Đi tìm hồn thơ Võ Quê qua những vần thơ lái

16:01 19/10/2011
TRẦN THỊ NGỌC LAN (Đọc tập thơ Ngược xuôi thế sự, Nxb Văn học, 2011)
[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Thơ lái vốn là cái phần hiếm quý của trí tuệ dân gian phát tiết trong một vài người. Tiền nhân chỉ làm một vài câu thơ lái hoặc một vài bài trong hoàn cảnh đặc biệt, như bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, hay cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi trong nền văn hóa dân tộc đã để lại tác phẩm đặc sắc. Ở đây Võ Quê làm thơ lái cả tập, cả đời, thành một phong cách, bộc lộ trí tuệ và tấm lòng ông đối với nước non, nhân quần. Tập thơ lái Ngược xuôi thế sự của Võ Quê là một sáng tạo mới lạ, độc đáo. Bài thơ lái đầu tiên của ông là bài thơ về trận lụt thế kỷ ở Huế năm 1999, nơi bao thân phận con người nổi nênh trong cơn hồng thủy:

Trời lụt ca nhi cũng trụt lời
Trời đong mưa lũ xuống trong đời
Vái lạy lụt tan lành váy lại
Đời cho du khách dạo đò chơi.
           
(Lụt thế kỷ 1999 cảm tác)

Thơ lái Võ Quê rất lạ, lúc ứa nước mắt, lúc lạc quan, lúc lặng im, thư giãn, lúc bất ngờ thảm khốc nhưng cũng ngập tràn hy vọng tươi xanh. Những bài thơ rất ngắn như trên nhưng lại vẽ ra một cuộc đời rộng lớn với nhiều thăng trầm ẩn tích. Người ta không những thấy ông thương con người, mà thương cả bầy kiến đang nhập nhòa trong nước lụt. Nếu độc giả để ý một chút sẽ thấy ngay những cụm từ được nói lái rất chuẩn, trời lụt - trụt lời, trời đong - trong đời, vái lạy - váy lại, đời cho - đò chơi. Cái phần lái này rất sắc sảo, trí tuệ, trở thành tâm điểm sáng tạo của mỗi bài thơ, đã xuất hiện trong tập thơ một cách dày đặc. Làm được như vậy, tác giả phải công phu lựa chọn từ ngữ, chi tiết, ý nghĩa, bối cảnh xã hội và những ý tưởng nhân từ để gửi gắm. Những bài thơ biểu hiện đời sống nhiều bất trắc, oái ăm ấy tuy dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người, nhưng cũng đòi hỏi bạn đọc cùng tư duy và đồng sáng tạo.

Đọc hết tập thơ ta rất ngạc nhiên nhận ra nhiều bài toàn bích. Nó rất đời, vừa kể chuyện vừa gợi, nói rất thản nhiên về cuộc sống, và vượt trên nỗi đau nhân quần là một nỗi buồn thế sự. Cách lựa chọn hình ảnh, chi tiết khá đặc sắc. “Đất tổ thiên tai làm đổ tất” (Nỗi đau mùa lũ lụt) gây sốc vì cảm quan thời thế. Đời người giàu nghèo vật lộn miếng ăn miếng sống, chua xót, đắng cay, trồi trụt. Nỗi đau có lúc ngưng đọng trong sự tồn tại rồi lại tiếp tục vận động trong vòng quay của nó. Khi các chi tiết thơ gói ghém được bản chất của đời sống, đó mới là thơ đích thực. Ông thương nhân quần vất vả lặn ngụp với miếng cơm manh áo. Tất cả những biến cố nhỏ nhất của cuộc sống cũng làm tóc nhà thơ thêm bạc. “Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau”.

Dạo quanh một vòng ta thấy, những đề tài thơ của Võ Quê được chọn lọc khá kỹ lưỡng và sâu sắc. Nghĩa là điều gì đáng nói ông mới viết ra. Cuộc sống nhân quần quanh ta thì muôn màu muôn vẻ, nhưng ông đã ôm chụp được những khoảnh khắc bản chất nhất. Từ sự giả dối hám lợi của thói đời, đến những hoạt cảnh vinh nhục của tha nhân, những quy luật giản đơn sâu cay, những ẩn dụ về cuộc sống… (Tự trào, Hoạt cảnh vùng đầm phá) hết thảy những nghịch cảnh chướng tai gai mắt đã được ông đề cập. Mỗi sự vật, sự việc và con người đều có sự vận động bên trong, đẩy đến những kết cục cười ra nước mắt. Ta thấy cuộc đời sao mà cực nhọc gian khổ thế. Đọc những cảnh này tôi thoáng nghĩ đến Đỗ Phủ lênh đênh trên dòng sông Tương Giang.

Một mảng quan trọng của thơ Võ Quê là bám sát những vấn đề thời sự xã hội. Ông không né tránh các tệ nạn xã hội, như quan chức tham nhũng, đục khoét nhân dân, phỉnh lừa, vơ vét, cơ hội. Đôi khi tác giả chỉ làm nhiệm vụ nêu ra, khơi gợi lên một hiện tượng xã hội để mọi người cảm nhận. Trách nhiệm của nhà thơ là gợi lên tứ thơ để độc giả cảm nhận, làm sao bài thơ cô đọng súc tích, ngắn gọn và độc đáo là tác giả đã thành công (Đầy tớ vét tiền bao tờ đấy/ Giành nhau tham nhũng chúng giàu nhanh). Ở một mức độ nào đó những bài thơ ấy giữ vai trò khai sáng. Những bài thơ chống tệ nạn xã hội rất đanh thép, bênh vực người nghèo, ghét cay ghét đắng cái xấu cái ác. Nhưng hình như đó chưa phải là âm hưởng chủ đạo của hồn thơ Võ Quê. Mà âm hưởng chủ đạo trong thơ ông vẫn là hồn quê chất phác đậm đà giản dị, yêu cái đẹp làng quê, nỗi đau đời, sự đồng cảm thương yêu dân nghèo. “Vật giá leo thang gạo lỏng nồi/ Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi” (Vật giá leo thang). Nếu không có cái tâm đau đời, thương đời thì không làm được những câu thơ thấm thía đó. Thơ Võ Quê cũng không phải là món thơ trào phúng chống thói hư tật xấu. Thiết nghĩ thơ ông là món đặc sản cần thiết cho ai muốn nhấm nháp vị đời đắng cay nhưng mặn mà đầy mồ hôi và muối mặn.

Trong thơ ông cũng có một số chính kiến này khác, nhưng ta không thấy xuất hiện con người cá nhân, trái lại, nhà thơ rất khiêm nhường ẩn mình trong câu chữ. Cũng viết về tình yêu, gia đình bè bạn, song ta không thấy một chút gì ông kể về mình. Đọc thơ ông, ta nhận ra một tấm lòng nhân ái, bao dung với con người, luôn tin tưởng vào tương lai sự sống (Quệt má vì yêu nên quá mệt/ Bầu lên hạnh phúc được bền lâu). Đọc mấy bài thơ về cô dâu Việt, thấy nỗi đau tha hương và thân phận con người trong đó. Thơ lái Võ Quê là một sáng tạo mới mẻ và ý nghĩa đối với đời sống. Thực ra thơ Võ Quê là thơ có tư tưởng và cá tính. Bất cứ một đề tài nào dưới ngòi bút Võ Quê cũng trở thành bổ ích, thú vị. Ta thấy hiện lên một đời sống với nhiều phong vị đời thường thân thuộc, tuy cũng có lúc lóe lên những phê phán nảy lửa. Nhưng Võ Quê không phải làm thơ để kể xấu con người, mà trong sự giễu cợt chua xót của ông vẫn có sự ấm áp nồng say của một tấm lòng nhân hậu.

Ông viết về người vợ yêu quý của mình: Số phận an bài ai bàn nữa! Câu thơ thản nhiên mà có nhiều nước mắt. Con người ai không giữ gìn và trân quý hạnh phúc, sao câu thơ nghe có giọt nước mắt ngậm ngùi của hạnh phúc lứa đôi trước những nẻo đường rủi may số phận. Hay như bài Thơ tặng Khoa thận nhân tạo bệnh viện TW Huế lại thể hiện sâu đậm tình cảm yêu thương của nhà thơ đối với người vợ, tình trìu mến cảm kích đối với những người thầy thuốc nhân đức, lòng cảm tạ chân thành sự sống mà họ mang lại cho gia đình và người thân của nhà thơ.

Võ Quê làm thơ rất có nghề. Giỏi nắm bắt cảnh huống, cái thần và lựa chọn ngôn từ biểu đạt. Ông ý thức sử dụng câu chữ là để diễn tả ý tưởng, nên ông tuyệt đối không dính liền bản thân với chữ nghĩa để thổn thức can tràng! Ông là người tỉnh táo, biết rõ giá trị biểu đạt của ngôn ngữ và vần điệu nghệ thuật. Ngay khi tác giả viết về nhà thơ và thơ có cái gì đó ngậm ngùi, nhưng ông tỉnh táo chấp nhận thơ luôn đồng hành cùng cuộc sống. Thơ là một công cụ của nhà thơ, chứ không bao giờ nhà thơ bị ám ảnh phụ thuộc vào ngôn từ. Cũng có nhà thơ vấn vương ám ảnh song trùng. Nhưng có những nhà thơ biết thoát ra làm chủ ngôn ngữ. Khi đó người ta có thể nhảy múa với tư tưởng mà không bị tổn thương vì những hệ lụy của thơ và trò đời. Có những câu thơ gợi được chiều sâu mênh mang: “Hoài mang thương nhớ đóa hoàng mai”.

Võ Quê có những câu thơ quả là tài tình. Cách chọn đề tài, khu biệt phạm vi sáng tác, và dùng một thể loại thơ tứ tuyệt đã là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ. Nó phát huy trí tuệ dân gian, dễ nhớ dễ thuộc đi vào lòng người và bền vững tươi xanh như đời sống. Chính vì thế tôi tin tưởng ở sức sống của thơ Võ Quê.

Tôi quyết định viết về thơ ông cũng vì hai lý do: cái lạc quan và thương đời trong thơ ông. Ông quan tâm sâu sắc đến cái nhân quần và nỗi đau tê tái nhưng không hề bông phèng của một nhà thơ có nghề và từng trải.

Đôi khi thơ Võ Quê tỉnh khô, thản nhiên, nhưng sự đả phá và phê phán thì không hề giảm đi. Đã đấu tranh là một mất một còn, không khoan nhượng. Ở thơ Võ Quê cũng xuất hiện một vài câu thơ đay nghiến, những tính từ thân phận, nhưng tôi không đánh giá cao những câu thơ này - Dù biết đó là lòng mong muốn tất yếu và thiết thực của nhân dân, rau nào sâu ấy, gieo gì gặt nấy, trong dân gian là vậy - Cũng bởi vì một lẽ rằng Võ Quê là một hồn thơ nhân ái và mạnh mẽ.

Tôi băn khoăn nếu Võ Quê cứ làm mãi thơ lái thì sao. Không sao cả, nếu ông tiếp tục phát hiện thêm nhiều tứ thơ lạ, nhiều nút thắt oái ăm, nhiều từ ngữ lái độc đáo, thì thơ lái của ông sẽ không bao giờ cũ. Mà đề tài thì cuộc sống sẽ cung cấp cho ông tràn ngập thỏa sức vẫy vùng. Đôi khi cuộc sống quá mệt mỏi và lo âu, đọc thơ lái Võ Quê ta cũng thấy vui lên một chút.

- Viết câu chi đó?

- Có viết chi đâu!

Trống rỗng tim, đầu
Tìm đâu chữ nghĩa...

Một bài thơ diễn tả sự sáng tạo, nỗi đau nghệ thuật, ưu thời mẫn thế, mà ta thấy cuộc đời vẫn trưng bày ra chấp chới và nỗi lo lơ lửng vô hình. Có phải đó là trạng thái mất niềm tin và vô phương hướng của con người thời đại. Là một cuộc đối thoại, độc thoại đau thương và trống rỗng, là tâm trạng con người trong bối cảnh hỗn mang của xã hội?

Trong thơ Võ Quê, ta cũng thấy thấp thoáng một dòng Hương, những phận người và cái đẹp nổi nênh giữa dòng trường giang. Câu thơ cũng nổi nênh, chênh chao vậy thôi. Kéo theo tâm trạng nao nao của con người và bạn đọc. Đôi lúc ta giật mình, sửng sốt vì cái sâu xa dữ dội của một câu thơ: “Đường trần thế lắm người thề trấn lột/ Kẻo mai sau là một cõi đi về”. Cuộc đời thật là kinh khủng khôn lường. “Phu tướng vô minh dân kinh hãi/ Ngô đồng lá rớt Thái Hòa ghê!” Câu thơ làm ta giật thót mình khi dùng điển tích quá trúng và đắc địa. Chỉ một hình ảnh súc tích mà nói được vấn đề lớn của cục diện xã hội. Đôi khi những nghịch cảnh được phát hiện khá thú vị: “Bây chừ thế sự khác xưa/ Món cùng đinh lại làm vua cung đình”. Câu thơ hay, thiết tha, phát hiện một thực tế, một nghịch lý là các món ăn dân dã đã lên ngôi (làm vua) cho thực khách thưởng thức.

Để khảo sát sự tài tình của thơ lái Võ Quê ta hãy tiếp tục thưởng thức bài thơ sau:

Vì môi trường để mương trồi
Khỏa thân khẩn thiết xin mời bóp, thoa
Núi rừng thịt nướng rồi cha!
Trương mồi này nạc, xương, da, môi, trường…
           
(Khỏa thân vì môi trường)

Bài thơ quả thực là hay và độc đáo. Cặp lái môi trường - mương trồi, rồi khỏa thân khẩn thoa, núi rừng nướng rồi, và chẻ đôi từ môi - trường làm ta ngạc nhiên cười vỡ bụng. Chả là gần đây có cô ca sĩ khẩn thiết khỏa thân vì môi trường nên đã chạm nọc Võ Quê. Ông không hề nói cái đúng sai nhưng người đọc đã lĩnh hội trọn vẹn tâm tình gửi gắm của ông về hiện tượng trên.

Rồi đến cả chuyện báo lá cải cũng làm nhà thơ ngứa mắt. Lá cải - lái cả, thật đơn giản, ông cho vào giữa ba chữ “do đồng tiền” thế là xong, lột trần bản chất vấn đề. Rồi chuyện đá bóng, chuyện sân gôn của đại gia ăn chơi phè phỡn dồn đuổi dân nghèo cũng bị ông phanh phui không thương tiếc. Các vấn đề thời sự, dân sinh, xã hội nóng bỏng đều được đề cập. Thật ra, làm được chừng ấy việc đối với thơ lái Võ Quê cũng đã là đáng kể. Trong bài viết này, tôi không tập trung vào kỹ xảo lái thơ mà chú trọng đến tâm huyết của nhà thơ trong sự nghiệp. Để trực tiếp khảo sát những vần thơ lái đặc sắc, xin mời bạn đọc chỉ việc mở tập thơ ra.

T.T.N.L
(272/10-11)






Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HỒNG NHUĐó là “Tình bậc thang” (NXB Hội Nhà văn 2006) và “Mặt cắt” (NXB Hội Nhà văn 2007) của một nữ thi sĩ mà cho đến nay không nhiều người biết đến, ít nhất là trong làng thơ. Vì một lẽ rất giản đơn: chị mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vài ba năm nay thôi.

  • FAN ANHTrong cuộc sống của tất cả chúng ta, đôi khi nụ cười không đồng nghĩa với sự hạnh phúc, cũng như nước mắt không phải bao giờ cũng đồng điệu với nỗi đau. Chính vì thế, mặc dù tiểu thuyết Ba ơi, mình đi đâu? của Jean Louis Fournier là một tác phẩm có thể “gây ra” không ít những tiếng cười, nhưng cảm xúc thanh lọc (Catharsis) mà cuốn sách nhỏ này mang lại cũng lớn lao như bất kì một vở bi kịch nào.

  • Ngày 6 tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội, chúng tôi đến thăm nhà thơ Dương Tường tại nhà riêng. Dương Tường ngồi sau một chiếc bàn nhỏ và thấp chất đầy sách vở và ly tách giữa một căn phòng rộng dùng làm phòng triển lãm tranh. Tranh treo kín các tường.

  • ĐOÀN TUẤNTrong tâm tưởng của tôi, thi sĩ Nguyễn Bính là một người có dáng gầy, vóc nhỏ, gương mặt nhẹ nhõm với đôi mắt sáng, tinh anh, mũi dọc dừa và cái miệng cân đối. Tóc Nguyễn Bính không bao giờ để dài. Áo quần Nguyễn Bính thường có màu sáng. Ông đi lại nhanh nhẹn, nhiều khi vội vã. Gương mặt Nguyễn Bính là một gương mặt ưa nhìn bởi trong đó chứa đựng chiều sâu của nhiều ý nghĩ và sắc mặt thay đổi theo tâm trạng thất thường của ông.

  • PHẠM QUANG TRUNGTôi muốn nói đến bài “ Tạm biệt” (hay “ Tạm biệt Huế”) của nhà thơ Thu Bồn. Dẫu đã có nhiều bài thơ hay, rất hay lấy cảm hứng từ Huế, tôi dám quả quyết là nó sẽ vẫn được nhắc tới như là một trong những bài thơ hay nhất. Xin kể một kỷ niệm đẹp riêng với tôi.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊNâng hợp tuyển “Hải Bằng” (HTHB) sang trọng và trĩu nặng trên tay, thật nhiều cảm xúc tràn đến với tôi. Cuốn sách được gia đình nhà thơ Hải Bằng tặng cho tất cả những người đến dự ngày giỗ lần thứ 11 của nhà thơ được tổ chức tại một ngôi nhà mới xây ở cuối đường Thanh Hải - lại là tên nhà thơ quen thuộc của xứ Huế.

  • TÔN PHƯƠNG LANCũng như những nhà văn mặc áo lính thuộc thế hệ đầu và tờ tạp chí Văn nghệ quân đội của họ, Trần Dần là một tên tuổi quen thuộc mà gắn với tên tuổi ông là cuốn tiểu thuyết Người người lớp lớp. Là một học sinh thành phố, khi Cách mạng tháng Tám thành công, 19 tuổi, ông bắt đầu hoạt động cách mạng rồi đầu quân tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động văn nghệ.

  • Hồ Thế Hà sinh năm 1955, quê ở thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Anh tham gia quân đội từ 1978 đến 1982, chiến đấu tại Campuchia. Hồ Thế Hà tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Huế năm 1985 và được giữ lại trường. Hiện anh là Phó Giáo sư, Tiến sĩ đang giảng dạy tại khoa Ngữ văn, trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Anh đồng thời là Ủy viên Ban chấp hành Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Huế nhiệm kì: 2000 - 2005; 2005 - 2010. Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, nhiệm kì 2000 - 2005; 2005 - 2010.

  • PHẠM PHÚ PHONGĐúng vào dịp Huế chuẩn bị cho Festival lần thứ III năm 2004, Vĩnh Quyền cho tái bản tập ký và truyện Huế mình, tập sách mới in trước đó chưa tròn một năm, năm 2003. Trước khi có Huế mình, Vĩnh Quyền đã có nhiều tác phẩm được bạn đọc chú ý như các tiểu thuyết lịch sử Vầng trăng ban ngày, Mạch nước trong, Trước rạng động, các tập truyện Người tử tù không chết, Người vẽ chân dung thế gian, Màu da thượng đế, tập bút ký Ngày và đêm Panduranga và tập tạp văn Vàng mai.

  • ...Không có sự lựa chọn nào cả, tôi đến với thơ như một nghiệp dĩ. Tôi nghĩ thơ là một thứ tôn giáo không có giáo chủ. Ở đây, các tín đồ của nó đều được mặc khải về sự bi hoan trần thế và năng lực sẻ chia những nỗi niềm thân phận. Cuộc đời vốn có cái cười và cái khóc. Người ta, ai cũng có thể cười theo kiểu cười của kẻ khác, còn khóc thì phải khóc bằng nước mắt của chính mình. Với tôi, thơ là âm bản của nước mắt...

  • …Có thể thấy gần đây có những xu hướng văn học gây “hot” trong độc giả, ví như xu hướng khai thác truyện đồng tính. Truyện của tôi xin khước từ những “cơn nóng lạnh” có tính nhất thời ấy của thị trường. Tôi bắt đầu bằng chính những câu chuyện giản đơn của cuộc sống hàng ngày, những điều giản đơn mà có thể vô tình bạn bước qua…

  • NGÔ KHAKỷ niệm 40 năm ngày Bác Hồ ra đi, chúng ta đều nhớ lại di chúc thiêng liêng của Bác để lại cho nhân dân ta. Đó là tình cảm và niềm tin của Bác đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009 và hết)

  • Nguyễn Khắc Phê quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh. Anh xuất thân trong một gia đình trí thức. Bố anh từng đậu Hoàng Giáp năm 19 tuổi. Các anh trai đều là bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ nổi tiếng như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi... Có người nói vui “Nguyễn Khắc Phê con nhà quan tính nhà lính”.

  • VĂN CẦM HẢI(Đọc “Ngôi nhà vắng giữa bến sông”, Tập truyện ngắn của Nguyễn Kiên - Nxb Hội Nhà văn, 2004)

  • NGUYỄN QUANG SÁNGMấy năm gần đây, dân ta đi nước ngoài càng ngày càng nhiều, đi hội nghị quốc tế, đi học, đi làm ăn, đi chơi, việc xuất ngoại đã trở nên bình thường. Đi đâu? Đi Mỹ, đi Pháp, đi Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc... Nhà văn Văn Cầm Hải cũng đi, chuyến đi này của anh, anh không đi những nơi tôi kể trên, anh đi Tây Tạng, rất lạ đối với tôi.

  • HÀ KHÁNH LINHDân tộc ta có hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, đã xảy ra nhiều cuộc nội loạn ngoại xâm, nhiều thế hệ người Việt Nam đã cầm vũ khí ra trận giết giặc cứu nước, nhưng mãi đến cuối thế kỷ 20 những chàng trai nước Việt mới phải đi giữ nước từ xa, mới đi giữ nước mà mang trong lòng nỗi nhớ nước như tứ thơ của Phạm Sĩ Sáu.

  • LÊ VĂN THÊSau sáu năm (kể từ 2002) nhà văn Cao Hạnh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, (cuối năm 2008); Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị mới có thêm một nhà văn được kết nạp. Đó là Văn Xương.

  • NGÔ MINHTrong đợt đi Trại viết ở Khu du lịch nước nóng Thanh Tân, anh em văn nghệ chúng tôi được huyện Phong Điền cho đi dạo phá Tam Giang một ngày. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thế là người dẫn đường. Anh dân sở tại, thuộc lòng từng tấc đất cổ xưa của huyện.

  • PHẠM PHÚ PHONG…Làng em đây, núi rừng Trung Việt cũng là đây/Xưa kia đã hùng dũng đánh Tây/Giờ lại hiên ngang xây thành chống Mỹ/Đường Trường Sơn là đường chân lý/Đã cùng quê em kết nghĩa hẹn hò… (Quê em, 1971)