Cơn choáng

08:52 18/12/2023

HENRI TROYAT

LTS. Henri Troyat tên thật là Lev Tarassov sinh năm 1911 tại Moskva. Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Giải thưởng văn học đầu tiên với tác phẩm "Faux jours" (1935). Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm tiểu thuyết và truyện ngắn. Những tác phẩm được dư luận đặc biệt chú ý như bộ ba tiểu thuyết "Tant que la terre durera" (1947), "Le sac et la cendre" (1948) và "Etrangers sur la terre" (1950) hoặc như "La lumière des Justes"... Ông còn viết cả kịch bản văn học. Truyện ngắn "Cơn choáng" (Le vertige) lấy từ tập "La Fosse Commune" xuất bản năm 1986.

Cô Pascal có gương mặt khô đét, với cặp má hóp, trũng như nách một bé gái và có tròng mắt như mắt loài gia cầm hung tợn. Tóc cô lấm tấm gàu, kéo sát về phía sau gáy, bị nuốt chửng bởi cái búi tóc to đùng, xù lên những kim là kim. Cô mặc áo đầm may bằng vải len màu sẫm tối, và trang sức duy nhất mà cô chấp nhận đính lên áo, là cái trâm hoa-gắn-phong vũ biểu, thêm một nụ hồng khác từ loại vật liệu xốp, mà cô gọi là "đá Afghanistan". Một khăn choàng màu lục, có tua rua rũ rượi, phủ lấy vai cô. Động tác của cô thì cụt ngủn. Cô bắt tay bạn như thể người ta xoay cái nắm cửa.

Đã từ năm năm nay, cô Pascal giữ vai phó tại Cục tố tụng thuộc Bộ Ký thác quốc tế và Đường dẫn. Nhiều hành vi tiểu nhân khiến cô chậm thăng tiến, và cô đã quá biết về "tinh thần bình đẳng" của Ban tổ chức nhân sự. Hễ có dịp là người ta lại làm nhục cô. Vì vậy, mặc dù tính chất quan trọng của công việc đòi hỏi dưới quyền cô phải có ba hoặc bốn biên tập viên, cấp trên chỉ cho cô có một người, vừa tốt nghiệp chân ướt chân ráo từ khung tham tá, và hoàn toàn không đủ khả năng đảm đương phận sự được giao.

Chàng ta tên Huche. Chàng có vẻ mặt gà mờ ám chướng, cặp mắt tròng trành bối rối và cặp môi nhão. Tí râu hung hung dán ngay dưới mũi như thể con tem. Lúc nào chàng ta cũng cảm mạo. Nói về chàng ta, cô Pascal phát biểu: "Đó là tay sơ đẳng. Nhưng ít ra, hắn cũng không bao giờ uống rượu. Nếu có uống, thì bốc mùi biết ngay, phải không?". Và cô đối xử với hắn với vẻ khinh miệt lạnh lùng, chỉ mở lời khi nào có yêu cầu hành chính. Cô dành cho hắn những việc chán phèo nhất và mỗi khi cảm thấy không muốn hắn làm việc gần mình, cô bèn sai hắn đi lấy tin ở tít phía bên kia của trụ sở Bộ. Bởi vì, họa vô đơn chí cho cô, bàn làm việc của hai người lại đối diện nhau, và phòng ốc chật chội đến nỗi không thể nào sắp xếp khác hơn được.

Ngày kia, chàng Huche đi làm trễ một giờ đồng hồ. Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, chàng rụt rè mỉm cười như thanh niên mới lớn. Chàng nhỏ nhẹ xin lỗi:

- Bởi vì trưa nay khai mạc phòng tranh lần thứ nhì của "Nhóm nghệ thuật công nhân viên chức Bộ ký thác quốc tế và Đường dẫn"...

Chàng ta ngừng để thở, rồi mắt ngó xuống, miệng chúm chím, khẽ khàng để rơi rớt từng chữ như thể một thiếu phụ xinh đẹp đánh rơi chiếc khăn tay của mình:

- Tôi triển lãm tranh ở đó.

Sự tiết lộ này làm cô Pascal bất ngờ, khiến gương mặt cô thoáng do dự giữa những biểu hiện của lòng quan tâm vừa phải, nét tội nghiệp bỡn chơi và cơn giận dữ quân phiệt. Cuối cùng cô nói:

- Thôi được, tôi sẽ đi xem.

- Dạ ở tầng trệt. Tổ Gambetta. Và vào cửa miễn phí.

- Được rồi, được rồi! Nhưng còn cái khẩn hơn. Anh đã trả lời ghi chú của ông Cardebauche về việc hoàn trả chi phí giám sát đặc biệt liên quan đến việc quản lý Công ty quốc gia CPLN chưa?

Chàng Huche nhũn người trước bàn làm việc, tựa như cỏ bị cắt, và cô Pascal rất khoái vì đã quyết liệt kéo chàng ta về với thực tế hành chính.

Vào lúc 5 giờ, sau khi xong một công việc quan trọng, cô quyết định đến thăm galerie tranh ở tầng trệt. Cô sửa khăn choàng cho ngay ngắn, vuốt khối tóc đặc của mình và bước ra khỏi văn phòng với vẻ oai phong của con thuyền ra biển cả.

Phòng tranh lần thứ nhì của "Nhóm nghệ thuật" tọa trong một gian rộng, xám xịt, lạnh lẽo, với hai hàng cọ đã phai màu. Ngay từ ngưỡng cửa, bạn được chào đón bởi cái im lặng như nhà tiễn biệt. Khách tham quan lưa thưa, thì thầm, lặng lẽ như lén lút. Cô Pascal tiến đến các bức họa với vẻ nghiêm trang thành kính.

Minh họa: THIỆP ĐÁNG


Tác dụng của cuộc trưng bày tác phẩm nghệ thuật này chỉ có thể là tích cực, bởi lẽ làm cho chính quyền an tâm về trạng thái tinh thần của nhân viên mình. Chủ đề bất di bất dịch vẫn là hoàng hôn kiểu kem đánh răng, vẫn là ao hồ màu xanh lục như bảng tín hiệu giao thông cho phép dừng tùy ý, vẫn cánh đồng lúa mì màu vàng phai nhạt điểm lấm tấm mấy chiếc hoa dại. Cũng có vô số mèo con trong giỏ, mắt tựa như nút giày ủng, có mấy cô dê nhỏ với bộ lông màu hoa cà, mấy chú thỏ bé mũi màu hồng. Và đương nhiên phải có những góc phố ngập nắng! Tất cả những thứ này đều tạo cảm giác thoải mái, vô hại, dễ thương. Cô Pascal cảm thấy hoàn toàn thông cảm với các đồng nghiệp, vốn dùng thời gian rảnh rỗi vào những việc làm lương thiện như thế.

Cô sắp kết thúc chuyến tham quan của mình, đột nhiên cô sững sờ khi trông thấy tấm pa-nô có gắn bốn bức tranh lớn. Tranh vẽ đàn bà trần truồng. Một con trơ tráo, tóc hung đỏ, da thịt mịn màu kem, đang lặn ngụp giữa tấm thảm dưới chân giường. Con kia ngồi chàng hảng trên ghế, vừa hút thuốc vừa nhìn vào khoảng không với vẻ dâm dật chuyên nghiệp. Con thứ ba quay lưng lại, đang ưỡn mình một cách dục lạc trước tấm gương. Ả thứ tư lại e dè nhún chân thử nước trong thau tráng men. Và các thân thể ấy được họa bằng một sự hiện thực nóng bỏng, một sự vô liêm dâm đãng phát buồn nôn. Không có miếng voan mỏng nào đến cứu nguy, chẳng có đám mây nào được dàn trải cho đoan trang, không có lấy một cành cây lá xum xuê một cách tinh xảo. Người ta có thể thấy hết tất cả.

Đỏ mặt vì mắc cỡ, cô Pascal tiến đến phía các bức tranh để thử phăng ra tên nghệ sĩ. Cô đọc và suýt ngất đi vì đột cảm: cái thứ rác rưởi ấy mang tên Huche.

Cô trở về văn phòng với một trạng thái bực tức gay gắt. Mình phải chọn thái độ nào đây? chẳng lẽ lại khen ngợi tên biên tập viên ấy à? cho dù chỉ khen xã giao, thì mình cũng bị hiểu lầm là tán đồng với các sản phẩm thô tục ấy. Phải công phẫn lên? Nhưng mà lấy quyền gì? Hay nên im lặng? Và cô Pascal dừng ở giải pháp sau cùng này.

Nhưng ngay từ ngày hôm sau, phiền não bắt đầu. Thế tin hành lang sẽ đồn đãi gì đây? Có lẽ người ta sẽ lên tiếng về việc cô chung phòng khép kín tám giờ đồng hồ mỗi ngày với một tên quỷ ám, chuyên no say với những thứ tục tĩu! Hay là người ta sẽ chế diễu về sự không may của cô? Thậm chí biết đâu người ta lại truyền tai nhau về một giai thoại của cặp "Pascal - Huche"? "Với một gã có tầm cỡ như thế, ắt hẳn cô nàng tha hồ!”. Cô không thể nào chịu đựng được ý nghĩ ấy.

Từ nay, cô sẽ quan sát tên biên tập viên của mình với cái nhìn mới. Cô ngạc nhiên vì sao trước giờ mình không phát hiện trên mặt hắn những vết tích mờ ám của sự đồi trụy. Gương mặt tái nhợt ấy, cặp mắt đờ đẫn ấy cho biết rằng sau những đêm trụy lạc, hẳn cực nhọc lắm hắn mới dậy nổi. Những bàn tay run rẩy ấy tố cáo sự lạm dụng tình dục. Lời nói lúng túng ấy gợi nhớ sự lắp bắp của đam mê. A! cô hình dung chàng ta trong một phòng vẽ đầy những chiếc gối Ả Rập, những lư xông hương và da lông thú, chàng ta đang sửa tư thế của một ả đã trút bỏ xiêm y và lần lữa mơn trớn ả. Rồi sau khi thưởng thức các thú vui đê tiện của tiệc tùng trác táng, hắn đến văn phòng, hắn ngồi trước mặt cô, hắn nghiên cứu hồ sơ nhưng thực ra đầu óc còn đầy ắp những điều ghê tởm mà hắn đã trải qua.

Trong khi buông thả theo nỗi ám ảnh ấy, cô Pascal cảm thấy tia nhìn nhớp nháp của chàng Huche dừng lại, tựa lên và dạo chơi trên cơ thể mình tựa như con ốc sên. Người đàn ông ấy lột quần áo cô bằng mắt của hắn. Cô đang trước mặt hắn như một người mẫu.

Một làn hơi nóng rần lên mặt cô. Cô ngọ nguậy trên ghế ngồi, rồi đứng dậy, bước ra hành lang. Nhưng khi cô trở vào, tròng mắt đục của tên biên tập viên lại phủ lấy cô, và cô lại có cảm tưởng rằng mình bị khuất phục, xét đoán đánh giá như một con nô lệ ở chợ người. "Sớm hay muộn gì, cô thầm nghĩ, hắn cũng mưu toan cưỡng bức mình". Và cô run như cầy sấy cho đến lúc ra về.

Sáng hôm nọ, hai người thợ thuộc bộ phận hành chính bước vào:

- Thưa ông, chúng tôi mang đến chiếc ghế dài mà ông đã yêu cầu ở mục trang thiết bị.

Cô Pascal bị nghẹn tim. Chà, con quỷ này tự tin dữ đa! Cô lén nhìn hắn. Hắn có vẻ ngạc nhiên. Hắn xác nhận rằng không có ký đơn đặt hàng nào cả. Sau khi hỏi thăm, mới biết đúng là có lầm lẫn, và chiếc ghế ra đi về nơi chốn khác. Nhưng cô Pascal hồi hộp cho đến tối.

Kể từ sau sự kiện ấy, người con gái tội nghiệp ấy sống trong trạng thái thất thần: "Việc ấy xảy ra ngày hôm nay chăng? Hay là ngày mai?". Đôi lúc, cô tưởng chừng như chàng Huche tựa con báo, đang thu mình lấy trớn ngay mép bàn của hắn. Và cũng có lúc hắn nhờ cô đưa cho cái "Sơ-mi" (nghĩa thứ nhất: tập hồ sơ, nghĩa thứ hai: cái áo), sao cô cảm thấy nhột nhạt tê mê. Những chữ "thụ nhượng tín dụng" (nghĩa thứ hai: phế bỏ uy tín), "bỏ thầu" (nghĩa thứ hai: qui thuận) bên trong tư tưởng cô bèn khoác thêm ý nghĩa nhục dục. Cô lơ là công việc. Cô hết dám rầy rà tên thuộc cấp. Cô khô héo đi trong sự chờ đợi kinh khủng của điều không thể tránh. Nhưng chàng Huche vẫn không chịu quyết định. Hắn đùa với cô như mèo vờn chuột. Cô hỏi hắn:

- Anh vẽ theo mẫu à?

Hắn nheo mắt, nét nhăn nhở tựa vị Dê thần.

- Rất nhiều trường hợp! Nhưng cũng có khi gặp chủ thể hấp dẫn, tôi xử lý bằng trí nhớ.

Chắc chắn là hắn phải "xử lý" cô "bằng trí nhớ". Trong ngăn kéo của hắn chắc đầy ắp những hình ảnh, theo đó cô được trình bày trong cùng loại "y phục" của mấy ả mất nết ở phòng tranh. Biết đâu vào lần tới hắn sẽ trưng bày mấy bức vẽ ấy? Như thế, toàn thể Bộ Ký thác quốc tế và Đường dẫn sẽ thấy của cô những gì mà cô chưa bao giờ cho ai thấy. Cô sẽ không chịu được sự hạ nhục ấy đâu! Cô nghĩ vậy, nhưng đồng thời một niềm vui bất tịnh len nhẹ vào tim. Vâng, ngày tháng càng trôi qua, cô càng chịu ảnh hưởng thế thượng phong lạ lùng của chàng Huche. Sống gần gụi cái thứ thối nát ấy, cô cũng cảm thấy bị lây lan. Trong đêm, cô bị ám bởi những mộng mị đồi bại. Cô hình dung bên trong những tấm bìa hồ sơ màu xanh lá cây của Cục có những cảnh tượng trụy lạc phóng đãng. Hắn anh anh em em với cô. Và cô vuốt ve tóc hắn như thể một kỹ nữ. Thức giấc, cô nóng bỏng và khao khát. Cô điên tiết vì hắn chậm trễ trong việc mở lời. Cô nóng lòng muốn cùng hắn hư thân trong biển cả dâm ô. Cô không thể chờ đợi được nữa.

Một hôm đến văn phòng, cô mặc áo màu tươi sáng và trang điểm thật táo tợn. Khi cô hỏi hắn, giọng cô nhỏ xíu:

- Anh có thích vẽ chân dung tôi không?

- Tôi không bao giờ vẽ chân dung.

Cô nhũn người vì mắc cỡ:

- Vâng, tôi hiểu: anh là chuyên gia về khỏa thân.

Nhưng chàng Huche lắc đầu:

- Ồ, không! Mấy bức khỏa thân kỳ triển lãm là của anh chàng đồng nghiệp Ruche, bên bộ phận văn phòng tổng thư ký.

Và, mỉm cười như đứa trẻ thơ, anh nói thêm:

- Tôi, tôi vẽ mấy chú mèo con.

Minh Huy dịch
(TCSH55/05&6-1993)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AKUTAHAVA RIUNÔXKÊ (Nhật Bản)

    Hôm ấy một mình Đức Phật đi dạo ven bờ đầm trên Niết bàn.
    Cả đầm toàn là sen trắng trong như ngọc, và nhị sen vàng tỏa ra xung quanh một mùi thơm ngọt, ngạt ngào.

  • L.T.S: LANGSTON HUGHES (1902 - 1967), nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch và dịch giả người Mỹ da đen, sinh ở Joplin, bang Missouri. Ông đã xuất bản 35 tác phẩm. Thơ của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Những tác phẩm của ông phần lớn tập trung chủ đề đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa người da đen và da trắng tại nước Mỹ. Truyện sau đây dịch trong tập truyện "The ways of white Folks".

  • Hình ảnh rồng Việt Nam từ xa xưa đã sớm đi vào nghệ thuật với nhiều loại hình khác nhau. Trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc, nhiều công trình điêu khắc lấy con rồng làm đề tài đã trở thành những tác phẩm có giá trị văn hóa, trong đó không ít công trình điêu khắc đá được xem như là những tác phẩm mang dấu ấn phong cách nghệ thuật của một thời kỳ.

  • Nhà văn Phillip Van Doren Stern sinh ra tại Wyalusing, bang Pennsylvania và lớn lên tại Brooklyn, New York. The Greatest Gift là truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông. Phillip Van Doren Stern đã từng gửi câu truyện này đi nhiều báo và tạp chí nhưng không nơi nào nhận đăng. Cuối cùng ông cho in truyện lên 200 tấm thiệp năm mới và phát cho bạn bè.

  • LTS: Butribabu tên thật là Sivarazu Vencata Xubarao (1916 - 1967) là một nhà văn lớn của Ấn Độ, tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng “Còn lại gì?” và 10 tập truyện ngắn trong đó tập đầu tay “Năm truyện ngắn” xuất bản năm 1933. Ông sáng tác bằng tiếng Telugu truyện ngắn “Khasima Bi” in trong tập “Tuyển tập sáng tác của các nhà văn Nam Á” của nhà xuất bản “Văn học”, Mat-xcơva, 1980.

  • LGT: R. Grossmith sinh năm 1954 ở Dagenham thuộc London, nhận bằng tiến sĩ với luận án về Nghệ thuật tiểu thuyết của Vladimir Nabokov và hiện sống ở Glasgow, nơi ông làm việc biên soạn tự điển.

  • L.T.S: Nikom Rayawa là nhà văn trẻ sinh ở một làng phía Bắc thủ đô Băng Cốc. Nikom Rayawa thuộc phái văn học "Trăng lưỡi liềm" có xu hướng nhân bản và tự do.

  • Lỗ Tấn là nhà văn hiện đại Trung Quốc rất đỗi quen thuộc với bạn đọc Việt Nam. Ông quê ở Thiệu Hưng, Triết Giang, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881, mất ngày 19 tháng 10 năm 1936. Năm nay là năm kỉ niệm 130 năm ngày sinh và 75 năm ngày mất của ông.

  • William Butler Yeats (1865 - 1939) là nhà thơ và kịch tác gia lớn của Ailen, sinh ở Dublin. Cùng với T.Eliot, Yeats đã cách tân nền thơ Anh và Ailen. Được giải thưởng Nôbel năm 1923. Sáng lập Hội Văn học Ailen và Nhà hát Quốc gia Ailen.

  • LGT: O. Henry là bút danh của William Sydney Porter. Ông sinh năm 1862 và mất năm 1910, cùng năm qua đời của Mark Twain.

  • LGT: James Ross là nhà văn đương đại của Anh. Ông là một trong số những thành viên của trường phái Không Tưởng. James sống trong một căn nhà cũ, viết bên một chiếc bàn cũ bằng một chiếc máy tính xách tay giá rẻ, theo như lời ông nói. James Ross bắt đầu cầm bút từ năm 1996, cho đến nay đã viết hàng loạt truyện ngắn mang phong cách riêng, đậm chất huyền ảo và giả tưởng.

  • Mia Couto sinh ngày 5 tháng 7.1955 tại Beira, Mozambique. Ông là nhà văn Mozambique nổi tiếng. Các tác phẩm của ông viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, đã được dịch rộng rãi ra nhiều thứ tiếng và được in ở trên 22 quốc gia. Truyện ngắn dưới đây được David Brookshaw dịch từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Anh. Bản tiếng Việt theo David Brookshaw.

  • LGT: Ngày nay, khi văn học dần rời xa đại tự sự mà thay vào đó là sự lên ngôi của tiểu tự sự thì truyện cực ngắn là một trong những thể loại được người sáng tạo và người đồng sáng tạo quan tâm. Tuy nhiên cho đến nay thì dường như vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho cái gọi là “truyện cực ngắn”. Truyện cực ngắn còn được biết đến dưới nhiều dạng thức định danh như “truyện chớp” (flash fiction), “truyện bất ngờ” (sudden fiction), “vi truyện” (micro fiction)...

  • L.T.S: Kurt Kusenberg (1904-1983), sinh ở Göteborg, Thụy Điển, mất tại Đức. Giám đốc văn học suốt ba mươi năm tại một nhà xuất bản trong nước và chủ biên một loại sách viết riêng về các triết gia, bác học và nhà văn. Tác giả của nhiều truyện kể mang màu sắc kỳ dị.

  • L.T.S: Miguel Rojas Mix, sinh năm 1934 tại thủ đô Chi-lê. Giám đốc viện Nghệ thuật châu Mỹ La tinh thủ đô San Chiago. Bỏ Chi lê sang Pháp dạy học ở Đại học Paris VIII. Viết tiểu luận, truyện ngắn, sách thiếu nhi. “Bàn tay Chúa” là truyện ngắn ác liệt tố giác chính quyền Pi-nô-chê khát máu tại Chi-lê chỉ có thể gây ra khổ đau, chết chóc, ly hương và quật khởi cho nhân dân xứ này. Truyện mang ý hướng ngụ ngôn, gợi ý, gợi hình, vừa có nét thần kỳ mà vẫn không xa hiện thực.

  • LTS: Valentin Rasputin sinh năm 1937 tại một ngôi làng ở Siberia, Ust-Uda. Tốt nghiệp xong đại học Irkutsk, ông làm việc cho các tờ báo ở Irkutsk và ở Krasnoyarsk trong nhiều năm. Truyện ngắn đầu tiên của ông xuất hiện năm 1961. Truyện “Tiền bạc cho Ma-ria” đem lại danh tiếng cho ông. Với những truyện xuất hiện sau đó như “Kỳ hạn cuối cùng”, “Hãy sống và nhớ đến tôi”, “Vĩnh biệt Ma-chi-ô-ra”, ông được khẳng định như một trong những nhà văn Xô-viết lớn nhất. Truyện ngắn dưới đây xuất hiện trong một tập truyện mới của ông, tập truyện có đề là “Cuộc sống và tình yêu”.

  • LGT: Hồ Thích là nhà văn, học giả lớn của Trung Quốc. Truyện cực ngắn này đã rạch đôi hai nền văn minh với hai lối sống, hai cách tư duy. Với nền văn minh nông nghiệp, xã hội tiểu nông, mọi thứ chỉ cần tương đối. Đem lối sống, cách tư duy ấy sang nền văn minh đại công nghiệp thì trật khớp hết, và… chết.

  • PHRÊ-ĐRÍCH SI-LAN-ĐE- Tất cả đứng dậy, - viên mõ tòa nói với giọng đều đều.Ông chánh án bước vào, kéo ghế lại gần rồi ngồi xuống.- Tất cả ngồi xuống, - viên mõ tòa làm xong phận sự, chẳng còn buồn để ý đến những gì diễn ra trước mắt.

  • A-ri-en Đot-phơ-man sinh năm 1942 tại Chi-lê. Giáo sư dạy thuyết giảng tại Đại học Văn thuộc Viện Đại học Chi-lê, ông phải rời bỏ Chi-lê vào năm 1973, viết truyện ngắn, tiểu luận và thơ.Truyện ngắn Viên thuốc bọc đường viết theo kỹ thuật chen lồng đối thoại và chen lồng hiện tại và tương lai.Nội dung truyện vạch trần sự vật lộn miếng ăn tại Hoa Kỳ khiến cho lắm kẻ tha phương lao vào một số nghề nghiệp nguy hiểm, khốn nạn.

  • An-ghiêc-đax Pô-xi-ux, sinh năm 1930, tại làng Ketubai - ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Litva ở Học viện Giáo dục Klaipeda - Ông viết văn vào năm 1953, tác giả của nhiều truyện ký, đồng thời ông còn là nhà văn viết nhiều cho tuổi thơ.