Điềm Phùng Thị - Nghệ sĩ tài hoa thế kỷ XX: Những con số kỳ diệu của điêu khắc

08:49 19/09/2013

Trong Hội thảo Văn hóa quốc tế năm 1995 tổ chức tại Đà Nẵng, bà Điềm Phùng Thị có kể lại những gian khổ trong thời gian du học ở châu Âu, những năm sau Thế chiến thứ hai. Vừa hành nghề nha sĩ, vừa làm học viên “tự do” theo học điêu khắc, rồi tổ chức triển lãm và đã có nhiều tượng đài xây dựng trên đất Pháp.  

Điềm Phùng Thị dùng 7 “ký hiệu” để cấu thành thế giới tạo hình riêng

Để được công nhận là Viện sĩ Viện Hàn lâm Nghệ thuật châu Âu và tên được ghi vào Từ điển Larousse về tranh và tượng của thế kỷ XX, thành tựu ấy đòi hỏi một quá trình lao động rất cao ở một phụ nữ Việt Nam “bé nhỏ”...

Lao động miệt mài

Sau khi thành công rực rỡ ở châu Âu, cuối đời, ước mơ quy cố hương của bà trở thành hiện thực. Về Huế, bà được mời ở một ngôi nhà đẹp xây dựng từ năm 1930 với phong cách Pháp (số 1 đường Phan Bội Châu, TP Huế). Tại đây, bà dành nhiều thời gian để sáng tác và giảng dạy cho trẻ mồ côi và trẻ câm điếc.

Theo tâm nguyện: "Tôi tặng toàn bộ tác phẩm cho nhân dân TP Huế", bà đem về toàn bộ số tác phẩm còn giữ lại ở Pháp với số lượng gần 300 tác phẩm lớn nhỏ, đa số là tượng. Riêng những tác phẩm bà mới sáng tác ở Huế và TP HCM cũng lên đến hàng trăm. Trong ngôi nhà số 1, đang có khoảng 30 tác phẩm điêu khắc, tranh thêu và những đồ trang sức tinh xảo bằng kim loại hoặc gỗ được trưng bày.

Trước khi qua đời vài tháng, bà còn quyết định chuyển một số tác phẩm còn lại ở TP HCM (trên 130 tác phẩm) và Pháp (trên 50 tác phẩm) về Huế. Theo tập catalogue “Nghệ thuật Điềm Phùng Thị” dày 267 trang được xuất bản năm 1997, hiện nay tại Pháp có rất nhiều tác phẩm của bà được dựng lên ở nhiều trường học, công viên, bảo tàng, bệnh viện...

Nhìn chung, các tác phẩm của bà vừa thể hiện một phong cách nghệ thuật đa dạng, có thể thích nghi với không gian kiến trúc rộng lớn, vừa có thể làm món đồ trang trí nghệ thuật nội thất. Khối tài sản văn hóa quý giá ấy đã được giới thiệu với công chúng Thủ đô năm 1978 tại Trung tâm Mỹ thuật Hà Nội, đây là lần đầu tiên tại Việt Nam có cuộc triển lãm nghệ thuật tự do, đương đại và trừu tượng.

Sau 1992 về Việt Nam, bà đã triển lãm nhiều nơi và thiết lập cơ sở tại số 1 đường Phan Bội Châu, TP Huế, trưng bày 150 tác phẩm và cư trú luôn tại đó. Năm 1996, bà mở lớp dạy mỹ thuật miễn phí cho trẻ em. Hầu hết tác phẩm của bà được làm bằng đủ loại chất liệu: Nhựa tổng hợp, đồng, nhôm, đá, đá ngọc, đất sét, thạch cao, sơn mài cẩn vỏ trứng, giấy, màu dầu... Và với mảnh xác máy bay B52, Điềm Phùng Thị có một mảng tác phẩm riêng về đề tài chiến tranh - hoà bình.

Sáng tạo

Đậm chất nữ tính trong mảng sáng tác về con người
Đậm chất nữ tính trong mảng sáng tác về con người

Tác phẩm của Điềm Phùng Thị vừa sang trọng vừa giản dị. Ngôn ngữ mới mà giản tiện, giống như trẻ con chơi trò  xếp hình, bà chỉ có 7 “chữ cái” để cấu thành thế giới tạo hình riêng của bà- gọi là “những ký hiệu” (signs). Nhà phê bình nghệ thuật Ray Mond Cogniat gọi là 7 mẫu tự, giáo sư Trần Văn Khê gọi là 7 nốt nhạc và các nhà nghiên cứu nghệ thuật châu Âu thì gọi là những mô-đun (modules). Các tác phẩm của bà là sự sắp xếp, lựa chọn bố cục, biến tấu và lắp ghép những mẫu tự ấy. 

Tiếng nói các mẫu tự làm nên thế giới riêng của Điềm Phùng Thị cũng có sự góp phần đáng kể của chất liệu. Bà thể nghiệm nhiều chất liệu một cách khéo léo, để đem lại những điểm nhấn trung tâm trong một mô hình tác phẩm. Ở các tác phẩm chỉ sử dụng một chất liệu như chì gò, gỗ, đất nung và đồng, ta thấy sự uyển chuyển trong bố cục, đặc biệt các tượng đài đều có chung một đặc điểm về cấu trúc không gian mang dáng dấp kỷ hà, giàu tính biểu tượng rất phù hợp với phong cách kiến trúc châu Âu hiện đại.

Điềm Phùng Thị lựa chọn cho mình góc nhìn riêng, đậm chất nữ tính. Nếu hiểu theo nghĩa tương đối, góc nhìn này ít nhiều đã tạo nên những dấu ấn độc đáo, khẳng định tài năng điêu khắc của bà trong mảng sáng tác về con người. Ở mảng này, quan điểm thẩm mỹ của bà tập trung cao độ cho sự hài hòa, gợi cảm từ thân thể con người, tạo thành cảm thức tươi mát và tinh tế, được thể hiện bằng các hình thể đơn giản hóa đến mức cao độ và mang tinh thần trừu tượng. Khi cần, những khối hình rắn vẫn có đường nét uyển chuyển mềm mại, để mô phỏng các hình tượng thường thấy trong đời sống của giới cần lao, qua những khối đá im lìm.

Điều khiến cho các tác phẩm của Điềm Phùng Thị không xa lạ với tư duy cảm tính phương Đông, đặc biệt "Việt Nam", là sự thể hiện những dạng thức hướng nội. Điều này càng dễ nhận thấy trong số những tác phẩm mang tư tưởng triết lý và chiêm nghiệm tâm linh, đòi hỏi người xem "cảm nhận" nhiều hơn là hiểu. Vì vậy, một số bức tượng sắp xếp theo ngôn ngữ của bảy mô-đun, ban đầu thấy rất khó hiểu, đòi hỏi phải có tư duy nghệ thuật mới đánh giá được. 

Đỉnh cao trong thành tựu tác phẩm của Điềm Phùng Thị là đã thâu tóm vào tác phẩm của mình tinh thần văn hóa Á, Âu một cách nhuần nhuyễn, đơn giản, gạn lọc và khoa học. Giới phê bình mỹ thuật châu Âu đánh giá cao nghệ thuật Điềm Phùng Thị ở sự thể hiện tâm hồn Á Đông gần gũi là do vậy. 

Làm nghệ thuật là sáng tạo những điều mọi người chưa từng nghĩ đến. Trong lĩnh vực điêu khắc cũng vậy. Khi xem Triển lãm Điềm Phùng Thị tại Hà Nội (năm 1995), nhà thơ Tố Hữu nhận xét: Với 7 ký hiệu (signs), Điềm Phùng Thị là một tạo hoá trong điêu khắc...!

Theo giaoducthoidai.vn

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Xin những bậc chuộng sách vở từ chương đừng mất công dở sử sách Nhà Nguyễn để tìm địa danh này vì nó không phải là cái tên chính thức do vua đặt ra; may ra chỉ có cụ già Léopold Cadière nặng lòng với Huế nên đưa cái tên Nam Đài vào tập san Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) mà thôi...

  • Như một thói quen, một sự tò mò khó lý giải cứ vào những đêm trăng sáng, nhiều người lại đến khu phế tích Tháp Đôi Liễu Cốc (thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) để xem vàng hiển linh.

  • Đây là một dinh thự 2 tầng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại, khác với các tòa nhà mang phong cách truyền thống trong Tử Cấm Thành.

  • Đây không phải là sản phẩm gì quá xa hoa mà chỉ là một vật dụng rất quen thuộc của người Việt xưa...

  • Trước khi có sự biến mất hoàn toàn các dấu tích cuối cùng của cửa “quan ải An-nam” trên đỉnh đèo Hải Vân, địa điểm cao nhất của đường cái quan nối liền Huế với Đà Nẵng, tôi thiết nghĩ cần hồi phục các kỷ niệm của nó bằng cách đưa ra các bức ảnh cho thấy tình trạng hiện nay, cũng như đưa ra một số lời giải thích ngắn gọn liên quan đến cửa ải xưa chưa đầy một thế kỷ này; nhưng hiện nay hoàn toàn bị phế bỏ và đang lần hồi mai một do ảnh hưởng tác hại của mưa nắng, của các loài cây cỏ bám cứng.

  • Phạm Duy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, hơn một phần ba cuộc đời ông sống ở Sài Gòn, hơn một phần ba sống ở ngoại quốc. Ông đi nhiều, yêu và được yêu cũng nhiều, kể cả người Pháp. Nhưng rồi qua trải nghiệm ông thấy người con gái Huế ông yêu là đẹp nhất, sâu sắc nhất...

  • Huyền Không Sơn Thượng hay còn gọi là chùa Huyền Không 2 cách cố đô Huế chừng 14 km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm (Hòn Vượn), xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

  • Không chỉ cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, Huế trước đây còn là kinh đô của nhà Nguyễn hàng trăm năm, nên đã hội tụ văn hoá nhiều miền của đất nước, tạo nên một di sản văn hoá đồ sộ, trong đó có CA DAO.

  • Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử, xây rồi phá, phá rồi xây nhưng vẻ đẹp trong lối kiến trúc của nhà thờ chính tòa Phủ Cam vẫn luôn hiện hữu, thách thức với thời gian.

  • “Tứ thú” xưa gồm ăn trầu, uống trà, hút thuốc, uống rượu được các bậc cha ông chơi và đạt đến một trình độ đẳng cấp.

  • Trải dòng lịch sử bi tráng của nước Việt, Hải Vân không chỉ là cung đèo kỳ vĩ mà còn đẫm máu xương vệ quốc. 

  • Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và lăng Minh Mạng. Trải qua thời gian với những biến cố lăng đã trở nên đổ nát.

  • Vua Hiệp Hòa (Nguyễn Phúc Hồng Dật, 1847 - 1883) là một trong những vị vua có số phận buồn nhất lịch sử Việt Nam...

  • Lễ bái ở lăng Minh Mạng, lính canh ở lăng Gia Long... là hình ảnh sinh động về con người ở kinh thành Huế xưa.

    Bài viết liên quan: 

    Hình ảnh hiếm có về kinh thành Huế những năm 1920

    Ảnh hiếm về kinh thành Huế những năm 1920 (2)

  • Cách đây gần 100 năm nhiều công trình kiến trúc ở Huế vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị xuống cấp và đổ nát như bây giờ.

  • Nhiều hình ảnh quý giá về kinh thành Huế của nhà Nguyễn trong khoảng năm 1919-1926 đã được nhiếp ảnh gia Pháp ghi lại...

  • Trong khuôn viên lăng vua Minh Mạng ở Huế có một di tích độc đáo nhưng ít người biết đến, đó là Tả tùng phòng trên núi Tịnh Sơn. Điểm đặc biệt của công trình này là cánh cửa vòm cuốn đã bị một cây si cổ thụ "nuốt chửng". Đây là minh chứng cho sức mạnh tàn phá của thiên nhiên và thời gian đối với các công trình do con người xây dựng.

  • Một bà Hoàng con đại gia, vợ ông vua Nguyễn nổi tiếng, nhan sắc Việt Nam đẹp nhất thế kỷ XX mà ngôi mộ của bà thua cả nhiều ngôi mộ của chị em tiểu thương chợ Đông Ba ở quê nhà. 

  • Người Huế vốn là người xứ kinh kỳ, nên lời ăn tiếng nói, cung cách ứng xử, đi lại cũng nhẹ nhàng, tri thức. Ẩm thực cung đình Huế cũng mang nhiều nét ảnh hưởng của cung cách hoàng gia: Ăn uống nhẹ nhàng, khoan thai, các món ăn ngoài khẩu vị ngon phải nhẹ và thanh, cách trình bày cũng phải đẹp, bắt mắt.

  • Ba giờ sáng, tại Đàn Nam Giao (Thừa Thiên Huế), không còn nghe tiếng hô đức vua xa giá, chỉ có âm thanh rì rầm dội vào rừng thông và những ánh mắt hướng về linh vị đặt trên bàn thờ. Những người dân đến Đàn Nam Giao để nguyện xin sự viên mãn, gia đình bình an.