Con Gái

10:00 31/08/2009
JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.

Nhà văn Jamaica Kincaid - Ảnh: rutgersprep.org

Giặt quần áo trắng vào Thứ hai và phơi trên đống đá; giặt quần áo màu vào Thứ ba và phơi trên dây; không đi chân trần khi nắng nóng; chiên bánh bí ngô rán trong dầu tinh chất thật nóng; ngâm quần áo lót của em khi em vừa cởi ra; khi mua vải bông để may cho chính em một cái áo choàng đẹp, phải chắc chắn là vải không có chất gôm, bởi vì nếu có, vải sẽ không thẳng thớm sau khi giặt; ướp cá với muối qua đêm trước khi em nấu; có đúng là em hát benna ở lớp học ngày Chủ nhật?; luôn luôn ăn làm sao để người khác không thấy buồn nôn; vào những ngày Chủ nhật, cố bước đi như một bà mệnh phụ, không bước đi như một con mụ nhếch nhác mà em đang sắp trở thành; không hát benna ở lớp học ngày Chủ nhật; không chuyện trò với bọn trai đểu cáng, thậm chí cũng đừng chỉ đường; không ăn trái cây trên đường - ruồi sẽ bu theo em; nhưng tôi tuyệt đối không hát benna vào ngày Chủ nhật và không bao giờ hát ở lớp học ngày Chủ nhật; đó là làm thế nào để khâu một cái khuy áo; đó là làm thế nào để rạch khuyết áo cho cái khuy mà em vừa khâu; đó là làm thế nào để may lại lai của một chiếc váy mà em thấy lai đã bung ra và nhờ đó giúp em trông không giống như một con mụ nhếch nhác mà chị biết em đang sắp trở thành ; đó là em phải ủi chiếc áo sơ mi vải kaki của bố em như thế nào để không còn nếp nhăn; đó là em phải trồng cây okra như thế nào - trồng xa nhà, vì cây okra là nơi cư trú của kiến lửa; khi em trồng cây dasheen, đoan chắc là em phải tưới thật nhiều nước, nếu không cổ họng em sẽ bị ngứa khi em ăn trái của nó; đó là em phải quét một cái góc như thế nào; đó là em phải quét cả một ngôi nhà như thế nào; đó là em phải quét một cái sân như thế nào; đó là em phải cười như thế nào với một người mà em không thật thích; đó là em phải cưới như thế nào đối với một người mà em không thích chút nào; đó là em phải cười như thế nào với một người mà em rất thích; đó là em phải dọn ra một bàn trà như thế nào; đó là em phải dọn một bữa tối như thế nào; đó là em phải dọn một bữa tối có khách quý như thế nào; đó là em phải dọn một bữa trưa như thế nào; đó là em phải dọn một bữa sáng như thế nào; đó là em phải cư xử ra làm sao khi có mặt những người đàn ông không biết rõ em, vì cách cư xử của em sẽ làm cho họ không nhận ra ngay cái con mụ nhếch nhác mà chị đã cảnh báo em đừng trở thành; đoan chắc là phải tắm rửa mỗi ngày, ngay cho dù có phải tắm bằng chính nước bọt của em; không ngồi chồm hổm chơi bi - em biết đó, em không phải là con trai; không nhặt hoa của người khác - em có thể sẽ nhặt phải thứ khác; không lấy đá ném quạ, bởi vì đó có thể chẳng phải là quạ; đó là làm thế nào để làm bánh mì putđinh; đó là làm thế nào để làm bánh doukona; đó là làm thế nào để làm bánh pepper pot; đó là làm thế nào để uống đúng thuốc bị cảm; đó là làm thế nào để uống đúng thuốc khi muốn vứt đi một cái bào thai trước khi nó thật sự trở thành một đứa bé; đó là làm thế nào để bắt một con cá; đó là làm thế nào để trả lại con cá em không thích mà chuyện xấu không ập đến; đó là làm thế nào để bắt nạt đàn ông; đó là đàn ông bắt nạt em như thế nào; đó là yêu một người đàn ông thế nào, và nếu cách này không hiệu quả thì có những cách khác; và nếu chúng cũng không có hiệu quả thì đừng quá buồn khi phải từ bỏ chúng; đó là làm thế nào để phun nước bọt lên trời, nếu em thích; và đó làm thế nào để nhanh chân tránh đi, do đó nước bọt sẽ không rơi trúng em; đó là làm thế nào để kết thúc một cuộc gặp; luôn luôn bóp bánh mì để chắc chắn rằng nó nóng giòn; nhưng giả như người bán bánh mì không cho tôi sờ vào bánh mì thì sao?; em muốn nói là em đang thật sự sắp trở thành loại đàn bà mà người bán bánh không cho đến gần bánh mì?

Dịch từ “the International Story”,
NXB St Martin’s Press, New York, 1994

TRẦN NGỌC HỒ TRƯỜNG dịch
(245/07-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HENRI TROYAT

    LTS. Henri Troyat tên thật là Lev Tarassov sinh năm 1911 tại Moskva. Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Giải thưởng văn học đầu tiên với tác phẩm "Faux jours" (1935). Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm tiểu thuyết và truyện ngắn. Những tác phẩm được dư luận đặc biệt chú ý như bộ ba tiểu thuyết "Tant que la terre durera" (1947), "Le sac et la cendre" (1948) và "Etrangers sur la terre" (1950) hoặc như "La lumière des Justes"... Ông còn viết cả kịch bản văn học. Truyện ngắn "Cơn choáng" (Le vertige) lấy từ tập "La Fosse Commune" xuất bản năm 1986.

  • Yamakawa Masao (1930 - 1965), tên thật là Yamakawa Yoshimi, ông sinh ở Tokyo, tốt nghiệp Đại học tư thục Keo (khoa Pháp văn). Yamakawa Masao từng làm biên tập cho Tạp chí văn học Mita Bungaku. Sau đó ông viết và công bố các truyện ngắn như: Cái chết mỗi ngày, Năm ấy, Công viên ven biển… với phong cách tinh tế, miêu tả sự phi lý của cái chết và tuổi trẻ thời kỳ hậu chiến. Ông qua đời năm 34 tuổi do tai nạn giao thông.

  • Nhà văn Ấn Độ (người Hindi), Krishna Baldev Vaid sinh năm 1927. Ông học đại học tại Punjab và Harvard; dạy học tại nhiều trường đại học ở Ấn Độ và Mỹ. Ông viết tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, phê bình và dịch thuật văn học. Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Ba Lan, Nga, Nhật và các tiếng khác ở Ấn Độ.

  • HÁCH XUYÊN THỨ LANG
                          (Nhật)

    Phải dấu việc này không cho anh ấy biết. Lãng Tử nghĩ vậy và nắm chặt bao nhỏ trong tay, tần ngần rảo bước trên cầu. Đêm tối không người với dòng sông lặng lẽ trôi giữa một màn đen kịt, và rồi nó sẽ mang đi điều bí mật của ta.

  • DHUMKETU

    Dhumketu là bút danh của Gaurishankar Govardhauram, là nhà văn Ấn Độ (1892 - 1965), thường được xem như là một trong những người khai sáng loại hình truyện ngắn. Tác phẩm của ông thường có bút pháp gây xúc động, lãng mạn hoặc miêu tả đậm nét những cảm xúc của con người.


  • CORMAC MCCARTHY

  • Rivka Galchen là nhà văn, biên tập viên tờ The New Yorker, với nhiều đóng góp về truyện ngắn và tiểu luận phi hư cấu cho tạp chí này từ năm 2008. Nữ nhà văn thường viết về khoa học và y học.

  • Ray Bradbury (1920 - 2012) là nhà văn lừng danh của Mỹ, tham gia văn đàn và thế giới điện ảnh sôi nổi trong suốt hơn 7 thập kỷ. Ông đã viết 27 tiểu thuyết và hơn 600 truyện ngắn. Truyện ngắn The Veldt (Thảo nguyên châu Phi) là một tiên đoán về mặt trái của công nghệ đang phần nào chạy theo những nhu cầu phi nhân bản của con người.

  • JACK LONDON

    Ngày đã trở nên lạnh lẽo và u ám, rất lạnh và rất u ám khi người đàn ông rẽ sang lối khác từ đường mòn Yukon và đi lên một bờ đất cao nơi có một đường mòn mờ mờ, ít người qua lại dẫn về hướng đông, xuyên qua rừng cây vân sam với những thân cây chắc khỏe.


  • SHIMAZAKI TOSON

  • Hirabayashi Hatsunosuke (1892 - 1931), sinh ra tại làng Fukada, quận Taken, Tokyo, tốt nghiệp Khoa tiếng Anh Đại học Waseda. Ông hoạt động như một nhà lý luận của phong trào vô sản thời kỳ đầu.


  • TED HUGHES

  • ARESS MOHAMED

    Trong lòng con thuyền đang lênh đênh trên mặt biển là 12 người, 7 đàn ông, 4 phụ nữ và 1 đứa trẻ. Đứa bé hình như đang thiếp đi trong vòng tay mẹ nó. Tính đến nay, con thuyền đã trôi được bốn ngày.

  • MACARIO D. TIU (Philippines)

    Hồi đó tôi chỉ có 3 tuổi nhưng tôi nhớ rất rõ đám cưới của anh Peter và chị Linda. Tôi nhớ nhất là được đùa giỡn trên chăn gối tinh tươm của chiếc giường dành cho đôi tân lang và tân giai nhân. Tôi sau đó mới biết là đùa giỡn như vậy sẽ giúp cho họ mau có con trai đầu lòng. Tôi được chọn để đùa giỡn vì tôi tráng kiện và mập mạp.

  • ROGER DEAN KISER (Hoa Kỳ)

    Tôi bước vào nhà hàng Huddle House ở Brunswick, Georgia và ngồi ngay quầy vì hết sạch chỗ. Tôi cầm thực đơn lên và bắt đầu xem những món ăn khác nhau và cố quyết định sẽ ăn sáng hay nhịn tới trưa luôn.

  • IVAN BUNIN

    Ivan Bunin (1870 - 1953), nhà văn Nga đầu tiên được trao giải Nobel, năm 1933. Ông nổi tiếng với ‘một nghệ thuật nghiêm cẩn’, mà với nó ông ‘tiếp tục những truyền thống cổ điển Nga trong sáng tác văn thơ’.