Đi tìm hồn thơ Võ Quê qua những vần thơ lái

16:01 19/10/2011
TRẦN THỊ NGỌC LAN (Đọc tập thơ Ngược xuôi thế sự, Nxb Văn học, 2011)
[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Thơ lái vốn là cái phần hiếm quý của trí tuệ dân gian phát tiết trong một vài người. Tiền nhân chỉ làm một vài câu thơ lái hoặc một vài bài trong hoàn cảnh đặc biệt, như bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, hay cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi trong nền văn hóa dân tộc đã để lại tác phẩm đặc sắc. Ở đây Võ Quê làm thơ lái cả tập, cả đời, thành một phong cách, bộc lộ trí tuệ và tấm lòng ông đối với nước non, nhân quần. Tập thơ lái Ngược xuôi thế sự của Võ Quê là một sáng tạo mới lạ, độc đáo. Bài thơ lái đầu tiên của ông là bài thơ về trận lụt thế kỷ ở Huế năm 1999, nơi bao thân phận con người nổi nênh trong cơn hồng thủy:

Trời lụt ca nhi cũng trụt lời
Trời đong mưa lũ xuống trong đời
Vái lạy lụt tan lành váy lại
Đời cho du khách dạo đò chơi.
           
(Lụt thế kỷ 1999 cảm tác)

Thơ lái Võ Quê rất lạ, lúc ứa nước mắt, lúc lạc quan, lúc lặng im, thư giãn, lúc bất ngờ thảm khốc nhưng cũng ngập tràn hy vọng tươi xanh. Những bài thơ rất ngắn như trên nhưng lại vẽ ra một cuộc đời rộng lớn với nhiều thăng trầm ẩn tích. Người ta không những thấy ông thương con người, mà thương cả bầy kiến đang nhập nhòa trong nước lụt. Nếu độc giả để ý một chút sẽ thấy ngay những cụm từ được nói lái rất chuẩn, trời lụt - trụt lời, trời đong - trong đời, vái lạy - váy lại, đời cho - đò chơi. Cái phần lái này rất sắc sảo, trí tuệ, trở thành tâm điểm sáng tạo của mỗi bài thơ, đã xuất hiện trong tập thơ một cách dày đặc. Làm được như vậy, tác giả phải công phu lựa chọn từ ngữ, chi tiết, ý nghĩa, bối cảnh xã hội và những ý tưởng nhân từ để gửi gắm. Những bài thơ biểu hiện đời sống nhiều bất trắc, oái ăm ấy tuy dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người, nhưng cũng đòi hỏi bạn đọc cùng tư duy và đồng sáng tạo.

Đọc hết tập thơ ta rất ngạc nhiên nhận ra nhiều bài toàn bích. Nó rất đời, vừa kể chuyện vừa gợi, nói rất thản nhiên về cuộc sống, và vượt trên nỗi đau nhân quần là một nỗi buồn thế sự. Cách lựa chọn hình ảnh, chi tiết khá đặc sắc. “Đất tổ thiên tai làm đổ tất” (Nỗi đau mùa lũ lụt) gây sốc vì cảm quan thời thế. Đời người giàu nghèo vật lộn miếng ăn miếng sống, chua xót, đắng cay, trồi trụt. Nỗi đau có lúc ngưng đọng trong sự tồn tại rồi lại tiếp tục vận động trong vòng quay của nó. Khi các chi tiết thơ gói ghém được bản chất của đời sống, đó mới là thơ đích thực. Ông thương nhân quần vất vả lặn ngụp với miếng cơm manh áo. Tất cả những biến cố nhỏ nhất của cuộc sống cũng làm tóc nhà thơ thêm bạc. “Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau”.

Dạo quanh một vòng ta thấy, những đề tài thơ của Võ Quê được chọn lọc khá kỹ lưỡng và sâu sắc. Nghĩa là điều gì đáng nói ông mới viết ra. Cuộc sống nhân quần quanh ta thì muôn màu muôn vẻ, nhưng ông đã ôm chụp được những khoảnh khắc bản chất nhất. Từ sự giả dối hám lợi của thói đời, đến những hoạt cảnh vinh nhục của tha nhân, những quy luật giản đơn sâu cay, những ẩn dụ về cuộc sống… (Tự trào, Hoạt cảnh vùng đầm phá) hết thảy những nghịch cảnh chướng tai gai mắt đã được ông đề cập. Mỗi sự vật, sự việc và con người đều có sự vận động bên trong, đẩy đến những kết cục cười ra nước mắt. Ta thấy cuộc đời sao mà cực nhọc gian khổ thế. Đọc những cảnh này tôi thoáng nghĩ đến Đỗ Phủ lênh đênh trên dòng sông Tương Giang.

Một mảng quan trọng của thơ Võ Quê là bám sát những vấn đề thời sự xã hội. Ông không né tránh các tệ nạn xã hội, như quan chức tham nhũng, đục khoét nhân dân, phỉnh lừa, vơ vét, cơ hội. Đôi khi tác giả chỉ làm nhiệm vụ nêu ra, khơi gợi lên một hiện tượng xã hội để mọi người cảm nhận. Trách nhiệm của nhà thơ là gợi lên tứ thơ để độc giả cảm nhận, làm sao bài thơ cô đọng súc tích, ngắn gọn và độc đáo là tác giả đã thành công (Đầy tớ vét tiền bao tờ đấy/ Giành nhau tham nhũng chúng giàu nhanh). Ở một mức độ nào đó những bài thơ ấy giữ vai trò khai sáng. Những bài thơ chống tệ nạn xã hội rất đanh thép, bênh vực người nghèo, ghét cay ghét đắng cái xấu cái ác. Nhưng hình như đó chưa phải là âm hưởng chủ đạo của hồn thơ Võ Quê. Mà âm hưởng chủ đạo trong thơ ông vẫn là hồn quê chất phác đậm đà giản dị, yêu cái đẹp làng quê, nỗi đau đời, sự đồng cảm thương yêu dân nghèo. “Vật giá leo thang gạo lỏng nồi/ Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi” (Vật giá leo thang). Nếu không có cái tâm đau đời, thương đời thì không làm được những câu thơ thấm thía đó. Thơ Võ Quê cũng không phải là món thơ trào phúng chống thói hư tật xấu. Thiết nghĩ thơ ông là món đặc sản cần thiết cho ai muốn nhấm nháp vị đời đắng cay nhưng mặn mà đầy mồ hôi và muối mặn.

Trong thơ ông cũng có một số chính kiến này khác, nhưng ta không thấy xuất hiện con người cá nhân, trái lại, nhà thơ rất khiêm nhường ẩn mình trong câu chữ. Cũng viết về tình yêu, gia đình bè bạn, song ta không thấy một chút gì ông kể về mình. Đọc thơ ông, ta nhận ra một tấm lòng nhân ái, bao dung với con người, luôn tin tưởng vào tương lai sự sống (Quệt má vì yêu nên quá mệt/ Bầu lên hạnh phúc được bền lâu). Đọc mấy bài thơ về cô dâu Việt, thấy nỗi đau tha hương và thân phận con người trong đó. Thơ lái Võ Quê là một sáng tạo mới mẻ và ý nghĩa đối với đời sống. Thực ra thơ Võ Quê là thơ có tư tưởng và cá tính. Bất cứ một đề tài nào dưới ngòi bút Võ Quê cũng trở thành bổ ích, thú vị. Ta thấy hiện lên một đời sống với nhiều phong vị đời thường thân thuộc, tuy cũng có lúc lóe lên những phê phán nảy lửa. Nhưng Võ Quê không phải làm thơ để kể xấu con người, mà trong sự giễu cợt chua xót của ông vẫn có sự ấm áp nồng say của một tấm lòng nhân hậu.

Ông viết về người vợ yêu quý của mình: Số phận an bài ai bàn nữa! Câu thơ thản nhiên mà có nhiều nước mắt. Con người ai không giữ gìn và trân quý hạnh phúc, sao câu thơ nghe có giọt nước mắt ngậm ngùi của hạnh phúc lứa đôi trước những nẻo đường rủi may số phận. Hay như bài Thơ tặng Khoa thận nhân tạo bệnh viện TW Huế lại thể hiện sâu đậm tình cảm yêu thương của nhà thơ đối với người vợ, tình trìu mến cảm kích đối với những người thầy thuốc nhân đức, lòng cảm tạ chân thành sự sống mà họ mang lại cho gia đình và người thân của nhà thơ.

Võ Quê làm thơ rất có nghề. Giỏi nắm bắt cảnh huống, cái thần và lựa chọn ngôn từ biểu đạt. Ông ý thức sử dụng câu chữ là để diễn tả ý tưởng, nên ông tuyệt đối không dính liền bản thân với chữ nghĩa để thổn thức can tràng! Ông là người tỉnh táo, biết rõ giá trị biểu đạt của ngôn ngữ và vần điệu nghệ thuật. Ngay khi tác giả viết về nhà thơ và thơ có cái gì đó ngậm ngùi, nhưng ông tỉnh táo chấp nhận thơ luôn đồng hành cùng cuộc sống. Thơ là một công cụ của nhà thơ, chứ không bao giờ nhà thơ bị ám ảnh phụ thuộc vào ngôn từ. Cũng có nhà thơ vấn vương ám ảnh song trùng. Nhưng có những nhà thơ biết thoát ra làm chủ ngôn ngữ. Khi đó người ta có thể nhảy múa với tư tưởng mà không bị tổn thương vì những hệ lụy của thơ và trò đời. Có những câu thơ gợi được chiều sâu mênh mang: “Hoài mang thương nhớ đóa hoàng mai”.

Võ Quê có những câu thơ quả là tài tình. Cách chọn đề tài, khu biệt phạm vi sáng tác, và dùng một thể loại thơ tứ tuyệt đã là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ. Nó phát huy trí tuệ dân gian, dễ nhớ dễ thuộc đi vào lòng người và bền vững tươi xanh như đời sống. Chính vì thế tôi tin tưởng ở sức sống của thơ Võ Quê.

Tôi quyết định viết về thơ ông cũng vì hai lý do: cái lạc quan và thương đời trong thơ ông. Ông quan tâm sâu sắc đến cái nhân quần và nỗi đau tê tái nhưng không hề bông phèng của một nhà thơ có nghề và từng trải.

Đôi khi thơ Võ Quê tỉnh khô, thản nhiên, nhưng sự đả phá và phê phán thì không hề giảm đi. Đã đấu tranh là một mất một còn, không khoan nhượng. Ở thơ Võ Quê cũng xuất hiện một vài câu thơ đay nghiến, những tính từ thân phận, nhưng tôi không đánh giá cao những câu thơ này - Dù biết đó là lòng mong muốn tất yếu và thiết thực của nhân dân, rau nào sâu ấy, gieo gì gặt nấy, trong dân gian là vậy - Cũng bởi vì một lẽ rằng Võ Quê là một hồn thơ nhân ái và mạnh mẽ.

Tôi băn khoăn nếu Võ Quê cứ làm mãi thơ lái thì sao. Không sao cả, nếu ông tiếp tục phát hiện thêm nhiều tứ thơ lạ, nhiều nút thắt oái ăm, nhiều từ ngữ lái độc đáo, thì thơ lái của ông sẽ không bao giờ cũ. Mà đề tài thì cuộc sống sẽ cung cấp cho ông tràn ngập thỏa sức vẫy vùng. Đôi khi cuộc sống quá mệt mỏi và lo âu, đọc thơ lái Võ Quê ta cũng thấy vui lên một chút.

- Viết câu chi đó?

- Có viết chi đâu!

Trống rỗng tim, đầu
Tìm đâu chữ nghĩa...

Một bài thơ diễn tả sự sáng tạo, nỗi đau nghệ thuật, ưu thời mẫn thế, mà ta thấy cuộc đời vẫn trưng bày ra chấp chới và nỗi lo lơ lửng vô hình. Có phải đó là trạng thái mất niềm tin và vô phương hướng của con người thời đại. Là một cuộc đối thoại, độc thoại đau thương và trống rỗng, là tâm trạng con người trong bối cảnh hỗn mang của xã hội?

Trong thơ Võ Quê, ta cũng thấy thấp thoáng một dòng Hương, những phận người và cái đẹp nổi nênh giữa dòng trường giang. Câu thơ cũng nổi nênh, chênh chao vậy thôi. Kéo theo tâm trạng nao nao của con người và bạn đọc. Đôi lúc ta giật mình, sửng sốt vì cái sâu xa dữ dội của một câu thơ: “Đường trần thế lắm người thề trấn lột/ Kẻo mai sau là một cõi đi về”. Cuộc đời thật là kinh khủng khôn lường. “Phu tướng vô minh dân kinh hãi/ Ngô đồng lá rớt Thái Hòa ghê!” Câu thơ làm ta giật thót mình khi dùng điển tích quá trúng và đắc địa. Chỉ một hình ảnh súc tích mà nói được vấn đề lớn của cục diện xã hội. Đôi khi những nghịch cảnh được phát hiện khá thú vị: “Bây chừ thế sự khác xưa/ Món cùng đinh lại làm vua cung đình”. Câu thơ hay, thiết tha, phát hiện một thực tế, một nghịch lý là các món ăn dân dã đã lên ngôi (làm vua) cho thực khách thưởng thức.

Để khảo sát sự tài tình của thơ lái Võ Quê ta hãy tiếp tục thưởng thức bài thơ sau:

Vì môi trường để mương trồi
Khỏa thân khẩn thiết xin mời bóp, thoa
Núi rừng thịt nướng rồi cha!
Trương mồi này nạc, xương, da, môi, trường…
           
(Khỏa thân vì môi trường)

Bài thơ quả thực là hay và độc đáo. Cặp lái môi trường - mương trồi, rồi khỏa thân khẩn thoa, núi rừng nướng rồi, và chẻ đôi từ môi - trường làm ta ngạc nhiên cười vỡ bụng. Chả là gần đây có cô ca sĩ khẩn thiết khỏa thân vì môi trường nên đã chạm nọc Võ Quê. Ông không hề nói cái đúng sai nhưng người đọc đã lĩnh hội trọn vẹn tâm tình gửi gắm của ông về hiện tượng trên.

Rồi đến cả chuyện báo lá cải cũng làm nhà thơ ngứa mắt. Lá cải - lái cả, thật đơn giản, ông cho vào giữa ba chữ “do đồng tiền” thế là xong, lột trần bản chất vấn đề. Rồi chuyện đá bóng, chuyện sân gôn của đại gia ăn chơi phè phỡn dồn đuổi dân nghèo cũng bị ông phanh phui không thương tiếc. Các vấn đề thời sự, dân sinh, xã hội nóng bỏng đều được đề cập. Thật ra, làm được chừng ấy việc đối với thơ lái Võ Quê cũng đã là đáng kể. Trong bài viết này, tôi không tập trung vào kỹ xảo lái thơ mà chú trọng đến tâm huyết của nhà thơ trong sự nghiệp. Để trực tiếp khảo sát những vần thơ lái đặc sắc, xin mời bạn đọc chỉ việc mở tập thơ ra.

T.T.N.L
(272/10-11)






Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.

  • Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.

  • PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.

  • ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.

  • NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".

  • HOÀNG KIM DUNG      (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập  truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)

  • PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.

  • ANH DŨNGLTS:  Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.

  • SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?

  • MINH QUANG                Trời tròn lưng bánh tét                Đất vuông lòng bánh chưng                Dân nghèo thương ngày Tết                Gói đất trời rưng rưng...

  • NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.

  • Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.

  • NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.

  • ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.

  • HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.

  • FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.

  • KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.