VĂN THÀNH LÊ
1.
Còn nhớ, bế mạc Hội Sách thành phố Hồ Chí Minh lần 8/2014, lần đầu tiên top 10 cuốn sách bán chạy gọi tên những tựa sách mà đọc lên, nhiều người viết gạo cội cứ thấy sao sao, sên sến, lòng vòng luẩn quẩn,…
Hội sách TP.HCM lần thứ VIII - 2014 - Ảnh: VNAV
là Buồn làm sao buông, Người yêu cũ có người yêu mới, Thương nhau để đó, Nếu như không thể nói nếu như. Và tác giả, lần lượt là Anh Khang, Iris Cao, Hamlet Trương, Jun Phạm, những người viết trẻ măng, xa lạ với văn đàn. Đứng cạnh 4 cuốn sách trên đều là những tác giả - tác phẩm nặng kí, với Hỏa ngục của Dan Brown, Chúc một ngày tốt lành của Nguyễn Nhật Ánh, Thám tử Conan của Gosho Aoyama, Đảo của Nguyễn Ngọc Tư, Đắc Nhân Tâm của Dale Carnegie. Chưa hết, Anh Khang qua mặt luôn “ông kẹ” của mọi kì Hội Sách, là Nguyễn Nhật Ánh, khi Buồn làm sao buông xếp đầu bảng.
Mặc kệ người viết đi trước dạn dày kinh nghiệm chữ giật mình pha hoảng hốt, không hiểu sao những cuốn sách ghi chép cảm xúc mới lớn kiểu vụn vặt, triết lý nửa vời, thậm chí vẽ ra thế giới ở nơi xa lắc nào đó, không thực, lại có thể bán chạy được? Mặc kệ người đọc khó tính thắc mắc đây có phải là văn chương không, hay chữ đội lốt văn chương? Mặc kệ sau Hội Sách, có nhà văn phát ngôn trên mạng xã hội, đại ý: Không phải cứ nhiều trang giấy có chữ được kẹp giữa hai cái bìa thì đều gọi là sách. Một nhà văn khác, là biên tập viên của đơn vị xuất bản tên tuổi, được giám đốc nhà xuất bản ấy đặt cuốn Buồn làm sao buông trước mặt, nói đọc xem có thể viết được như vậy để thành sách best seller không? Nhà văn này đọc rồi ngơ ngác, bảo không nuốt hết được. Mặc kệ tất cả những điều ấy, một thế hệ viết mới, một cộng đồng viết mới, đa số sinh sau 1990, đã xuất hiện, đông đảo, khác hẳn thế hệ 8x trở về trước, và thực sự phả một làn gió mới vào thị trường sách có phần bình bình, đều đều như vốn dĩ trước giờ vẫn thế.
Nếu nhìn lại, trước đó chưa lâu, khởi đi đã có lứa văn trẻ 8x xuất hiện theo trào lưu văn chương mạng, với những cái tên như Hà Kin (Chuyện tình New York), Trần Thu Trang (Cocktail cho tình yêu, Phải lấy người như anh, Nhật ký tình yêu TIO), Keng (Dị bản, Hồng Gai - Về nhan sắc danh giá và phù phiếm, Đôi mắt không còn ướt nước), Gào (Cho em gần anh thêm chút nữa, Nhật kí son môi,…) v.v. Tuy nhiên, cảm giác văn chương mạng 8x mới chỉ dừng ở những cuộc chạy đà, phải đến sự kiện Hội Sách thành phố Hồ Chí Minh lần 8 với thế hệ viết 9x thì thể loại được gọi với hai từ “ngôn tình” này mới chính thức lên ngôi.
2.
Thực tế, khách hàng tạo nên/ quy định thị trường. Và Sài Gòn luôn là thị trường lớn nhất cả nước, trong đó có thị trường sách. Thành phố phương Nam này luôn là nơi bắt đầu, khởi đi, định dạng những trào lưu, xu hướng. Phần đa những xé rào, mới mẻ là từ đây. Văn chương cũng không là ngoại lệ. Những hội/ nhóm chính thống/ phi chính chống (văn chương ngoại biên) xuất hiện sớm ở Sài Gòn, như nhóm Ngựa Trời, rồi Mở Miệng. Văn chương đề tài đồng tính cũng bước ra từ đây, bởi nhà văn Bùi Anh Tấn. Vì vậy, dù Trang Hạ ở miền Bắc, là người đưa ngôn tình từ Trung Quốc, Đài Loan vào Việt Nam, thì ngôn tình vẫn chọn Sài Gòn để nảy nở cũng không có gì là khó hiểu. Đấy là từ phía người viết.
Thực tế nữa, hiện nay đọc sách nhiều nhất là giới trẻ, quan sát người đi nhà sách, đến Đường sách/ Phố sách, đặt sách online đều dễ dàng nhận ra điều này. Độc giả ở phổ tuổi từ học sinh phổ thông đến sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất, là độ tuổi có thời gian để đọc sách và có điều kiện để mua sách, nhất là ở Sài Gòn. Và đây là từ phía người đọc.
Từ điều kiện cần và đủ trên, những cuốn sách của Anh Khang, Hamlet Trương, Iris Cao, Jun Phạm, tiếp đến là Nguyễn Ngọc Thạch, Phan Ý Yên, Ploy Ngọc Bích, Kawi Hồng Phương, Born, Sơn Paris cùng rất nhiều những cái tên khác nữa, hoặc thuần Việt hoặc nửa tây nửa ta, kể hết phải dằng dặc dài, liên tục ra mắt người đọc trẻ, thậm chí với mật độ dày đặc.
Qua rồi thời văn chương chữ nghĩa hữu xạ tự nhiên hương. Với các tác giả cuối 8x đầu 9x này, hình ảnh người viết “đóng cửa bảo chữ” cho tư duy tràn ra bàn phím chứ không tràn ra theo đường miệng, đã xưa như… cổ tích. Các cây viết này làm hình ảnh, từ ăn mặc, kiểu tóc, đến tương tác trên mạng xã hội để kéo fan không khác gì diễn viên, ca sĩ. Sự kiện ra mắt sách được chăm chút từng li từng tí. Ra mắt sách không đơn giản là câu chuyện của… sách, mà là cả chương trình nghệ thuật tạp kĩ, với ca hát, với biểu diễn nghệ thuật đường phố, với sao này sao khác tới dự… Mỗi cuốn sách còn kèm ca khúc MV đầu tư lộng lẫy đi kèm. Cả một ekip và kế hoạch truyền thông được chuẩn bị từ khi tác giả mới nghĩ ra… tên cuốn sách. Thậm chí, chấp nhận cả truyền thông “bẩn”, gây tác dụng ngược, miễn là tạo được sự chú ý.
Bên cạnh văn xuôi là thơ. Hàng loạt những tác giả thơ với trang cá nhân có lượng fan lớn được các công ty sách chăm bẳm, như Du Phong, Huyền Thư, Nguyễn Phong Việt… Các tập thơ phát hành trên 5.000 bản, con số mơ ước của những nhà thơ gạo cội. Thậm chí có tập thơ của Nguyễn Phong Việt phát hành trên 30.000 bản. Tất nhiên, đấy là con số truyền thông. Hầu như sách của các tác giả trẻ mới chỉ ra mắt độ nửa tháng, khi báo/ đài chưa tiêu hóa hết thông cáo báo chí, đã kịp nã thêm thông cáo báo “win - chiến thắng” trong việc phát hành, với những con số như đã bán hết 3.000, 5.000 hay 10.000 bản và loan đi quyết định tái bản. Đám đông độc giả mới lớn được dịp lên đồng. Mỗi người làm sách và người biết “soi” thị trường sách hiểu con số này thực hư ra sao. Bởi kể cả có in vài chục nghìn bản, thì cũng không đồng nghĩa với việc sách rời khỏi đơn vị làm sách là đã đến tay độc giả, sách vẫn còn nằm trên kệ của các đơn vị phát hành, thậm chí ở kho sách của các nhà phát hành để chờ vào vòng giảm giá sâu ở các kì hội sách vốn diễn ra dày đặc vài năm gần đây là chuyện thường.
3.
Có anh bạn biên tập viên kì cựu và say nghề, khi cà kê chuyện về văn chương và thị hiếu đọc hiện nay, tỏ ra lo ngại cho người trẻ. Tôi trấn an với hai lý do, thứ nhất: văn chương càng thật sự là văn chương, càng không phải của số đông. Dù không thể phủ định sự cần thiết của truyền thông thì văn chương vẫn không đứng về phía ồn ào; thứ hai: cái gì thuộc về trào lưu, thời trang sẽ đến nhanh và qua cũng nhanh. Kể cả người tạo ra nó lẫn người tiếp nhận nó.
Những tác giả văn chương mạng thời kì đầu như Hà Kin, Trần Thu Trang, Keng… đã yên bề phía nào đó mà không chọn đi cùng với chữ nữa. Các tác phẩm của họ cũng trôi cùng tác giả. Hội Sách thành phố Hồ Chí Minh lần 10/2018 vừa rồi, “nhiệt” ở các cuộc giao lưu ra mắt sách của các tác giả ngôn tình cũng giảm xuống, thậm chí giảm sâu. Quẩn quanh cỡ trên dưới 50 độc giả hiện hữu ở các buổi giao lưu. Dù chụp lên hình vẫn thấy đông, đấy là người ở… gian hàng sách kế bên chứ không phải đến với tác giả như cách đây 4 năm.
Thêm nữa, độc giả 9x giờ đã lớn, họ bắt đầu đọc khác rồi, những bạn sinh sau năm 2000 cũng đọc khác. Sau 4 năm, tôi lờ mờ nhận ra thời ngôn tình sắp qua. Thay vào đó là sách du kí - trải nghiệm cá nhân, sách kĩ năng, sách giúp người trẻ nhân diện bản ngã, đánh thức tiềm năng, định hướng tương lai đang được tiếp nhận mạnh mẽ hơn. Những tác giả như Đinh Hằng (Quá trẻ để chết - Hành trình nước Mỹ, Chân đi không mỏi - Hành trình Đông Nam Á), Khải Đơn (MeKong phù sa phiêu bạt, Đừng tháo xuống nụ cười), Rosie Nguyễn (Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu, Ta ba lô trên đất Á),… đang hút người đọc trẻ hơn.
Và thời nào, các tác phẩm văn chương thật sự vẫn đứng “riêng một góc trời”, khu biệt, ít lẫn với những ồn ào.
4.
Ở góc độ phát triển và thị trường, các trào lưu, xu hướng như văn chương mạng, văn chương ngôn tình là tự nhiên, cần thiết. Văn đàn sẽ đa dạng và phong phú hơn. Nhưng rõ ràng, căn cứ vào bộ phận nhỏ này để đo sức khỏe của văn học trẻ là lệch lạc và thiếu thuyết phục.
Và thời nào cũng luôn có những người trẻ lao động chữ nghiêm cẩn thực sự, hướng đến văn chương theo nghĩa… văn chương. Dẫu là thầm lặng. Người trẻ tìm tòi, xác quyết con đường khó, để chạm đến… chính mình. Nếu như độc giả quy định thị trường chữ thì nhà văn thực sự sẽ tự biết cách quy định văn chương của mình, chứ không chiều theo thị hiếu đám đông. Như cách nhà văn trẻ Tiểu Quyên từng chia sẻ ở bàn tròn Nhân diện văn chương trẻ phương Nam trên sóng Đài Tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, rằng: “Viết, trước hết là chiều chính bản thân mình, phải tự biết tạng viết của mình, để đi đến tận cùng mình”.
Còn đó, nhiều người viết trẻ nữa, như Tiểu Quyên.
Ở văn xuôi là Nguyễn Thị Kim Hòa (Cửa sổ phía Đông, Con chim phụng cuối cùng…), Đinh Phương (Nhụy khúc, Đợi đến lượt…), Lê Vũ Trường Giang (Đi như là ở lại, Nở - tàn biên niên kí), Trần Băng Khuê (Bức tường trong chai tequila), Tru Sa (Trăng tang, Ảo giác mù)… rồi 9x là Nguyễn Dương Quỳnh (Đỏ, Thị trấn của chúng ta, Thỏ rơi từ mặt trăng), Huỳnh Trọng Khang (Mộ phần tuổi trẻ, Những vọng âm nằm ngủ), Cao Nguyệt Nguyên (Trăng màu hổ phách, Nguyện của đêm),… Thơ là Nhã Thuyên (Rìa vực, Từ thở, ngững người lạ), Du Nguyên (Mục xó xỉnh cười, Khúc lêu hêu mùa hè), Nguyễn Thế Hoàng Linh (Em giấu gì ở trong lòng thế, Mật thư, Ra vườn nhặt nắng), Nồng Nàn Phố (Anh ngủ thêm đi anh em phải dậy lấy chồng, Yêu lần nào cũng đau, Mang san hà đổi lấy duy nhất một người thương), Từ Hồng Sơn (Hà Nội mùa hổ phách, Hà Nội mùa mộc phách)…, vừa văn xuôi vừa thơ là Nguyễn Thiên Ngân (Những chuyển điệu, Đường còn dài còn dài, Mình phải sống như mùa hè năm ấy, Ôm mỏ neo nằm mộng những chân trời…), Hồ Huy Sơn (Ngày lạ, Một cảnh không có trên phim…), Lê Quang Trạng (Áp tai vào đất, Dòng sông không trôi)… Phê bình là Mai Anh Tuấn, Đoàn Ánh Dương, Phan Tuấn Anh, Nguyễn Đình Minh Khuê… Vui nữa, là có những tác giả vẫn quan tâm viết cho thiếu nhi, như Võ Thu Hương, Dương Hằng, Vân Vũ, Mây v.v.
Sau cùng, tôi vẫn tin vào đường đi của chữ. Sau tất cả những ồn ào, trào lưu, văn chương lại trở về với quỹ đạo của nó. Tôi tin như tin vào đường đi của các cây bút trẻ, mê mãi miệt mài không chạy theo đám đông.
Sài Gòn, 3/12/2018
V.T.L
(TCSH359/01-2019)
Tải mã QRCode
PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...
TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".
MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.
TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H
TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...
BẢO CHI (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...
ĐỖ LAI THÚY Văn là người (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.
TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?
HOÀNG NGỌC HIẾN ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...
THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.
TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.
ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…
HỒ THẾ HÀ Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.
JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.