Con mèo của Tổng thống

08:58 19/11/2008
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

Vợ tôi mắng:
- Anh là đồ ngốc! Ai biết ăn cắp thì đã giàu lên từ lâu, thế còn anh thì sao?
Tất nhiên tôi lý sự rằng ăn cắp là không tốt. Chiếm đoạt tài sản của người khác là không nên, dù đó là tài sản nông trang hay tài sản quốc gia.
- Tôi thì nhổ toẹt vào cái sự thật thà chính trực của anh. Anh sẽ làm được gì nào? Lại đi cày thuê cuốc mướn cho mấy lão điền chủ mới chứ gì?!
Những lời móc máy ấy khiến tôi căm lắm. Kỳ thật thì phải làm gì bây giờ? Nghĩ mãi, nghĩ mãi, nhưng chả nghĩ ra kế mẹ gì, ngoài việc đi ăn cắp. Tôi ngó chung quanh – trong nông trang mọi thứ đã bị khoắng sạch trơn.
Có lẽ cần phải ra thành phố – tôi bụng bảo dạ – may ra còn sót lại một chút gì chăng.

Thế là tôi vù ra thành phố. Một thành phố to đùng. Thủ đô mà lại! Chính Tổng thống sống ở đây. Tôi thấy của nả đầy rẫy trong các cửa hiệu và ngoài chợ. Nhưng thứ nào cũng có chủ.Bất cứ một con buôn nào cũng nhìn tôi như một vị đại nguyên soái hoặc như một con chó dữ. Tôi nghĩ bụng chẳng nhẽ ở đây mọi thứ cũng bị nẫng hết? Hoặc bị chiếm đoạt? Hoặc bị tư hữu hóa?
Bỗng tôi nhìn thấy một con mèo. Một con mèo tuyệt đẹp, không hẳn là giống mèo Trung Á, mà cũng không hẳn là giống mèo Xiêm La. Và điều chủ yếu là con mèo vô chủ. Nó đi lang thang ngoài đường và kêu meo meo với khách bộ hành. Chà, tôi nghĩ bụng, có nên “thuổng” không nhỉ? Chưa biết chừng chủ của nó đang đi tìm cũng nên. Sẽ được một món tiền “hậu tạ” kha khá chứ chẳng chơi.Thậm chí có thể bằng đôla là đằng khác! Thiên hạ kháo nhau rằng chuyện đó thường xảy ra ở các thủ đô mà lại.

Tôi bèn ôm con mèo và dấu vào sau vạt áo khoác. Tôi đang định chuồn thì bỗng nhiên xuất hiện hai viên mật vụ cứ y như vừa từ trên trời rơi xuống. Tuy họ mặc thường phục nhưng điệu bộ chúng là con nhà “cớm”.
- Này anh kia, thả ngay con mèo ra! – Họ sẵng giọng ra lệnh.
- Chà, - tôi nghĩ bụng – chả nhẽ họ là chủ nhân của con mèo?
- Thả ra thì được thôi – tôi nói – nhưng còn cái khoản tiền thưởng thì sao?
- A ha! – họ nói – Anh lại còn muốn được thưởng nữa cơ à? Vậy thì hãy mau đi theo chúng tôi.
- Đi đâu? – Tôi hỏi.
- Rồi sẽ biết.
Họ đỡ lấy con mèo, vuốt ve nó rồi thận trọng đặt vào bên trong chiếc xe hơi ngoại cực kỳ sang trọng.
Con mèo kêu “ngoao” một thứ tiếng như thể ra lệnh cho tài xế, và chiếc xe từ từ chuyển bánh. Đi ở phía sau là một đoàn mô tô hộ tống y như đội vệ sĩ danh dự.
- Chà – tôi nghĩ bụng, mèo quái gì mà oách thế?
- Tôi chưa kịp hết ngạc nhiên thì đã được dẫn tới đồn cảnh sát. Hai viên “cớm” thì thầm điều gì với thủ trưởng, còn ông ta thì gật đầu và nói:
- Được, được! – Sau đó nghiêm khắc bảo tôi như tất cả các “xếp: “– Bây giờ thì anh hãy cho biết ai đã xui anh làm hành động khiêu khích này?
- Hành động nào? – tôi nói – Hành động khiêu khích gì?
- Hành động ăn cắp con mèo của Tổng thống.
- Trời đất! Tôi làm sao mà biết được rằng nó là con mèo của Tổng thống? Tôi nghĩ nó chỉ là một con mèo bình thường, một con mèo vô chủ. Nếu truy nguyên đến cùng thì quả là tôi đánh thó... Hoặc chiếm đoạt... Hoặc tư hữu hóa... Bởi vì, như ngài biết đấy, thưa đồng chí thủ trưởng, tất cả mọi người chung quanh đều ăn cắp...
Viên cảnh sát trưởng chăm chú nhìn tôi để cân nhắc xem nên bỏ tù hay nên thả. Rồi ông ta nói:
- Thế bác giữ chức vụ gì?
- Chả giữ chức vụ gì cả.
- Lạ nhỉ! Thế tại sao bác không giữ chức vụ gì mà lại đi ăn cắp. Ở ta, bác sẽ bị bỏ tù về chuyện ấy đấy.
Và quả thật tôi phải vào tù.
Những bạn tù cùng xà lim nhìn tôi cười cười:
- Té ra đằng ấy chính là kẻ dám “thổi” con mèo của Tổng thống à?
Giám ngục bước vào xà lim và hỏi:
- Cái tên đã xâm phạm đến tài sản của Tổng thống đâu rồi? Anh có thư của vợ đây.
Tôi đọc thư. Vợ tôi đã đệ đơn xin ly dị. Cô ấy viết: “Tôi không cần cái ngữ đi ăn trộm mèo!”
Đấy, đàn bà là như vậy đó. Có mà trời hiểu được họ!
 LÊ SƠN (dịch)

(nguồn: TCSH số 203-204 – 01&02 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Kevin Klinskidorn trưởng thành ở Puget Sound - một vùng ven biển tây bắc bang Washington và hiện sống ở bờ đông tại Philadelphia. Anh đã được giải thưởng Nina Mae Kellogg của đại học Portland State về tác phẩm hư cấu và hiện đang viết tiểu thuyết đầu tay.

    Truyện ngắn dưới đây của anh vào chung khảo cuộc thi Seán Ó Faoláin do The Munster Literature Center tổ chức năm 2015.

  • NAGUIB MAHFOUZ  

    Naguib Mahfouz là nhà văn lớn của văn học Arab. Ông sinh năm 1911 tại Cairo (Aicập) và mất năm 2006 cũng tại thành phố này. Mahfouz đã viết tới 34 cuốn tiểu thuyết và hơn 350 truyện ngắn. Cuốn tiểu thuyết lớn nhất của ông là Bộ ba tiểu thuyết (The trilogy) (1956 - 1957).
    Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.

  • Pete Hamill sinh ngày 24 tháng 6 năm 1935, tại Brooklyn, New York, Hoa Kỳ. Ông là nhà văn, nhà báo. Ông đi nhiều và viết về nhiều đề tài. Ông từng phụ trách chuyên mục và biên tập cho báo New York Post và The New York Daily News.

  • Truyện này được dịch theo bản tiếng Pháp nên chọn nhan đề như trên (Je ne voulais que téléphoner, trong cuốn Douze Contes vagabonds, Nxb. Grasset, 1995) dù nó có vẻ chưa sát với nguyên bản tiếng Tây Ban Nha của tác giả (Sole Vina a Hablar por Teléfono) - Tôi chỉ đến để gọi điện thoại thôi.

  • Eugene Marcel Prevost, nhà văn và là kịch tác gia người Pháp, sinh ngày 1/5/1862 tại Paris, mất ngày 8/4/1941 tại Vianne, thuộc khu hành chính Lot- et-Garonne. Năm 1909, ông được mời vào Hàn lâm viện Pháp. 

  • AMBROSE BIERCE   

    Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.

  • Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.

  • THOMAS VINT

    L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.

  • JOSHUA BROWN (Mỹ)  

    “Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
    Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”

  • RAY BRADBURY

    Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.

  • Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.

  • JORGE LUIS BORGES

    Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.

  • CLAUDE FARRÈRE

    Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.

  • HERMANN HESSE
    (Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)    

    Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.

  • Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
    Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
    Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

  • ALEKSANDAR HEMON

    Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy. 

  • Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.

  • LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.