OGAWA MIMEI
Minh họa: NGÔ LAN HƯƠNG
![]() |
| Mimei Ogawa - Ảnh: wiki |
Ogawa Mimei (1882 - 1961) là một trong những nhà văn đầu tiên xuất bản truyện dành cho thiếu nhi, được ca tụng như là “Andersen của Nhật Bản”, là “Cha đẻ của văn học nhi đồng Nhật Bản”. Suốt cuộc đời sáng tác của mình, ông để lại chừng 1200 tác phẩm, phần lớn là truyện ngắn với nội dung nhẹ nhàng, có phần huyễn tưởng nhưng đầy tính nhân văn, cũng có những tác phẩm có khuynh hướng phê phán xã hội nhưng ấm áp, gần gũi với cả người lớn và trẻ em.
Ấy là khoảng thời gian mà khắp nơi, từ thị trấn ra đến cánh đồng, đều phủ một màu xanh của cây cối.
Vào một đêm trăng thanh gió mát, một bà cụ sống cô độc trong ngôi nhà yên tĩnh nằm ven thị trấn đang ngồi khâu vá bên cửa sổ.
Ánh sáng ngọn đèn tĩnh lặng soi chiếu xung quanh. Bà cụ đã lớn tuổi nên mắt đã mờ, không xâu được sợi chỉ qua lỗ kim nên phải đưa lên đưa xuống trước ánh đèn để nhìn cho rõ và vo xoắn sợi chỉ mảnh bằng đầu những ngón tay nhăn nheo.
Ánh trăng chiếu rọi khắp nơi một màu xanh nhạt. Cây cối, nhà cửa, núi đồi, tất cả như đắm chìm dưới mặt nước ấm áp. Bà lão cứ ngồi như thế, vừa làm việc vừa nghĩ ngợi về thời thanh xuân của mình, nhớ về những người thân ở nơi xa, về đứa cháu gái đang sống xa cách.
Xung quanh tĩnh lặng, chỉ có tiếng chiếc đồng hồ báo thức đặt trên kệ chạy tích tắc. Thỉnh thoảng, tiếng rao bán hàng rong từ phía những con hẻm náo nhiệt, đông người qua lại ở thị trấn và âm thanh xình xịch mơ hồ của những đoàn tàu chạy qua vọng đến.
Bà lão ngồi với tâm trạng bình thản, lơ đãng như mơ màng, thậm chí như không nhớ ra mình đang làm gì ở đâu lúc này.
Bỗng có tiếng gõ lộc cộc ở cửa ngoài. Bà lão nghiêng đôi tai đã khá nặng của mình về phía phát ra âm thanh. Giờ này hẳn chẳng còn ai đến. Bà nghĩ ấy chắc là tiếng gió. Gió thường thổi vô định qua thị trấn hay cánh đồng như thế.
Đang nghĩ thế thì lần này lại có tiếng bước chân khe khẽ ngay dưới cửa sổ. Khác với mọi khi, bà lắng tai nghe.
“Bà ơi, bà ơi!” - Có tiếng ai đó gọi.
Thoạt tiên, bà lão tưởng là do tai mình nhưng sau đó bà liền dừng tay.
“Bà ơi, bà mở cửa sổ ra đi!” - Lại có tiếng ai đó nói.
Ai vậy nhỉ, bà nghĩ, rồi đứng dậy mở cửa sổ ra. Bên ngoài, ánh trăng bàng bạc soi sáng xung quanh như ban ngày.
Một người đàn ông không cao lắm đang đứng bên dưới cửa sổ, ngước mặt nhìn lên. Anh ta đeo cặp kính màu đen và để râu.
“Tôi không biết anh, anh là ai thế?” - Bà hỏi.
Bà lão nhìn khuôn mặt người đàn ông không quen, thầm nghĩ chắc có lẽ anh ta vào nhầm nhà nào đó.
“Cháu là người bán kính. Cháu có nhiều loại khác nhau. Lần đầu cháu đến đây nhưng thật sự là một thị trấn rất dễ chịu. Đêm nay trăng sáng quá nên đi bán dạo thế này” - Người đàn ông nói.
Thấy mình vừa nãy vì mắt mờ nên không xâu được kim, bà bèn hỏi:
“Vậy anh có cái nào thích hợp để lão có thể nhìn rõ được không?”
Người đàn ông liền mở nắp chiếc hộp đang xách trên tay. Tìm trong đó chiếc kính phù hợp với bà, một lúc sau lấy ra một cặp kính to gọng đồi mồi trao cho bà lão đang thò mặt ra bên ngoài cửa sổ.
“Bảo đảm, với cái này bà sẽ nhìn rõ bất cứ vật gì.” - Người đàn ông nói.
Mặt đất dưới chân người đàn ông đang đứng bên dưới cửa sổ, nhiều loại hoa cỏ trắng, hồng, xanh nở rộ trong bóng tối dưới ánh trăng, tỏa hương thơm ngát.
Bà lão đeo thử cặp kính vào. Quay nhìn thử vào chiếc đồng hồ báo thức và những con chữ trên tờ lịch thì thấy rõ mồn một. Rõ đến mức khiến bà nghĩ rằng, có lẽ thời con gái của mình bao năm về trước, nhìn mọi vật đều rõ như thế này chăng.
Bà mừng rỡ, bảo “À, lão lấy cái này” rồi lập tức mua ngay cặp kính ấy.
Sau khi bà lão trao tiền, người đàn ông bán kính đeo kính đen và để râu liền rời khỏi đó. Khi anh ta đi khuất dạng, không khí ban đêm chỉ còn lại mùi hương hoa cỏ như trước.
Bà lão đóng cửa sổ, quay lại ngồi vào chỗ cũ. Lần này bà đã có thể xâu kim dễ dàng. Bà cởi ra, đeo vào cặp kính. Bởi vì thấy lạ lẫm như trẻ con và bình thường không đeo nhưng bỗng nhiên đeo kính vào thì thấy mọi vật như đổi khác.
Bà lão lại tháo cặp kính ra. Đặt lên trên kệ, bên cạnh đồng hồ báo thức, dọn dẹp định đi ngủ vì trời cũng đã khuya lắm rồi.
Đúng lúc ấy, lại nghe tiếng gõ tóc tóc ở cửa ngoài.
Bà lão lắng tai nghe.
“Thật là một đêm kỳ lạ. Hình như lại có ai đến. Đã muộn thế này rồi mà…”. - Bà lão nói và nhìn vào đồng hồ, bên ngoài ánh trăng sáng vằng vặc nhưng đã rất khuya rồi.
Bà đứng dậy, đi ra phía cửa. Có vẻ như tiếng gõ là do một bàn tay nhỏ nhắn, âm thanh tóc tóc nghe rất đáng yêu.
“Đã muộn vậy rồi mà…”. - Bà lão vừa lẩm bẩm vừa mở cửa ra.
Một cô bé xinh đẹp chừng 12, 13 tuổi với đôi mắt rơm rớm đang đứng ở đó.
“Không biết con cái nhà nào, sao muộn vậy rồi còn đến vậy?” - Bà lão hỏi với vẻ nghi ngại.
“Cháu làm thuê ở xưởng sản xuất nước hoa trong thị trấn ạ. Ngày ngày, cháu làm công việc cho nước hoa chiết ra từ hoa hồng trắng vào lọ. Đến tối muộn mới về nhà. Tối nay cũng đi làm về, vì trăng sáng quá nên một mình thong thả đi nhưng vấp phải hòn đá nên ngón tay bị thương như thế này. Đau quá, cháu không chịu đựng nổi. Máu cứ chảy miết không dừng. Nhà nào cũng đã đóng cửa ngủ hết rồi. Khi đi qua trước nhà bà, thấy bà vẫn còn thức. Biết bà là người tốt bụng, hiền lành, là một người tốt nên mới dám gõ cửa ạ!” - Cô bé xinh đẹp với mái tóc dài nói.
Trong lúc nói chuyện, bà lão cảm thấy dường như mùi nước hoa dễ chịu thấm trên cơ thể cô bé tỏa ra thơm nồng trước mũi.
“Nói vậy thì cháu biết ta à?” - Bà hỏi.
“Cháu đã vài lần đi qua bên ngoài ngôi nhà này, thấy bà khâu vá bên cửa sổ nên biết ạ.” - Cô bé đáp.
“Cháu thật là ngoan. Nào, cho bà xem ngón tay nào bị thương, bà sẽ tìm thuốc gì đó băng bó cho cháu.” - Bà lão nói rồi đưa cô bé vào gần bên ngọn đèn. Cô bé chìa ngón tay dễ thương ra cho bà xem. Máu đỏ đang rỉ ra từ ngón tay trắng trẻo.
“Ôi, tội nghiệp cháu quá, chắc là bị đá chà xước và cắt đây mà!” - Bà lẩm bẩm nhưng vì mắt mờ quá, không thấy được máu chảy ra từ đâu.
“Chiếc kính hồi nãy đâu rồi ta?” - Bà rờ rẫm tìm kiếm bên trên kệ. Nghĩ nó nằm cạnh chiếc đồng hồ nên muốn nhanh chóng đeo vào để nhìn cho rõ vết thương của cô bé.
Bà định đeo kính vào để nhìn kỹ khuôn mặt của cô bé xinh đẹp thỉnh thoảng lại đi qua trước nhà mình này. Và khi đeo vào, bà sửng sốt. Đó không phải là một cô bé mà là một cánh bướm xinh đẹp. Bà chợt nhớ lại chuyện kể rằng vào những đêm trăng sáng thanh tĩnh như thế này, bướm thường hóa thân thành người và ghé vào những ngôi nhà thức khuya, nó hay bị thương ở chân.
“Cháu là đứa bé ngoan, theo ta vào đây đi!” - Bà nói với vẻ hiền từ. Sau đó, bà đi trước, ra khỏi cửa, đi vòng ra vườn hoa phía sau. Cô bé lặng lẽ đi theo.
Trong vườn hoa, nhiều loại hoa đang đua nhau nở rộ. Ban ngày, ở đó rộn rã ong bướm tập trung đến nhưng giờ này hoàn toàn yên tĩnh, dường như chúng đang nghỉ ngơi, mơ những giấc mơ đẹp dưới những chiếc lá. Chỉ có ánh trăng bàng bạc loang loáng trôi như nước.
Trên hàng rào đằng kia, những bông hồng dại trắng muốt mọc dày đặc và nở rộ như tuyết.
“Cô bé đâu rồi?” - Bà bất chợt dừng bước quay người lại. Cô bé đi theo đằng sau đã biến mất tự lúc nào, không một tiếng bước chân.
“Thôi, chúc tất cả ngủ ngon, ta cũng đi ngủ đây.” - Bà lão nói rồi đi vào nhà.
Đêm ấy, thật là một đêm trăng đẹp!
Nguyễn Thống Nhất dịch và giới thiệu từ tiếng Nhật.
(Nguồn: https://www.aozora.gr.jp/cards/001475/files/51089_53359.html).
(TCSH420/02-2024)
Tải mã QRCode
Paul William Gallico (1897-1976) là một nhà văn, phóng viên thể thao nổi tiếng của Mỹ. Nhiều tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành phim truyện, phim truyền hình, có tác phẩm đã đạt giải Oscar. Cha ông người Ý, mẹ người Áo, bản thân ông đã nhiều năm sống ở châu Âu. Là người đa tài và viết khỏe, ông có hàng chục đầu sách: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim truyền hình, thể thao. Những tác phẩm nổi tiếng của Gallico là: Ngỗng tuyết, Tình yêu của bảy con búp bê, Cuộc phiên lưu Poseidon.
ANTONIO TABUCCHIAntonio Tabucchi (sinh năm 1945) là một trong những nhà văn được đọc nhiều nhất và dịch nhiều nhất hiện nay của Italia, bậc thầy nổi tiếng về truyện ngắn tâm lý.
IVAN BUNHINLúc ông ta đội mũ, đi trên phố hay đứng trong toa tàu điện ngầm không thấy rõ mái tóc cắt ngắn hung hung đỏ có những sợi lóng lánh, qua vẻ tươi tỉnh của gương mặt gầy, nhẵn nhụi, thân hình cao xương xương cứng đơ trong chiếc pan- tô không thấm, có thể đoán ông không quá 40. Chỉ cặp mắt xám nhạt luôn chứa một nỗi buồn khô khốc nói lên rằng ông là một người đã nếm trải nhiều trong cuộc đời.
LTS: Anatoli Kudraves là một nhà văn Beloruxia tài năng. Phần lớn các tác phẩm của ông thể hiện cuộc sống của những người nông dân, người chủ chân chính, giàu bản sắc riêng và chân thành của chính quê hương mình. Tác giả đã dẫn dắt nhân vật của mình trải qua công việc tập thể hóa nông nghiệp, trải qua những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và cả thời kỳ kinh tế đổ nát sau chiến tranh cho đến ngày hôm nay.
BỒ TÙNG LINHLang Mỗ quê ở Bành Thành, con nhà học thức. Ngày nhỏ đã được nghe cha nói đến các sách quý và các sách khác trong nước, lại thường được nghe cha luận bàn với các bạn bè của ông về các loại sách và các nhà thơ cổ đại.
AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.
AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.
Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…
Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.
HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.
SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.
KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.
FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.
MIKHAIN SÔLÔKHỐP Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.
KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.
ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.
GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.
GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.
JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.
SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.