HENRI TROYAT
LTS. Henri Troyat tên thật là Lev Tarassov sinh năm 1911 tại Moskva. Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Giải thưởng văn học đầu tiên với tác phẩm "Faux jours" (1935). Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm tiểu thuyết và truyện ngắn. Những tác phẩm được dư luận đặc biệt chú ý như bộ ba tiểu thuyết "Tant que la terre durera" (1947), "Le sac et la cendre" (1948) và "Etrangers sur la terre" (1950) hoặc như "La lumière des Justes"... Ông còn viết cả kịch bản văn học. Truyện ngắn "Cơn choáng" (Le vertige) lấy từ tập "La Fosse Commune" xuất bản năm 1986.
Cô Pascal có gương mặt khô đét, với cặp má hóp, trũng như nách một bé gái và có tròng mắt như mắt loài gia cầm hung tợn. Tóc cô lấm tấm gàu, kéo sát về phía sau gáy, bị nuốt chửng bởi cái búi tóc to đùng, xù lên những kim là kim. Cô mặc áo đầm may bằng vải len màu sẫm tối, và trang sức duy nhất mà cô chấp nhận đính lên áo, là cái trâm hoa-gắn-phong vũ biểu, thêm một nụ hồng khác từ loại vật liệu xốp, mà cô gọi là "đá Afghanistan". Một khăn choàng màu lục, có tua rua rũ rượi, phủ lấy vai cô. Động tác của cô thì cụt ngủn. Cô bắt tay bạn như thể người ta xoay cái nắm cửa.
Đã từ năm năm nay, cô Pascal giữ vai phó tại Cục tố tụng thuộc Bộ Ký thác quốc tế và Đường dẫn. Nhiều hành vi tiểu nhân khiến cô chậm thăng tiến, và cô đã quá biết về "tinh thần bình đẳng" của Ban tổ chức nhân sự. Hễ có dịp là người ta lại làm nhục cô. Vì vậy, mặc dù tính chất quan trọng của công việc đòi hỏi dưới quyền cô phải có ba hoặc bốn biên tập viên, cấp trên chỉ cho cô có một người, vừa tốt nghiệp chân ướt chân ráo từ khung tham tá, và hoàn toàn không đủ khả năng đảm đương phận sự được giao.
Chàng ta tên Huche. Chàng có vẻ mặt gà mờ ám chướng, cặp mắt tròng trành bối rối và cặp môi nhão. Tí râu hung hung dán ngay dưới mũi như thể con tem. Lúc nào chàng ta cũng cảm mạo. Nói về chàng ta, cô Pascal phát biểu: "Đó là tay sơ đẳng. Nhưng ít ra, hắn cũng không bao giờ uống rượu. Nếu có uống, thì bốc mùi biết ngay, phải không?". Và cô đối xử với hắn với vẻ khinh miệt lạnh lùng, chỉ mở lời khi nào có yêu cầu hành chính. Cô dành cho hắn những việc chán phèo nhất và mỗi khi cảm thấy không muốn hắn làm việc gần mình, cô bèn sai hắn đi lấy tin ở tít phía bên kia của trụ sở Bộ. Bởi vì, họa vô đơn chí cho cô, bàn làm việc của hai người lại đối diện nhau, và phòng ốc chật chội đến nỗi không thể nào sắp xếp khác hơn được.
Ngày kia, chàng Huche đi làm trễ một giờ đồng hồ. Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, chàng rụt rè mỉm cười như thanh niên mới lớn. Chàng nhỏ nhẹ xin lỗi:
- Bởi vì trưa nay khai mạc phòng tranh lần thứ nhì của "Nhóm nghệ thuật công nhân viên chức Bộ ký thác quốc tế và Đường dẫn"...
Chàng ta ngừng để thở, rồi mắt ngó xuống, miệng chúm chím, khẽ khàng để rơi rớt từng chữ như thể một thiếu phụ xinh đẹp đánh rơi chiếc khăn tay của mình:
- Tôi triển lãm tranh ở đó.
Sự tiết lộ này làm cô Pascal bất ngờ, khiến gương mặt cô thoáng do dự giữa những biểu hiện của lòng quan tâm vừa phải, nét tội nghiệp bỡn chơi và cơn giận dữ quân phiệt. Cuối cùng cô nói:
- Thôi được, tôi sẽ đi xem.
- Dạ ở tầng trệt. Tổ Gambetta. Và vào cửa miễn phí.
- Được rồi, được rồi! Nhưng còn cái khẩn hơn. Anh đã trả lời ghi chú của ông Cardebauche về việc hoàn trả chi phí giám sát đặc biệt liên quan đến việc quản lý Công ty quốc gia CPLN chưa?
Chàng Huche nhũn người trước bàn làm việc, tựa như cỏ bị cắt, và cô Pascal rất khoái vì đã quyết liệt kéo chàng ta về với thực tế hành chính.
Vào lúc 5 giờ, sau khi xong một công việc quan trọng, cô quyết định đến thăm galerie tranh ở tầng trệt. Cô sửa khăn choàng cho ngay ngắn, vuốt khối tóc đặc của mình và bước ra khỏi văn phòng với vẻ oai phong của con thuyền ra biển cả.
Phòng tranh lần thứ nhì của "Nhóm nghệ thuật" tọa trong một gian rộng, xám xịt, lạnh lẽo, với hai hàng cọ đã phai màu. Ngay từ ngưỡng cửa, bạn được chào đón bởi cái im lặng như nhà tiễn biệt. Khách tham quan lưa thưa, thì thầm, lặng lẽ như lén lút. Cô Pascal tiến đến các bức họa với vẻ nghiêm trang thành kính.
![]() |
| Minh họa: THIỆP ĐÁNG |
Tác dụng của cuộc trưng bày tác phẩm nghệ thuật này chỉ có thể là tích cực, bởi lẽ làm cho chính quyền an tâm về trạng thái tinh thần của nhân viên mình. Chủ đề bất di bất dịch vẫn là hoàng hôn kiểu kem đánh răng, vẫn là ao hồ màu xanh lục như bảng tín hiệu giao thông cho phép dừng tùy ý, vẫn cánh đồng lúa mì màu vàng phai nhạt điểm lấm tấm mấy chiếc hoa dại. Cũng có vô số mèo con trong giỏ, mắt tựa như nút giày ủng, có mấy cô dê nhỏ với bộ lông màu hoa cà, mấy chú thỏ bé mũi màu hồng. Và đương nhiên phải có những góc phố ngập nắng! Tất cả những thứ này đều tạo cảm giác thoải mái, vô hại, dễ thương. Cô Pascal cảm thấy hoàn toàn thông cảm với các đồng nghiệp, vốn dùng thời gian rảnh rỗi vào những việc làm lương thiện như thế.
Cô sắp kết thúc chuyến tham quan của mình, đột nhiên cô sững sờ khi trông thấy tấm pa-nô có gắn bốn bức tranh lớn. Tranh vẽ đàn bà trần truồng. Một con trơ tráo, tóc hung đỏ, da thịt mịn màu kem, đang lặn ngụp giữa tấm thảm dưới chân giường. Con kia ngồi chàng hảng trên ghế, vừa hút thuốc vừa nhìn vào khoảng không với vẻ dâm dật chuyên nghiệp. Con thứ ba quay lưng lại, đang ưỡn mình một cách dục lạc trước tấm gương. Ả thứ tư lại e dè nhún chân thử nước trong thau tráng men. Và các thân thể ấy được họa bằng một sự hiện thực nóng bỏng, một sự vô liêm dâm đãng phát buồn nôn. Không có miếng voan mỏng nào đến cứu nguy, chẳng có đám mây nào được dàn trải cho đoan trang, không có lấy một cành cây lá xum xuê một cách tinh xảo. Người ta có thể thấy hết tất cả.
Đỏ mặt vì mắc cỡ, cô Pascal tiến đến phía các bức tranh để thử phăng ra tên nghệ sĩ. Cô đọc và suýt ngất đi vì đột cảm: cái thứ rác rưởi ấy mang tên Huche.
Cô trở về văn phòng với một trạng thái bực tức gay gắt. Mình phải chọn thái độ nào đây? chẳng lẽ lại khen ngợi tên biên tập viên ấy à? cho dù chỉ khen xã giao, thì mình cũng bị hiểu lầm là tán đồng với các sản phẩm thô tục ấy. Phải công phẫn lên? Nhưng mà lấy quyền gì? Hay nên im lặng? Và cô Pascal dừng ở giải pháp sau cùng này.
Nhưng ngay từ ngày hôm sau, phiền não bắt đầu. Thế tin hành lang sẽ đồn đãi gì đây? Có lẽ người ta sẽ lên tiếng về việc cô chung phòng khép kín tám giờ đồng hồ mỗi ngày với một tên quỷ ám, chuyên no say với những thứ tục tĩu! Hay là người ta sẽ chế diễu về sự không may của cô? Thậm chí biết đâu người ta lại truyền tai nhau về một giai thoại của cặp "Pascal - Huche"? "Với một gã có tầm cỡ như thế, ắt hẳn cô nàng tha hồ!”. Cô không thể nào chịu đựng được ý nghĩ ấy.
Từ nay, cô sẽ quan sát tên biên tập viên của mình với cái nhìn mới. Cô ngạc nhiên vì sao trước giờ mình không phát hiện trên mặt hắn những vết tích mờ ám của sự đồi trụy. Gương mặt tái nhợt ấy, cặp mắt đờ đẫn ấy cho biết rằng sau những đêm trụy lạc, hẳn cực nhọc lắm hắn mới dậy nổi. Những bàn tay run rẩy ấy tố cáo sự lạm dụng tình dục. Lời nói lúng túng ấy gợi nhớ sự lắp bắp của đam mê. A! cô hình dung chàng ta trong một phòng vẽ đầy những chiếc gối Ả Rập, những lư xông hương và da lông thú, chàng ta đang sửa tư thế của một ả đã trút bỏ xiêm y và lần lữa mơn trớn ả. Rồi sau khi thưởng thức các thú vui đê tiện của tiệc tùng trác táng, hắn đến văn phòng, hắn ngồi trước mặt cô, hắn nghiên cứu hồ sơ nhưng thực ra đầu óc còn đầy ắp những điều ghê tởm mà hắn đã trải qua.
Trong khi buông thả theo nỗi ám ảnh ấy, cô Pascal cảm thấy tia nhìn nhớp nháp của chàng Huche dừng lại, tựa lên và dạo chơi trên cơ thể mình tựa như con ốc sên. Người đàn ông ấy lột quần áo cô bằng mắt của hắn. Cô đang trước mặt hắn như một người mẫu.
Một làn hơi nóng rần lên mặt cô. Cô ngọ nguậy trên ghế ngồi, rồi đứng dậy, bước ra hành lang. Nhưng khi cô trở vào, tròng mắt đục của tên biên tập viên lại phủ lấy cô, và cô lại có cảm tưởng rằng mình bị khuất phục, xét đoán đánh giá như một con nô lệ ở chợ người. "Sớm hay muộn gì, cô thầm nghĩ, hắn cũng mưu toan cưỡng bức mình". Và cô run như cầy sấy cho đến lúc ra về.
Sáng hôm nọ, hai người thợ thuộc bộ phận hành chính bước vào:
- Thưa ông, chúng tôi mang đến chiếc ghế dài mà ông đã yêu cầu ở mục trang thiết bị.
Cô Pascal bị nghẹn tim. Chà, con quỷ này tự tin dữ đa! Cô lén nhìn hắn. Hắn có vẻ ngạc nhiên. Hắn xác nhận rằng không có ký đơn đặt hàng nào cả. Sau khi hỏi thăm, mới biết đúng là có lầm lẫn, và chiếc ghế ra đi về nơi chốn khác. Nhưng cô Pascal hồi hộp cho đến tối.
Kể từ sau sự kiện ấy, người con gái tội nghiệp ấy sống trong trạng thái thất thần: "Việc ấy xảy ra ngày hôm nay chăng? Hay là ngày mai?". Đôi lúc, cô tưởng chừng như chàng Huche tựa con báo, đang thu mình lấy trớn ngay mép bàn của hắn. Và cũng có lúc hắn nhờ cô đưa cho cái "Sơ-mi" (nghĩa thứ nhất: tập hồ sơ, nghĩa thứ hai: cái áo), sao cô cảm thấy nhột nhạt tê mê. Những chữ "thụ nhượng tín dụng" (nghĩa thứ hai: phế bỏ uy tín), "bỏ thầu" (nghĩa thứ hai: qui thuận) bên trong tư tưởng cô bèn khoác thêm ý nghĩa nhục dục. Cô lơ là công việc. Cô hết dám rầy rà tên thuộc cấp. Cô khô héo đi trong sự chờ đợi kinh khủng của điều không thể tránh. Nhưng chàng Huche vẫn không chịu quyết định. Hắn đùa với cô như mèo vờn chuột. Cô hỏi hắn:
- Anh vẽ theo mẫu à?
Hắn nheo mắt, nét nhăn nhở tựa vị Dê thần.
- Rất nhiều trường hợp! Nhưng cũng có khi gặp chủ thể hấp dẫn, tôi xử lý bằng trí nhớ.
Chắc chắn là hắn phải "xử lý" cô "bằng trí nhớ". Trong ngăn kéo của hắn chắc đầy ắp những hình ảnh, theo đó cô được trình bày trong cùng loại "y phục" của mấy ả mất nết ở phòng tranh. Biết đâu vào lần tới hắn sẽ trưng bày mấy bức vẽ ấy? Như thế, toàn thể Bộ Ký thác quốc tế và Đường dẫn sẽ thấy của cô những gì mà cô chưa bao giờ cho ai thấy. Cô sẽ không chịu được sự hạ nhục ấy đâu! Cô nghĩ vậy, nhưng đồng thời một niềm vui bất tịnh len nhẹ vào tim. Vâng, ngày tháng càng trôi qua, cô càng chịu ảnh hưởng thế thượng phong lạ lùng của chàng Huche. Sống gần gụi cái thứ thối nát ấy, cô cũng cảm thấy bị lây lan. Trong đêm, cô bị ám bởi những mộng mị đồi bại. Cô hình dung bên trong những tấm bìa hồ sơ màu xanh lá cây của Cục có những cảnh tượng trụy lạc phóng đãng. Hắn anh anh em em với cô. Và cô vuốt ve tóc hắn như thể một kỹ nữ. Thức giấc, cô nóng bỏng và khao khát. Cô điên tiết vì hắn chậm trễ trong việc mở lời. Cô nóng lòng muốn cùng hắn hư thân trong biển cả dâm ô. Cô không thể chờ đợi được nữa.
Một hôm đến văn phòng, cô mặc áo màu tươi sáng và trang điểm thật táo tợn. Khi cô hỏi hắn, giọng cô nhỏ xíu:
- Anh có thích vẽ chân dung tôi không?
- Tôi không bao giờ vẽ chân dung.
Cô nhũn người vì mắc cỡ:
- Vâng, tôi hiểu: anh là chuyên gia về khỏa thân.
Nhưng chàng Huche lắc đầu:
- Ồ, không! Mấy bức khỏa thân kỳ triển lãm là của anh chàng đồng nghiệp Ruche, bên bộ phận văn phòng tổng thư ký.
Và, mỉm cười như đứa trẻ thơ, anh nói thêm:
- Tôi, tôi vẽ mấy chú mèo con.
Minh Huy dịch
(TCSH55/05&6-1993)
Tải mã QRCode
VLA-ĐI-MIA XÔ-LÔ-KHINThị trấn nhỏ giữa buổi trưa hè bụi bậm, buồn tanh, vắng ngắt. Chẳng biết tự bao giờ, giữa thị trấn đã sừng sững một tòa đại giáo đường năm tháp nhọn. Nổi lên giữa những mái nhà một tầng có vườn cây xanh rì bao quanh trải đều lúp xúp hai bên bờ sông là gần chục nhà thờ, mà tháp của chúng cái thì màu da trời, cái thì màu lục, cái thì màu vàng.
Marie Luise Kaschnitz (1901-1974) là một nữ văn sĩ nổi tiếng và tiến bộ của Tây Đức, sinh trưởng ở Cac-lơ Xru-e (Karlsruhe) trong một gia đình sĩ quan. Bắt đầu hoạt động với tư cách cây bút văn xuôi từ những năm 20.
K. PAU-TỐP-XKISố phận một nguyên soái của Na-pô-lê-ông - mà chúng ta sẽ không gọi tên để khỏi làm phiền lòng những nhà sử học và những kẻ mọt sách - xứng đáng để đem kể cho các bạn, những người đang phàn nàn về sự nghèo nàn của tình cảm con người.
LTS: Vassily Shukshin (1929-1974), một diễn viên tài hoa, một đạo diễn phim lỗi lạc, một nhà văn tên tuổi. Thật khó nói lãnh vực nghệ thuật nào đã quyết định quá trình hình thành tài năng của Shukshin: truyện ngắn, tiểu thuyết hay điện ảnh? Nhưng dẫu sao vẫn không cần bàn cãi gì nữa về giá trị truyện ngắn của Shukshin. Xin giới thiệu một trong những truyện ngắn viết vào những năm cuối đời của nhà văn.
LGT: Irving Stone (1903-1989), nhà văn Mỹ hiện đại, nổi tiếng trong nước và trên thế giới nhờ những kịch bản phim lịch sử, những tác phẩm về tiểu sử các nhân vật nổi tiếng, nhất là những cuốn “Khát vọng cuộc sống” (Lust for Life) viết năm 1934, về Vincent van Gogh, danh hoạ Hà Lan, “Tê tái và Đê mê” (The Agony and the Ecstasy) viết năm 1961, về Michelangelo, danh hoạ và nghệ sĩ điêu khắc Italy, “Thuỷ thủ trên lưng ngựa” (Sailor on Horseback) về Jack London, nhà văn Mỹ lừng danh...).
LTS: Henri Troyat (1-11-1911_4-3-2007) sinh tại Matx-cơ-va, định cư ở Pháp kể từ 1920, thuộc Viện Hàn lâm quốc gia Pháp từ 1959, một trong những cây bút viết khỏe nhất của văn học Pháp hiện đại. Chuyên viết tiểu thuyết, truyện ngắn. Ngoài ra, nghiên cứu về Đốtx-tôi-ép-xki, Tôn-xtôi, Lét-mông-tốp, Ô-la, Ban-zắc… Truyện ngắn của ông giàu nét dí dỏm, ký họa.
Atiq Rahimi sinh năm 1962 tại Afghanistan, nhưng đến sống ở Pháp vào năm 1984. Tại Pháp ông trở thành một nhà văn, nhà làm phim tài liệu và phim truyện nổi tiếng. Tiểu thuyết của ông “The Patience Stone - “Nhẫn thạch” được giải thưởng danh giá Prix Goncourt năm 2008. Phim dựa trên tiểu thuyết của ông “Earth and Ashes - Đất và Tro” được tuyển chọn chính thức tại liên hoan phim Cannes năm 2004 và được một số giải thưởng.
IVAN XÔCHIVESNgười chồng lý tưởng - đấy là tôi. Mẹ vợ, vợ tôi và đa số bạn gái của nàng đều gọi tôi như vậy.
LTS: Nhà văn Xô-viết Alêchxây Marinat là tác giả nổi tiếng của một số tiểu thuyết và kịch. Nhưng những tác phẩm làm cho ông nổi tiếng trước hết đối với tất cả các độc giả là những truyện ngắn hài hước. Tính hài hước trong các truyện ngắn của ông rất nhẹ nhàng nhưng sắc sảo. “Hoa tặng Ka-lum-ba” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của Alêchxây Marinat.
LTS: Vaxin Bưcốp sinh năm 1924 tại làng Tsê-rê-pốp-si-na, vùng Vi-tép-xcơ, nước cộng hòa Bêlôruxia. Ông từng đứng trong hàng ngũ quân đội Xô Viết chiến đấu chống phát-xít Đức. Tác phẩm của ông bắt đầu được xuất bản từ năm 1956. Ông thuộc một trong những tác giả viết về chiến tranh nổi tiếng của Liên Xô. Những tác phẩm của ông được nhiều người biết đến là: Phát tên lửa thứ ba, cuộc hành quân núi An-pơ, những người chết không biết đến xấu hổ, những con chó sói… ông đã nhận giải thưởng quốc gia của Liên Xô, giải thưởng I-a-cúp Kô-la-xơ của nước cộng hòa.
LTS: William Somerset Maugham (1874 - 1965) là một nhà văn Anh nổi tiếng, viết nhiều, với bút pháp hiện thực sắc sảo, soi rọi những khía cạnh mâu thuẫn nghịch chiều của cuộc sống, phác hiện những nét sâu kín của bản tính con người. Lối văn của ông trong sáng, khúc chiết, ông lại có biệt tài dẫn truyện hấp dẫn, lý thú, đặc biệt phong cách của ông thường hài hước, sâu cay.Là nhà văn đa tài, ông vừa là tiểu thuyết gia có tiếng, vừa là người viết truyện ngắn bậc thầy, và cũng là một kịch tác gia thành công.
NOBUKO TAKAGI(Tiếp theo Sông Hương số 256 tháng 6 - 2010)
LTS: Tên tuổi Azit Nê-xin đã trở nên quen thuộc với chúng ta. Là tác giả của tập truyện châm biếm nổi tiếng “Những người thích đùa” đã được dịch ra tiếng Việt, ông là trưởng đoàn nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ dự hội nghị BCH Hội Nhà văn Á Phi và cuộc gặp gỡ các nhà văn Á Phi ở nước ta vào tháng 10-1982.
A-đa-mô-vích sinh ra và lớn lên cùng cha mẹ trong làng công nhân ở Gơ-lu-sa, tại Bi-ê-lô-rút-xi-a. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhà văn mới 14 tuổi nhưng đã theo mẹ và anh tiếp tế cho du kích quân.
LGT: Bóng cây phong lan được trích từ tuyển tập truyện ngắn Nhật Bản có nhan đề chung Bên trong do Nhà xuất bản Kodansha tuyển chọn và giới thiệu, được Nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế) tổ chức dịch ra tiếng Việt và phát hành ở trong nước. Tuyển tập gồm 8 truyện ngắn của 8 nhà văn nữ với đề từ chung: Phụ nữ Nhật viết về phụ nữ Nhật. Bên trong là nhan đề, mà cũng là chủ đề của tất cả các truyện: Phía trong tâm hồn và phía trong thân thể của người phụ nữ.
EDWARD D. HOCHGần như ngay từ ngày cưới của họ cách đây 17 năm, William Willis đã căm ghét vợ mình, nhưng chưa một lần nào anh ta nghĩ đến chuyện giết người. Anh ta sẵn lòng ở ngoài suốt cả ngày, lái xe tới cơ quan mỗi sáng, quay trở về nhà mỗi tối, và đơn giản là bỏ ngoài tai cái giọng lải nhải đều đều của vợ.
LTS. S. Rajaratnam thuộc thế hệ những nhà văn cũ của Singapo. Ông có thời làm Bộ trưởng Ngoại giao của Singapo. Truyện ngắn của ông mang chất thơ và tính nhân bản cao. Sông Hương xin giới thiệu một trong những truyện ngắn hay của Rajaratnam.
DANIEL BOULANGERĐó là mùa thu ở Concile, thành Rome mang mọi vẻ Rome và ở đó người ta đã không còn kiếm được nơi cho thuê phòng nữa.
Corrado AlvaroThời gian như muốn chững lại. Hơi nóng vẫn còn hừng hực, bầu trời mờ mờ hơi nước, những con ve kêu rả riết, ở phía tây, chân trời quang hơn, vài cụm mây như bị một nét bút quệt xuống. Cơn mưa hẳn là ở mãi xa nên người ta bắt đầu hái nho.
GABRIEL GARCIA MARQUEZ (COLUMBIA) Ngài nghị sĩ Onesimo Sanchez trước cái chết của ngài có sáu tháng và mười một ngày để đi khi ngài tìm thấy người phụ nữ của đời ngài.