Con khỉ B’ Li

09:28 03/06/2008
Chiếc váy của Tuyl Cleng va quệt không ngớt vào mấy vạt cỏ hai bên vệ đường. Những chỉ hoa văn ở riềm váy trông như hai cánh tay chạy như bay xuống đồi. Cuốn vở học trên tay cô nhịp nhàng lên xuống như chiếc quạt diễn viên múa. Mùa xuân sắp đến, trời đất như rộng rinh thêm. Những con chim trao trảo, chèo bẻo, ta li eo... cũng hót vang bên rặng rừng, vui lây theo nỗi vui của Tuyl Cleng.

Chẳng là trong lớp học chiều nay, Tuyl Cleng vừa được thầy Mân cầm tay, dẫn cho cái chữ hiện ra trên trang giấy. Chưa hết, thầy còn khen cái chữ cô làm ra đẹp nữa...!
Tuyl Cleng bắt đầu đi học cái chữ từ dạo hết mùa rẫy đến giờ. Cùng học với Tuyl Cleng là lũ gái bản trạc tuổi: B’Rớ, Y Min, Ch’Bráp...
Cả bọn lớn nhồng, cái bụng đầy nỗi lo nên cái chữ ít chịu vào, cái tay đầy sần chai nên cũng khó dẫn đường cho cây viết... Chiều nay thì lại khác, nhờ thầy Mân cầm tay giúp nên cái chữ có vẻ chịu chịu Tuyl Cleng rồi. Song cứ mỗi lúc thầy buông tay cô ra, cái chữ dưới cây viết lại cứ như là con khỉ B’Li nhảy nhót, khọt khẹt không yên!
B’Li là con khỉ nhà Tuyl Cleng nuôi. Cô bắt được vào lúc nó hãy còn bé lắm. Bé nhưng lại rất láu và. .. tham ăn nữa! Một mình nó lôi hai cây bắp có bốn trái to đùng, không theo kịp bầy nên mới bị Tuyl Cleng níu lại: “Thầy Mân à! B’Li là con khỉ Tuyl Cleng nuôi, thầy muốn xin về trường thì hỏi nó. Cứ đổi cho nó nhiều nhiều chữ là bằng lòng thôi mà!”. Nghe Y-Rớ, cha của Tuyl Cleng nói vậy, cô thấy khó xử vô cùng. Tuyl Cleng nuôi con B’Li đã mến tay mến chân. Nó và cô đã theo nhau suốt hai mùa rẫy liền rồi. Có trưa nào mà nó không quanh quẩn bên cô, hết bắt chí lại đùa giỡn đâu! Nhưng không cho thầy Mân con B’Li, Tuyl Cleng lại sợ thầy không bằng cái lòng. Thầy mà hú một tiếng, tất cả chữ trong cô lại như cọp về với rừng hết thì sao?! “Trò Tuyl Cleng à! Thầy ở một mình buồn lắm - Thầy Mân nói: Nếu không có con B’Li ở cho vui, chắc thầy xin về lại dưới xuôi mất. Cho thầy con B’Li để làm bạn đi, nghe Tuyl Cleng?”. Tuyl Cleng đâm hoảng lên, cô không ngờ lại có chuyện rắc rối làm vậy. Thầy Mân về xuôi thì lấy ai dạy chữ cho cô và lũ gái bản? Tuyl Cleng ham học lắm. Ham học vì thấy những người biết chữ từ dưới xuôi lên, ai cũng ngon lành và đều ăn mặc đẹp cả. Ngay đến ông H’Nóp là người trên này biết chữ, già làng cũng quý trọng và hay hỏi chuyện! Rồi lại đọc được những cuộn giấy có nhiều mầu xinh đẹp như hoa liu-reng nữa. Nghe thầy Mân nài nỉ thế, cái bụng Tuyl Cleng đã thấy xiêu xiêu song cũng buột miệng: “Buồn thì thầy đi rẫy với Tuyl Cleng cho vui, chớ xin B’Li chi? Trong rẫy có nhiều chuyện vui lắm!”. “Thầy nói buồn nơi trường thầy ở kìa. Trong rẫy nhiều cái vui nhưng đâu có đem về trường được, hả Tuyl Cleng?”. “Sao lại không vớ? Con B’Li Tuyl Cleng đem về đây được đó chi nạ!”. “Bởi vậy nên giờ thầy mới xin. Mai mốt Tuyl Cleng đi rẫy, lại đem về cái vui khác thôi!”. Thầy Mân bụng có nhiều chữ nghĩa nên nói giỏi lắm. Nhưng biết mùa rẫy tới, mấy bầy khỉ có ra lại nữa không, và ra thì biết có con nào nhỏ tham ăn vậy nữa để cô bắt? Nghĩ vậy nhưng không hiểu sao trước cái nhìn như có lửa của thầy Mân, Tuyl Cleng cũng gật đầu.
Con B’Li về ở bên trường được thầy Mân mua cho sợi xích mới. Chả bù với sợi dây mấu nhà cô, sợi xích màu vàng tươi này còn đẹp hơn cả đôi còng nơi chân của Tuyl Cleng nữa. Nó thích chí quá hay sao nên cứ nhảy nhót, chí chóe cả ngày. Nhất là mỗi lần gặp lại Tuyl Cleng, ý chừng như nó muốn khoe của mới. Những hôm lũ lớn về, không lội suối được phải nghỉ học lâu lâu, Tuyl Cleng và B’Li nhớ nhau nhiều như nước nguồn và khi gặp lại, cả hai đều chảy nước mắt.
Thấy Tuyl Cleng và lũ gái bạn đi học ăn mặc đẹp và vui, bọn trai gái bản cũng đua nhau đi học. Nhiều người “ăn” chữ quá, dưới xuôi lại phái lên một cô giáo nữa. Trường lại vui thêm, duy chỉ có B’Li là buồn.
Từ dạo có cô giáo mới về, dường như thầy Mân ít chăm sóc đến nó. Thậm chí còn quên cả cho nó ăn nữa. Cứ mỗi lần thấy Tuyl Cleng đến học, B’Li lại kêu khọt khẹt và tìm cách bứt khỏi sợi dây xiềng. Đã đến lúc nó không cần đến xiềng xích đẹp nữa, chỉ muốn được no cái bụng mà thôi. Biết nó đói, đi học Tuyl Cleng thường kiếm mang theo ít trái rừng và nhìn nó nhai ngấu nghiến đến là thương! Cô đã mấy lần định hỏi xin lại thầy Mân con B’Li nhưng không dám. B’Li buồn, Tuyl Cleng cũng buồn lây. Tự dưng cô thấy chẳng còn thích đi học cái chữ ở thầy Mân nữa! B’Li không có cái chữ đầy bụng như thầy Mân, song nó lại chẳng làm buồn lòng ai như thầy. Tuyl Cleng muốn lại được cùng con B’Li ngày ngày lên nương rẫy đùa vui như dạo nào. Song con B’Li bây giờ đâu có còn là của Tuyl Cleng nữa và dường như thầy Mân cũng quên nó là của mình rồi! B’Li bây giờ có lẽ chỉ còn là của sợi dây xiềng rất đẹp mà thôi. Thầy Mân quên con B’Li bởi cô giáo mới về đẹp lắm, da cô trắng như sắn lột và có nhiều quần áo đẹp đẹp là! Lũ học trò gái bản thường thừa lúc cô không để ý, tìm cách chạm vào quần áo trên người cô, để rồi khi tan học lại kể khen nức nở với nhau vang đường về.
Một trưa bản vắng, định nhờ B’Li bắt giùm ít chí trên đầu nên Tuyl Cleng chạy đến trường. Từ đường truông, Tuyl Cleng đã nghe thấy tiếng cười của hai thầy cô vọng ra như suối đổ. Qua một lùm cây rậm, Tuyl Cleng thấy thầy Mân đang chẻ củi nấu cơm, rồi xách nước suối lên cho cô giáo giặt quần áo hết xô này đến xô khác.. Tự nhiên như có ai đánh mã la trong ngực của Tuyl Cleng, cô chạy vội lên khúc suối trên và sau một lát lưỡng lự, cô hái ba chiếc lá b’là-ơi thả xuống nước. Ba chiếc lá trôi từ từ đến chỗ thầy Mân, song thầy cũng gạt ra cho theo dòng và tiếp tục múc nước. Tuyl Cleng thấy vậy buồn quá, cắt suối lội về. Ba chiếc lá mới xanh chớ đâu phải úa rụng mà thầy Mân chẳng biết. Chưa về đến nhà sàn, chí trên đầu cắn nhắc đến B’Li nên cô vội lộn lại. Lúc ấy thầy với cô đang cùng nhau ăn cơm trong phòng và con B’Li thì khô mỏ ngoài sân. Nó thấy Tuyl Cleng liền lôi bừa cả sợi xích dài chạy đến. Tuyl Cleng vội khẽ mở xích cổ cho nó, rồi cả hai cùng chạy về nhà sàn Tuyl Cleng. Cô và nó chạy như bị ma đuổi, bỏ mặc sau lưng tiếng gọi “Tuyl Cleng ới..., Tuyl Cleng ời...!” của cô, thầy.
Về đến nhà sàn, Tuyl Cleng chờ mãi chẳng thấy B’Li đâu cả. Lúc cô thầy kêu, rõ ràng nó chỉ cách sau cô có mấy bước, Tuyl Cleng lại thất thểu đi tìm con B’Li. Tiếng kêu “B’Li ới..., B’Li à...!” theo chiều gió vang vọng khắp núi rừng, làng bản.
Đến tối mịt, Tuyl Cleng mới về lại nhà sàn với nước mắt ràn rụa cả má. Con B’Li vẫn biệt tăm!
“Tuyl Cleng à!” Y’Rớ vẫn hút thuốc thức chờ cô, nhả khói bay um cả góc nhà sàn và nói: “Hồi chiều thầy Mân có đến đây tìm mày. Cái... cái mà thầy bảo, mai mày đi học”. “Không đi học cái chữ nữa đâu!”. Tuyl Cleng nấc lên trong đống lá khô nơi góc sàn. Điếu thuốc ngưng lóe lên trong khoảng tối nhà một lúc lâu, rồi Y’Rớ lại cất tiếng: “Thầy Mân nói trả lại con... con B’Li cho mày. Cái... Y’Rớ lại cà lăm tiếp: Cái... mà thầy đã có... có em ruột lên nên vui rồi! Em ruột thầy chữ cũng nhiều dữ hé?”. Tuyl Cleng nghe vậy, chồm ra đống lá khô: “Ai nói với cha vớ?”. “Cái... cái...mà... hai anh em thầy đến đây nói chớ ai. Thằng Tuyl Tắc mà không bị Giàng bắt thì anh em mày cũng bằng thầy cô vớ, chỉ điều không có chữ mà thôi!”
Tuyl Cleng lại cuộn người nằm lặng vào đống lá khô. Anh Tắc hồi còn sống cũng thương Tuyl Cleng như thầy Mân thương cô giáo vậy! Hình ảnh anh Tắc và B’Li lại xoay vần trong đầu cô. Anh Tắc thì đã về với Giàng, còn không biết B’Li giờ này ở đâu?! Mùa xuân tuy nhiều đọt non lá mới, dễ tìm ăn song so với các giống rừng, B’Li hãy còn quá nhỏ. Tự dưng Tuyl Cleng thấy ân hận về việc mình thả xích cho con B’Li xế rồi. Chợt có tiếng xé giấy lẹt rẹt ở góc sàn, Tuyl Cleng lại chồm lên: “Cha xé giấy của tui để cuốn thuốc phải không?”. “Cái chữ đã vào bụng mày rồi, để lấy giấy cuộn hút xem thử chữ có vào bụng tao không há. Mày nghỉ học rồi thì còn để giấy làm chi vớ?”. Tuyl Cleng vội giằng lấy cuốn vở trong tay cha: “Sao Y’Rớ biết tui nghỉ học?”.
Y’Rớ nhe cái răng ám khói cắn điếu thuốc chưng hửng ngó Tuyl Cleng. Thấy vậy tự nhiên Tuyl Cleng muốn bật cười. Cha Tuyl Cleng thật là lạc hậu quá mức, muốn ăn chữ vào bụng thì phải có thầy chớ. Tuyl Cleng ôm cuốn vở trở lại đống lá khô. “Không biết giữa thầy Mân với cô giáo em, ai nhiều chữ hơn?”. Với ý nghĩ này, Tuyl Cleng thiếp đi. Cô mơ thấy con B’Li đa g đùa giỡn trong một rừng cây đầy lá non đọt mới trong tiết xuân về.

LÊ NGUYÊN NGỮ
(nguồn: TCSH số 153 - 11 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TRỌNG ĐỊNHPhòng giam chật chội, tối tăm...  Gần trần có một lỗ thông hơi. Bên ngoài lỗ thông hơi là bức tường tôn xám xỉn. Khe hở dài chừng 10 mét, rộng chừng 3 tấc, nằm song song và gần sát với mặt đường bên ngoài. Đứng trong phòng giam, từ lỗ thông hơi nhìn qua khe hở của bức tường, chỉ có thể thấy những bước chân người đi.

  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.