Chà, nấu cơm kiểu ni về làm dâu a bị gõ to đầu. Cơm ni thì cho chó cũng không ăn? - Gã vừa nói vừa cầm đôi đũa gõ gõ vào bát cơm mới đơm ra đặt trước mâm.
- Ừ, nấu như ri thì... nhưng con nói chó không ăn là không được. - Mẹ nàng giận nhưng giữ thái độ bao dung.
Cha nàng chỉ im lặng nhìn rể, nhìn con gái rồi và vội chén cơm tối. Nàng buồn lắm song trước mặt cha mẹ, nàng chỉ vờ như không. Nàng sẽ nói với gã vào tối khi hai người cùng nhau kéo rớ.
Chồ rớ giàn cách vạn đò không quá ba trăm mét. Tối hôm đó, cha nàng cố ý để con gái và rể ra làm rớ, xem như là cơ hội cho gã làm rể. Lúc nàng loay hoay lấy bịch dầu, rót thêm chai nước, lấy chiếc áo tay dài, thì gã cầm cây chầm ngắn nhảy qua thuyền ngồi chễm chệ đầu mũi, lên giọng thúc:
- Lẹ lên, chậm như rùa, qua quạng mới thắp đèn thì có mà ấp om!
Nàng bước xuống thuyền bơi mà lòng buồn rượi. “Mới dạm hỏi bữa hôm, bữa mai mà đã ri rồi. Một ngày mà chê mình mấy bận...”. Chiếc thuyền xô bơi thì có người trong vạn đò lên tiếng nói đổng: “Coi tề, đàn ông chi mà ngồi bơi mũi, coi bộ là thằng nhát rồi...”.
Đèn được nàng bơm đầy hơi, nhen lên rồi đem treo ở dây cột đèn. Ngọn măng sông sáng và tỏa hào quang. Nó như một sự mời mọc khéo léo khiến sự si mê của loài vây vi, giáp xác đến quần tụ và để rồi phải tái kiếp. Ánh sáng làm đôi mắt nàng huyền thêm lung linh, mộng mơ. Gã ngồi trên chồ đã không ít lần nhìn say đắm. Gã bắt chuyện song nàng vẫn im lặng. Nàng ngồi dưới thuyền buông neo cách chồ ba mét.
- Định làm mặt lạnh với tui à? - Gã lên tiếng có vẻ nhún nhường.
- Không!
- Rứa thì răng không nói chuyện?
- Tui không biết nói chuyện!
- Miệng để làm chi?
- Để ăn, nói chuyện với người hiểu biết! - Nàng cố ý khơi lại chuyện ăn cơm từ chiều hôm.
- Rứa là cho tui là người không biết chi à?
- Tui không nói rứa, tự ý thức. - Nàng lạnh lùng trả lời.
- À, khi hôm chừ tui có lỡ lời, tui xin lỗi!
- Không lỗi chi với tui hết. Về mà... - Nàng bỏ nửa chừng câu nói.
...
Tưởng được một đêm lãng mạn cho cặp vợ chồng trẻ cùng nhau tâm sự, tìm hiểu nhưng không ngờ là đối khẩu.
3.
Tôi ngồi và nhìn vẻ đẹp của nàng. Gương mặt trái xoan, nét đượm buồn như thiếu phụ góa chồng. Sống mũi cao thẳng, mày phượng thanh thanh. Tai đeo vành khuyên tròn nhỏ... Dưới chiếc nón cũ nhuốm màu nắng mưa là mái tóc dài duyên dáng. Nhìn người đẹp, tôi có trực giác đang cùng nàng đến thưa chuyện với bên nhà trai, cụ thể là người bác nuôi của gã. Thay vì cựa quậy từ chối thì tôi lại đồng tình nếu không nói là lấy làm vinh dự, vinh hạnh là đằng khác.
Nàng gặp người quen và nhắn gửi về gia đình rồi sang sông. Từ bờ nam nối bờ bắc là mặt sông ửng hồng, nhẹ sóng, mênh mông và sâu vợi. Ai đó bảo: “Dò sông dò bể dễ dò/ Mấy ai lấy thước mà đo lòng người”. Nàng của giây phút hiện tại cũng đắn đo, dự thảo rất nhiều bởi sắp đối diện với sự kiện quan trọng trong đời.
Nàng nhớ hôm trước, gã mới bước qua đò nàng, gã đã dõng dạc:
- Mai bác tui qua để xin lỗi - Gã nói với nàng rồi bước vô trong mui thưa với cha nàng:
- Thưa ba, mai cho bác con qua để xin lỗi ba mạ và vợ con.
- Có chuyện chi mà phải xin lỗi? Ba mạ có bắt lỗi chi mô?
- Dạ là...
Gã một thôi một hồi kể về vợ mình không chịu nói chuyện, làm mặt lạnh, nói lời khó chịu, bắt bẻ, đòi chia tay vì không thể sống... Gã nịnh với cha vợ. Cha nàng nghe và thương rể nên ngăm nghiến con gái. Thế là gã tỏ ra đắc ý, lên mặt. Tối đó, gã cùng nàng lại ra kéo rớ. Đêm đầu hạ trời đầy sao song trong lòng nàng vẫn thấy u ám như đông.
- Tui kể với bác tui rồi! Bác nói là con mọi rớ thì làm chi kiêu rứa!
- Tui là đồ mọi thì lấy tui về làm chi? Có phải nên bỏ nhau đi không? - Nàng giận song vẫn giữ bình tĩnh.
- Không, bác tui nói phải lấy cho bằng được Thuận để coi răng; cưới xong mới biết “tay anh, tay ả”. - Gã nửa thật thà, nửa hăm.
- A, thì mọi chuyện tui nói là về kể với bác hết? Bác là người lớn lo chuyện đại sự chớ hơi mô lo chuyện vợ chồng vô nghĩa ni. - Ý nàng muốn chê gã trẻ con, trách người bác lo chuyện bao đồng.
- Nói rứa, xem tui là chồng à. Tui phải kể mới nhờ bác dạy để sang đấu lý chơ.
Thực ra, nói gã dại thì không dại, khôn cũng không khôn. Gã kiểu người: “Khôn nói không lại, dại nói không qua”. Gã cứ ương ương, liều lém lỉnh rồi tự cho mình là thông minh. Điều này làm nàng chán nản song không muốn nói với ai. Hằng đêm đối diện với ngọn đèn rớ sáng mà cảm giác bóng tối cứ vây quanh. Nàng tìm đến những nhân vật trong tiểu thuyết, nhân vật trong các tuồng cải lương, hát bội mà tự phân giải lấy lời.
Rồi một buổi sáng, cha mẹ nàng la mắng nàng rất dữ. Họ bảo nếu không chịu lấy gã thì…; “muốn chi được nấy, cưng chiều quá nên hư”; “muốn ở rể, người ta đã đồng ý rồi còn đòi bỏ với hồi”... Cha nàng lấy cây roi kêu nàng nằm sấp lại đánh đòn. Bị ép đến cay nghiệt, nàng rút cây mác dắt gần chạn bếp bỏ trước mặt cha mình và thưa:
- Ba muốn thì cho con một lát cho chết chớ con không chịu la mắng, đánh đập như ri. Con không sai, cũng không muốn lấy người đàn ông không có chính kiến.
Thấy con cứng rắn quyết tâm, cha nàng bỏ đi tới mũi đò. Mẹ nàng cất cây mác và mắng con: “Chị, chị đừng có mà liều”. “Con thà chết vinh còn hơn”. “Vinh với chả nhục! Coi đi nấu nước cho mạ”.
...
Gã đưa ông Tùng qua thật. Khay cau trầu rượu được bày ra với bao lời trịnh trọng, có câu:
- Con dại cái mang, mọi lỗi của con xin hai bác tha cho và hãy uống ly rượu, ăn miếng trầu ni đặng bề tui xin lỗi cho phải phép.
Cha và mẹ nàng định với tay nhận thì nàng từ ngoài mui đò bước vào, quỳ xuống thưa:
- Dạ thưa bác, thưa ba mạ, cho con có lời ni đã!
- Ba mạ và bác cho phép, con nói đi! - Cha nàng nói.
- Thưa bác, thưa ba mạ. Bác và ba mạ muốn nên duyên, tốt đẹp cho vợ chồng con mới có khay trầu, chén rượu ni. Con đội ơn bác và ba mạ nhưng... ba mạ không được uống rượu, ăn miếng trầu ni.
- Rứa là cháu không cho bác thay mặt chồng cháu xin lỗi hay răng mà không cho hai bác nhận trầu rượu? - Ông Tùng vặn hỏi.
- Thưa bác, không phải. Rể đến nhà ông gia năm việc làm một, mười lời nói một. Dâu về nhà chồng việc một làm đôi, lời một nói thành ba mới nên gia sự. Năng nói ắt vấp. Nếu bác mang khay trầu xin lỗi thì mai sau về làm dâu, ba mạ cháu làm răng đủ trầu, rượu để xin phải, trái được. Nên...
- Hiểu rồi, hiểu rồi! Con nó nói đúng bác hè? Thanh niên thời nay tiến bộ.
Một chuyến đi xin lỗi với ý định mách khéo của ông Tùng không thành. Thế là, gã đưa ông ta về. Dù vậy, ông ta cũng vòi vĩnh thêm cha mẹ nàng phải thương thằng cháu dại; nhận làm rể không được thì nhận làm con nuôi để dạy bảo thêm vì “nó không có ba mạ, hãy thương xót”...
4.
Bơi non giữa sông, cuối múi que sáo, nàng níu vào đó và mở rổ lấy trầu ra têm, lấy cau bổ, rồi khoác chiếc áo dài... Lòng choáng bởi sự thay đổi của nàng, đúng như câu nói “Người đẹp vì lụa”. Một gái quê mộc mạc trong chốc lát biến hình thành cô gái thướt tha với tà áo dài tím biếc. Nàng soi mặt xuống dòng sông vuốt kẹp lại mái tóc. Đàn cá đối mòn chạy đua bỗng gặp chướng ngại vật, chúng nhảy phà lên không trung rồi rơi xuống như mưa. Chiếc thuyền nàng hứng được mấy con. Nàng nhẹ nhàng bắt từng con cá thả đi và nhìn theo chúng vẫy đuôi tạm biệt. “Dù răng, nó cũng là một sinh mệnh”.
Nàng quý sinh mạng cho từng con vật nhỏ thế mà mạng mình, nàng cũng không cần. Nàng quyết tâm tự tử mấy lần. Lần thứ nhất uống mật cá nóc biển, lần thứ hai níu ở gốc sào dưới nước; ngột thở tự động buông tay trồi lên. Lần thứ ba thì khác.
Nàng mở tủ lấy xem lại bức ảnh gia đình, gấp lại hai bộ áo quần mới của cha, hai bộ của mẹ; một bộ có ý cho chị gái đã lấy chồng và một bộ cho đứa cháu gọi bằng dì ruột... Đọc lại bức thư lần cuối:
“... Trời Phật cho con được là con của ba mạ. Con hạnh phúc và tự hào. Nếu có kiếp sau, con cũng nguyện làm con để đền đáp công sinh thành dưỡng dục. Kiếp ni con đành làm đứa con bất hiếu. Con sống thì phải lấy chồng; chồng mà không biết đối nhân xử thế thì phải làm răng? Con xin hồi bỏ thì ba mạ không cho. Hồi bỏ thì ba mạ bị mất lòng với họ hàng, với thông gia. Con đã khiến ba mạ buồn phiền, họ hàng cười chê... Nên con chọn cách giải thoát, con sẽ về với Đức Quán Thế Âm. Người sẽ dẫn con đi.
Cúi lạy ba mạ vạn lần. À, ít vàng, bạc trong tủ áo quần là của con dành dụm làm vốn liếng lâu ni. Con để lại ba mạ khi cần về sau. Nước mắt con chảy nhiều quá không viết được nữa... Con...”.
Đặt lại mọi thứ ngăn nắp, trải chiếc chiếu ra mặt ván đò và đổ hai gói thuốc chuột vào chén. Cái chén trắng viền xanh, có hình ông Tiên. “Bữa cơm sau mình không dùng cái chén ni rồi, uống xong mình thả nó qua lỗ mui. Rứa là ba mạ đi kỵ về cũng tưởng mình đắp chiếu nằm ngủ...”, nàng nghĩ.
Ý đã định. Nàng nâng chén uống với vẻ thiêng liêng và tinh tấn chưa từng có. Mọi sự đã buông, cuộc sống vốn vô vi, vô thường thì trở về cát bụi. Đời người là một hơi thở, thậm chí chỉ là ý niệm vừa khởi sinh đã diệt. Thứ bột có màu xanh được pha với ít nước thành hỗn hợp trông khá đẹp mắt. Nó sóng sánh nhưng rất khó nuốt, nàng húp vào một ngụm thì đã cứng đơ hàm, nghẹn ứ cổ họng. Lưỡi tê cứng, buồn nôn, khó thở... năm giác quan “co quắp” rồi dần thu lại.
Ánh sáng qua khe hở chiếc chiếu thêu dệt nên những đốm lân tinh. Mỗi đốm hóa thành một cửa sổ nhìn ra phía cửa mui. Ngoài mui là khoảng trời xuân vào độ sắp rét nàng Bân. Không gian bao la bị quán xuyến bởi mây mù. Gió đông bắc sót lại đâu đó xô đẩy dòng sông; con sóng tìm bờ, bên bãi bờ là vạn đò đang bình yên với cuộc sống đời thường. Tiếng dân gian ám vọng, hồi tưởng, mơ hồ rồi chẳng còn biết gì, nàng ngủ.
Ngủ vùi, ngủ sâu, “ngủ như chết”... Có phút giây con tim đã ngừng đập.
- Này em, răng mà dại dột thế. Có chi thì nói. Ta sẽ giúp đỡ cho chứ!? - Người đàn bà có khuôn mặt thánh thiện trong bộ áo nâu cầm tay người ốm và nói.
- D... a... ạ? - Người ốm mở mắt hiểu được có người đang động viên, có bác sĩ đang xem mạch, điều trị cho mình.
- Thuốc đây, uống nghen! - Người đàn bà mặc áo lam mang ly thuốc tới đưa cho người mặc áo nâu.
Một cảm giác thân quen, an ủi, sẻ chia và cứu chữa. Thuốc trong ly không màu, không mùi, không vị; chỉ thấy sau khi uống vào mát rượi cổ họng, lan dần ra mọi tế bào, mọi nơ-ron. Từng vi mạch thôi thúc, “trở giấc”... Hình ảnh, không! Là cái bóng. Không phải cái bóng. Là cái đồng dạng với thể xác. Cái đồng dạng kia có thể là hạt “alpha” hay “beta” nào đó xuyên qua vật chất mang linh hồn. Linh hồn trở về với thể xác. Nàng tỉnh lại.
5.
Đến bờ sông phía bắc, nơi xóm nhỏ có nhà ông Tùng, tôi được nàng “kéo theo” để làm “bia đỡ đạn”. Biết hôm nay, mình không thể trốn chạy nên sẵn sàng đón nhận mọi việc. Tôi chủ động đứng, ngồi... thấy mình linh hoạt hẳn. Tôi mến, thương nàng rồi thì phải? Tâm can tôi mong nàng thuận buồm xuôi gió.
Xóm Đá rộn lên vì tiếng trẻ con gọi nhau, trong chúng có vài đứa cởi trần, chân không dép. Chúng cứ bước mặc nhiên in dấu xuống cát. Chúng chưa bao giờ thấy một cô gái lạ mặt đẹp như vậy, thì phải. Nàng bưng trên tay chiếc khay bước đi tha thướt. Vài người đàn bà thấy thế, họ hỏi dò tin. Cụ bà cạnh bên đường hỏi vọng: “Có chuyện chi là lạ rứa bây? Mệ sang coi coi việc chi”. Ông Tùng ở trong nhà nói với vợ mấy câu gì đó rồi ra mở cửa.
Nàng vòng xuống cửa nhà lều đi lên, đặt khay trầu giữa phản nhà lớn. Lúc này trên phản, bác trai của gã ngồi xếp bàn góc trên, cụ già lúc nãy được mời ngồi lên; bác gái của gã lật đật đặt khay trà và lại ngồi ở chiếc giường căn dưới. Ngôi nhà ba gian của ông Tùng bỗng trở nên trịnh trọng, nghiêm trang đến lạ. Ngoài đường, mấy người phụ nữ đang đi tới, trẻ con nhòm qua song cửa sổ... Có tiếng ai đó bảo: “Đừng ồn mấy đứa, để mà nghe”. Nàng đứng vòng tay thưa:
- Dạ thưa hai bác, thưa mệ, thưa mấy dì, mấy chị! Hôm ni...
Nàng chưa nói hết câu thì có người “giật giọng”: “Chi rứa, khoan đã...”. Tiếng của một thanh niên từ ngoài xóm chạy vào. Đó không ai khác là gã. Gã đã lơ mơ hiểu ra có chuyện, “rứa là qua nhà bác hồi thiệt”. Gã hấp tấp vừa thở, vừa nói:
- Có chi thì nói với nhau, làm chi phải đem cau trầu qua đây?
- Dạ, đúng rồi! Có gì thì vợ chồng nói sau còn chừ đây em đang thưa chuyện với hai bác đã! - Nàng đổi giọng xưng hô ngọt lịch sự.
Ông bác thấy thế liền cắt ngang lời và liếc mắt ra hiệu gã dừng nói. Ông lên tiếng:
- Có chuyện chi cháu nói tiếp đi! - Ông ta vờ chưa hiểu chuyện mặc dù trong lòng đã nghe gã mách báo từ tuần trước.
- Dạ thưa hôm ni cháu qua đây, trước tiên là cháu cảm ơn hai bác đã “kết tóc se tơ” cho vợ chồng cháu. Vợ chồng cháu đội ơn không hết nhưng vì duyên chúng cháu không lành, không ngọt nên cháu vô cùng tạ lỗi. Chừ mời hai bác dùng trầu rượu xong cháu mới dám thưa tiếp.
- Được rồi! Nhưng chuyện vui thì bác nghe, chuyện buồn là bác không nghe, còn chuyện quan trọng là phải có người lớn!
- Dạ thưa bác cho phép thì cháu thưa. Chuyện có nửa vui và nửa buồn. Chuyện rất quan trọng dù không có người lớn nhưng có người trong cuộc, thiết nghĩ đã đủ ạ.
- Chi mà nửa này nửa tê, lại có người quan trọng hơn? Nói bác nghe!
Có tiếng xì xào, lao xao ngoài nhà, bà cụ lúc nãy giờ im lặng giờ mới lên tiếng:
- Tui sống bảy mươi năm ni mới lần đầu thấy dâu chưa cưới mà đến thưa chuyện với người lớn bên họ nhà trai ri a nả. Tui nghe mà háo hức lắm. - Bà cầm miếng trầu nơi tay, tỏ vẻ chờ đợi.
- Dạ thưa, rứa là bác chấp nhận lời thưa của cháu hôm ni!
- Ừ.
- Dạ thưa, sau lời cảm ơn, lời tạ lỗi thì cháu xin bác chấp thuận cho cháu và chồng cháu bỏ nhau vì duyên tụi cháu ngang đây là hết. Nửa buồn là tụi cháu xa nhau; nửa vui là tự do trả lại cho hai đứa khi không còn tình nghĩa. Còn người trong cuộc thì bác đã biết; cha mẹ sống một thời còn đời, tụi cháu mới là trong cuộc lâu dài nên...
- Bỏ nhau? Cháu nói là cháu bỏ chồng, hồi dôn?
- Dạ cháu xin hồi ạ.
- Không được, không được, không được! - Ông tỏ vẻ nghiêm trọng.
- Dạ, vì răng thưa bác?
- Thứ nhất là không có anh chị bên nhà. Thứ hai, ý kiến của chồng cháu. Thứ ba, có câu: “Trai bỏ vợ không tốn một đồng, gái bỏ chồng đền một gấp đôi”.
- Thứ nhất, cháu được lệnh ba mạ rồi, không có ba mạ nhưng được lệnh xem như được phép. Thứ hai, chồng cháu chỉ một nửa thôi vì trong đó có cháu một nửa. Thứ ba, cháu sẽ đền gấp ba. - Nàng trả lời từ tốn nhưng dứt khoát.
Mọi người có mặt ở đó tỏ ra ngạc nhiên vì lý luận sắc sảo. Gã tỏ ra không đồng ý nhưng phải chấp nhận nghe tiếp. Ông Tùng cũng ngạc nhiên, ông hỏi:
- Cháu định trả... Thử tính công làm rể trong gần hai năm, ít nhất là năm mươi ngày công; sính lễ đi hỏi, đi dạm, lễ đi tết, hiếu kỵ, cả công sức, tổn thất tinh thần...
6.
Tôi vẫn im lặng lắng nghe cuộc thưa chuyện hồi dôn của nàng. Ông Tùng là người quắc thước và nhiều lý lẽ. Song, ông càng bắt bẻ thì nàng càng thể hiện khôn khéo. Má nàng ửng hồng song sự điềm tĩnh của nàng làm lòng tôi mến mộ, ấn tượng. Tôi muốn giúp cho nàng “một tay” song...
Cách tính trả của, nàng thật khéo. Công người làm ba đồng, công rể chỉ một. Người làm công ăn một bữa, rể ăn ba. Người làm công làm không nghỉ, rể làm luôn ngơi. Khi yêu thương nhìn nhau là hạnh phúc, hạnh phúc đáng bạc, đáng vàng; khi không yêu nhìn nhau làm tổn thương, đau khổ. “Cứ tính mỗi ngày anh nhìn 10 lần, mỗi lần tổn thương tính ba hào. Mỗi ngày làm rể, anh đã nợ gấp đôi tiền công. Cơm người làm công gạo lứt, cá khô; cơm rể gạo trắng, cá tươi. Ngoài ra, phải tính nữ trang, nữ hạnh khi gái đã bị có chồng,”...
Ông Tùng đuối lý nên chuyển:
- Nếu tính rứa thì bác phải trả thêm tiền bạc, của cải cho cháu rồi! Nói đi thì phải nói lại. Cứ để thời gian mà tìm hiểu nhau thêm, biết đâu hai đứa còn... Chứ thời chừ, con trai quá dễ tìm vợ. Bác sợ thù hèm về sau. - Ý ông ta đánh giá cao về con trai, cả đe dọa về vũ lực.
- Dạ thưa, thời đại thì thanh niên luôn là thời đại. Thế giới đang tiến đến văn minh bình đẳng nam nữ rồi. Dạ, nữ thì chỉ một đời là hết, còn nam thì tận mười đời nên chuyện con gái có mất mát đi thì gia đình không ảnh hưởng chi ạ!
...
Nàng bước xuống thuyền bơi về để lại nhiều lời bàn tán sau lưng. Gã đau lòng nhưng đuối lý chỉ biết vợi trông người “sang sông”. Ông Tùng thở dài rồi đi lấy thuốc hút. Mọi người tản dần. Xóm Đá trở lại yên bình. Yên bình như ngàn năm, vạn năm nay luôn để nghe sóng biển sau lưng và sông trôi trước mặt.
Gió nồm từ biển thổi vào mát rượi, bay bay vạt áo dài. Gió đưa chiếc thuyền về bờ nam nhẹ tênh. Nắng vàng tươi nghiêng nghiêng chiều ra nhiều thi vị. Nụ cười ai thoáng hiện trên sông khiến bầy cá phải thả vây vi ngắm, chìm.
Sau đó, gã còn đến gia đình nàng mấy lần song không được tiếp đón. Ông Tùng có qua nói chuyện với cha mẹ nàng một lần. Rồi cuộc tình chia tay trong thầm lặng, làm lơ của hai bên gia đình. “Mặc cho bọn trẻ tự quyết”. “Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên”...
Duyên tôi cùng nàng bén từ buổi chợ hôm ấy. Cái buổi hôm ấy... buổi gì mà vấn vương đến vậy? “Vấn vương bởi ngọn trầu xanh/ Vấn vương bởi sự chưa thành... dứt duyên”; dứt đặng sự không thương, bỏ gã trai lì, xa kẻ cố “chịu đấm ăn xôi”... nàng thấy vui hơn, tìm lại được chính mình. Còn tôi, phiên bản ngọn trầu được quệt vôi trắng trong câu chuyện của nàng. Một lần cùng “sứ mệnh” hồi dôn cho người con gái sông quê, người con gái dám từ hôn để tìm tự do, tìm chân trời tươi mới cho mình.
Và rồi, trong triệu triệu phiên bản nào đó, nếu còn nhớ thì tôi vẫn sẽ kể lại câu chuyện này. Chiếc lá trầu cay, nàng mua buổi chợ sáng nao...
Đ.V.S
(TCSH435/05-2025)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.