Trong Hội thảo Văn hóa quốc tế năm 1995 tổ chức tại Đà Nẵng, bà Điềm Phùng Thị có kể lại những gian khổ trong thời gian du học ở châu Âu, những năm sau Thế chiến thứ hai. Vừa hành nghề nha sĩ, vừa làm học viên “tự do” theo học điêu khắc, rồi tổ chức triển lãm và đã có nhiều tượng đài xây dựng trên đất Pháp.
Điềm Phùng Thị dùng 7 “ký hiệu” để cấu thành thế giới tạo hình riêng
Để được công nhận là Viện sĩ Viện Hàn lâm Nghệ thuật châu Âu và tên được ghi vào Từ điển Larousse về tranh và tượng của thế kỷ XX, thành tựu ấy đòi hỏi một quá trình lao động rất cao ở một phụ nữ Việt Nam “bé nhỏ”...
Lao động miệt mài
Sau khi thành công rực rỡ ở châu Âu, cuối đời, ước mơ quy cố hương của bà trở thành hiện thực. Về Huế, bà được mời ở một ngôi nhà đẹp xây dựng từ năm 1930 với phong cách Pháp (số 1 đường Phan Bội Châu, TP Huế). Tại đây, bà dành nhiều thời gian để sáng tác và giảng dạy cho trẻ mồ côi và trẻ câm điếc.
Theo tâm nguyện: "Tôi tặng toàn bộ tác phẩm cho nhân dân TP Huế", bà đem về toàn bộ số tác phẩm còn giữ lại ở Pháp với số lượng gần 300 tác phẩm lớn nhỏ, đa số là tượng. Riêng những tác phẩm bà mới sáng tác ở Huế và TP HCM cũng lên đến hàng trăm. Trong ngôi nhà số 1, đang có khoảng 30 tác phẩm điêu khắc, tranh thêu và những đồ trang sức tinh xảo bằng kim loại hoặc gỗ được trưng bày.
Trước khi qua đời vài tháng, bà còn quyết định chuyển một số tác phẩm còn lại ở TP HCM (trên 130 tác phẩm) và Pháp (trên 50 tác phẩm) về Huế. Theo tập catalogue “Nghệ thuật Điềm Phùng Thị” dày 267 trang được xuất bản năm 1997, hiện nay tại Pháp có rất nhiều tác phẩm của bà được dựng lên ở nhiều trường học, công viên, bảo tàng, bệnh viện...
Nhìn chung, các tác phẩm của bà vừa thể hiện một phong cách nghệ thuật đa dạng, có thể thích nghi với không gian kiến trúc rộng lớn, vừa có thể làm món đồ trang trí nghệ thuật nội thất. Khối tài sản văn hóa quý giá ấy đã được giới thiệu với công chúng Thủ đô năm 1978 tại Trung tâm Mỹ thuật Hà Nội, đây là lần đầu tiên tại Việt Nam có cuộc triển lãm nghệ thuật tự do, đương đại và trừu tượng.
Sau 1992 về Việt Nam, bà đã triển lãm nhiều nơi và thiết lập cơ sở tại số 1 đường Phan Bội Châu, TP Huế, trưng bày 150 tác phẩm và cư trú luôn tại đó. Năm 1996, bà mở lớp dạy mỹ thuật miễn phí cho trẻ em. Hầu hết tác phẩm của bà được làm bằng đủ loại chất liệu: Nhựa tổng hợp, đồng, nhôm, đá, đá ngọc, đất sét, thạch cao, sơn mài cẩn vỏ trứng, giấy, màu dầu... Và với mảnh xác máy bay B52, Điềm Phùng Thị có một mảng tác phẩm riêng về đề tài chiến tranh - hoà bình.
Sáng tạo
|
|
| Đậm chất nữ tính trong mảng sáng tác về con người |
Tác phẩm của Điềm Phùng Thị vừa sang trọng vừa giản dị. Ngôn ngữ mới mà giản tiện, giống như trẻ con chơi trò xếp hình, bà chỉ có 7 “chữ cái” để cấu thành thế giới tạo hình riêng của bà- gọi là “những ký hiệu” (signs). Nhà phê bình nghệ thuật Ray Mond Cogniat gọi là 7 mẫu tự, giáo sư Trần Văn Khê gọi là 7 nốt nhạc và các nhà nghiên cứu nghệ thuật châu Âu thì gọi là những mô-đun (modules). Các tác phẩm của bà là sự sắp xếp, lựa chọn bố cục, biến tấu và lắp ghép những mẫu tự ấy.
Tiếng nói các mẫu tự làm nên thế giới riêng của Điềm Phùng Thị cũng có sự góp phần đáng kể của chất liệu. Bà thể nghiệm nhiều chất liệu một cách khéo léo, để đem lại những điểm nhấn trung tâm trong một mô hình tác phẩm. Ở các tác phẩm chỉ sử dụng một chất liệu như chì gò, gỗ, đất nung và đồng, ta thấy sự uyển chuyển trong bố cục, đặc biệt các tượng đài đều có chung một đặc điểm về cấu trúc không gian mang dáng dấp kỷ hà, giàu tính biểu tượng rất phù hợp với phong cách kiến trúc châu Âu hiện đại.
Điềm Phùng Thị lựa chọn cho mình góc nhìn riêng, đậm chất nữ tính. Nếu hiểu theo nghĩa tương đối, góc nhìn này ít nhiều đã tạo nên những dấu ấn độc đáo, khẳng định tài năng điêu khắc của bà trong mảng sáng tác về con người. Ở mảng này, quan điểm thẩm mỹ của bà tập trung cao độ cho sự hài hòa, gợi cảm từ thân thể con người, tạo thành cảm thức tươi mát và tinh tế, được thể hiện bằng các hình thể đơn giản hóa đến mức cao độ và mang tinh thần trừu tượng. Khi cần, những khối hình rắn vẫn có đường nét uyển chuyển mềm mại, để mô phỏng các hình tượng thường thấy trong đời sống của giới cần lao, qua những khối đá im lìm.
Điều khiến cho các tác phẩm của Điềm Phùng Thị không xa lạ với tư duy cảm tính phương Đông, đặc biệt "Việt Nam", là sự thể hiện những dạng thức hướng nội. Điều này càng dễ nhận thấy trong số những tác phẩm mang tư tưởng triết lý và chiêm nghiệm tâm linh, đòi hỏi người xem "cảm nhận" nhiều hơn là hiểu. Vì vậy, một số bức tượng sắp xếp theo ngôn ngữ của bảy mô-đun, ban đầu thấy rất khó hiểu, đòi hỏi phải có tư duy nghệ thuật mới đánh giá được.
Đỉnh cao trong thành tựu tác phẩm của Điềm Phùng Thị là đã thâu tóm vào tác phẩm của mình tinh thần văn hóa Á, Âu một cách nhuần nhuyễn, đơn giản, gạn lọc và khoa học. Giới phê bình mỹ thuật châu Âu đánh giá cao nghệ thuật Điềm Phùng Thị ở sự thể hiện tâm hồn Á Đông gần gũi là do vậy.
Làm nghệ thuật là sáng tạo những điều mọi người chưa từng nghĩ đến. Trong lĩnh vực điêu khắc cũng vậy. Khi xem Triển lãm Điềm Phùng Thị tại Hà Nội (năm 1995), nhà thơ Tố Hữu nhận xét: Với 7 ký hiệu (signs), Điềm Phùng Thị là một tạo hoá trong điêu khắc...!
Theo giaoducthoidai.vn
Tải mã QRCode
Món xôi ống tưởng chừng như đơn giản này lại chứa đựng trong nó tất cả tinh hoa miền núi.
Được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH,TT&DL) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia từ năm 1991, nhưng suốt nhiều năm qua, di tích Tuy Lý Vương nằm ở phường Đúc, TP Huế, bị nhiều hộ dân xâm hại một cách nghiêm trọng. Mặc dù các cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã vào cuộc, tuy nhiên, do cách xử lý “nửa vời”, thiếu cương quyết nên đến nay, khu di tích này vẫn ở trong tình trạng “kêu cứu” từng ngày...
Ngược lên thượng nguồn sông Hương vào một ngày đầu năm 2014, chúng tôi đến thăm cụ ông Nguyễn Lô (82 tuổi), ở thôn Kim Ngọc, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế, trong một căn chòi tạm bên cạnh lăng chúa Nguyễn Phúc Thái (Vị chúa thứ 5 của triều Nguyễn). Gần 40 năm qua, ông lão đã một thân một mình chống lại những kẻ đào trộm mộ để bảo vệ lăng chúa Nguyễn được vẹn toàn; đồng thời cũng khai hoang đất đồi phát triển kinh tế gia đình…
Kế Môn (Điền Môn, Phong Điền, TT- Huế) là quê hương của hàng ngàn người giàu có trên cả nước và thế giới. Bởi là quê quán của nhiều người giàu nên Kế Môn sở hữu lắm chuyện đặc biệt.
Năm 2010, tôi được về dự đêm thơ Quê Mẹ của nhà thơ Tố Hữu tổ chức tại TP Huế - quê mẹ của ông và có dịp được về thăm quê ông, một làng nhỏ bên dòng sông Bồ trong xanh. Thật thú vị vì đây cũng chính là quê hương của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Chính ủy Quân giải phóng miền Nam.
Những ngôi nhà vườn, nhà rường cổ ở Huế không chỉ có giá trị về mặt di sản kiến trúc mà còn thể hiện một cách sống động và chân thực nhất về đời sống của người Huế xưa. Nhưng vì nhiều lý do: tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, người dân thiếu tiền trong việc trùng tu bảo tồn …mà giờ đây, những ngôi nhà cổ nguyên bản đặc trưng xứ Huế đang mai một dần.
Ðồng chí Nguyễn Chí Thanh sinh ngày 1-1-1914, tên thật là Nguyễn Vịnh, là một nhà lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Quân đội kiệt xuất; nhà chính trị, quân sự mưu lược, tài trí, dũng cảm, kiên quyết; một người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên - Huế. Ðồng chí đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng, của dân tộc.
Từ một địa phương không có bệnh viện tuyến tỉnh, mọi hoạt động trong lĩnh vực y tế chuyên sâu chủ yếu dựa vào Bệnh viện Trung ương Huế là chính nên thường xuyên gây ra vấn đề quá tải. Để khắc phục tình trạng trên, thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tập trung nhiều nguồn lực để xây mới 03 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Đến nay, sau thời gian ngắn đi vào hoạt động, các bệnh viện này đã làm rất tốt công tác khám chữa bệnh, thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân đến khám và điều trị.
Múa bao giờ cũng gắn kết với âm nhạc (nhạc đàn và nhạc hát), vì thế, người ta thường gọi tên là “Múa hát cung đình”. Múa hát cung đình của vua chúa Việt Nam không giống như hình thức vũ hội phương Tây. Nó chủ yếu phục vụ cho vua chúa, lễ lạc trong triều đình, mang hình thức lễ nghi phong kiến vương triều.
Hội đồng chung khảo Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ V đã lựa chọn được 40 tác phẩm, công trình (trong tổng số 45 tác phẩm, công trình do Hội đồng sơ khảo giới thiệu vào xét vòng chung khảo) đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh trao giải thưởng A, B, C.
Bác sĩ Trương Thìn sinh năm 1940 tại Thừa Thiên Huế . Từ năm 1961 ông là sinh viên Trường đại học Y khoa Sài Gòn .Ông học giỏi, nhiệt tình tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước, là trưởng đoàn văn nghệ sinh viên học sinh Sài Gòn trong phong trào đấu tranh “Hát cho dân tôi nghe” những năm trước giải phóng.
Với người Tà Ôi ở miền rẻo cao A Lưới (tỉnh Thừa Thiên - Huế), từ xa xưa, những chuỗi mã não là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có, sang trọng và có địa vị trong cộng đồng.
Chứa đựng trong mình cả một giai đoạn lịch sử thông qua các di tích, nét trầm mặc cổ kính, điệu hát cung đình Huế âm trầm cùng với sông Hương, núi Ngự… Huế vẫn sừng sững nghiêng mình tồn tại với thời gian qua sự thăng trầm của lịch sử, với thời gian và sự chống trọ trong chiến tranh.
Thời thượng, đâu cũng piano, ghi ta thì có một người vẫn ngày đêm lưu giữ và phục chế hàng ngàn cây đàn cổ quý báu của tổ tiên để lại.
Khi chọn Huế làm đất đóng đô, các vua chúa nhà Nguyễn đã quên mất một yếu tố quan trọng và cơ bản của phong thủy.
Tác phẩm “văn sử bất phân” Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18 (Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất, quý 3/2013) của Li Tana, đã được trao giải Sách hay 2013..
Ngày 1-1-2014, chúng ta kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Ðại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Bí thư T.Ư Cục miền Nam kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam - Người con ưu tú của đất nước và quê hương Thừa Thiên - Huế, nhà lãnh đạo kiệt xuất, kiên trung, mẫu mực của Ðảng; vị tướng đức tài trọn vẹn, trí dũng song toàn của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Bên tả ngạn của sông Hương, cách thành phố Huế chừng 15 km về hướng tây, có một ngọn đồi người ta quen gọi là “Đồi thiên thần”, nơi nương náu của gần 50.000 thai nhi bị phá bỏ.
Vào một buổi chiều, tình cờ đi quanh làng Dã Lê Thượng, phường Thủy Phương, tôi thấy chú Dương Văn Thọ (56 tuổi) ở tổ 01 (phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy) đang quét dầu cho chiếc ghe mới đan của mình. Trong trí nhớ của mình và những gì mình biết, tôi chợt nhận thấy bóng dáng của một cái nghề mà ngày xưa người làng mình đã làm: nghề làm, đan ghe thuyền.