Cỏ xót xa tôi

08:44 21/05/2021

PHẠM XUÂN HÙNG

Tôi nghĩ chắc hiếm có nhà văn, nhà thơ nào thành danh mà trong sự nghiệp sáng tác lại vắng bóng cây cỏ. Sở dĩ loài thực vật thấp bé như cỏ lại trở thành đối tượng mỹ học là nhờ vào những yếu tính trái ngược, thậm chí phi lý nhưng vẫn tồn tại.

Ảnh của Phạm Bá Thịnh

Nhỏ nhoi, yếu ớt nhưng sức sống thì mãnh liệt (Hoa thường hay héo cỏ thường tươi - Nguyễn Trãi). Gần như vô danh nhưng lại có mặt khắp nơi, chiếm lĩnh không gian mặt đất và cả thời gian (Thời gian như cỏ vượt lên/ Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua - Thanh Thảo, “Chính là cỏ, cỏ mọc khắp nơi, ở nơi nào có đất và nước” - Walt Whitman). Hay như con người, sinh ra ở đâu thì rồi cuối cùng thân xác cũng trở thành cát bụi nằm chơi dưới cỏ (Thưa rằng người đã quên tôi/ Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may - Hoàng Phủ Ngọc Tường)…

Tôi có một tuổi thơ ướp đẫm màu xanh cây cỏ. Làng nghèo thời hậu chiến không có những món đồ chơi như bây giờ. Thành ra cả đám lóc nhóc mũi dãi chỉ biết lấy cây cỏ làm trò vui. Nói thế cũng là nói theo “trường phái lãng mạn” bởi ngoài sự gắn bó bầu bạn với cỏ lại là câu chuyện phải lật đất xới cỏ quanh năm để trồng hái. Cũng bởi đất đai thời hậu chiến là đất hoang hóa, lại chưa có máy móc thay sức người và thuốc diệt cỏ chưa từng xuất hiện.

Cỏ tranh là thứ đằm sâu nhất trong ký ức tuổi thơ tôi. Kỳ thực, đây cũng là loài cỏ sống dai dẳng nhất. Năm đó, sau lưng nhà tôi có đôộng Vang là một quả đồi dày đặc cỏ tranh. Những chỗ đất tốt cỏ tranh xanh mướt cao quá đầu người, những chỗ đất xấu cỏ tranh cằn hơn và ngả sang màu vàng. Nơi đó cũng là vương quốc của gà rừng, chim cút, dế, cào cào, châu chấu… Những buổi trưa hè, chiều hôm rảnh rỗi hay những đêm trăng bầy con nít chúng tôi chọn nơi này đánh trận giả, chơi tích tè nép bắn hoặc nhiều trò ngỗ nghịch khác. Mảnh vườn nhà tôi cỏ tranh cũng mọc nhiều xen lẫn với cỏ ống là hai loài cỏ bất trị nhất. Tôi nhớ lúc còn học cấp I, II, mạ thường dẫn mấy anh em tôi ra làm vườn. Trước hết phải dùng rựa phát sạch phần thân trên của cỏ tranh, sau đó dùng cuốc chỉa lật đất nhặt bằng hết gốc. Rồi tiếp tới phải moi sâu xuống đất, có khi đến nửa mét, nhặt từng mẫu rễ còn sót lại. Tất cả dồn thành đống trên mặt đất, phơi khô. Đợi ngày nắng to thì dùng lửa đốt. Cỏ tranh cũng như cỏ ống, chỉ cần sót lại phần rễ nhõn bằng đốt ngón tay thôi thì mùa sau chỉ cần trộ mưa giông là chúng lại bứt chồi lên. Và nếu để quên chúng vài tháng trời thì từ mẩu rễ nhỏ bằng đầu tăm cũng sẽ biến thành một thảm cỏ xanh ngút ngàn. Cỏ thì bất trị nhưng người thì không thể cho đất ngủ yên. Sau này lớn lên tôi hay hình dung cái đói, cái nghèo của người dân quê tôi như bộ rễ của loài cỏ này, nhặt mấy cũng không hết, chúng tồn tại dai dẳng.

Tiếp theo cỏ tranh là cỏ hổ ngươi, tên gọi khác thì nhiều, như cỏ xấu hổ, cây giả đò, hoa hòe chút là cây mắc cỡ và mỹ miều hơn là cây trinh nữ. Loài cỏ này mọc từng đám, những nơi nào đất tốt chúng mọc lên hoang rậm, thân thảo hóa mộc thành rừng. Loài cỏ này cũng tốn công sức để làm sạch đất, phải chặt phá rồi phơi thật khô trước khi đốt, bởi chỉ cần một bông hoa nhỏ của chúng phát tán thì mùa sau chúng lại sinh sôi theo cấp số nhân. Mỗi lần phá đám giặc cỏ này thì trời ơi, tay chân tướm máu, dọc ngang những vết gai cào xước.

Dù để kiếm miếng ăn, gia đình tôi cũng như làng xóm phải đánh vật, đổ mồ hôi với cỏ nhưng đó chỉ là câu chuyện trên mảnh đất trồng hái của vườn nhà. Ký ức tuổi thơ không chỉ có vậy mà còn nhiều lắm những vân vi với cỏ, vui có buồn có. Chúng tôi thường tụ họp lang thang từ góc vườn nhà này đến góc vườn nhà khác và thế giới cây cỏ chúng tôi lạc vào đó trở thành vương quốc riêng, mỗi loài cỏ như một linh hồn sống sẻ chia. Cỏ chỉ (sách vở gọi cỏ mần trầu) dùng ngoắc vào nhau chơi trò kéo co, cỏ gà bóc tận ruột để nhìn thấy loài sâu nhỏ nhỉnh hơn sợi tóc, cỏ cú mùi thơm hăng hắc dùng chơi trò mua bán thuốc, cỏ muộng chuộng ngắt ra từng đốt bóc vỏ nhai để tận hưởng vị chua thanh.

Có nhiều loại rau nói cho cùng thì cũng là cỏ, chỉ không phải là cỏ dại mà là cỏ con người ăn được, chẳng thế mà người ta hay nói rau cỏ. Tôi nhớ ngày ấy dọc ven những bờ tre, bụi chuối, lỗ chỗ dưới bóng cây lưu niên vườn nhà là các loài rau cỏ tự mọc. Rau dền trắng, dền đỏ non tơ, rau sam mọng nước tím hồng, rau má loằng ngoằng xanh mát mắt, me đất chua dịu dàng năm cánh điểm li ti hoa vàng, rồi nữa những mã đề, ngót, mồng tơi, rau thơm bạc hà, rau quế, ngó lào (nơi khác gọi ngò tây)… Lũ trẻ chúng tôi ngày ấy đứa nào cũng bụng ỏng đít teo vì thiếu ăn nên “vựa rau thiên nhiên” này thực sự là nguồn dinh dưỡng. Chẳng quý giá chi, mỗi đứa lấy ở nhà mình một ít gia vị như muối, vị tin (mỳ chính) sang hơn là góc chén mỡ nước kèm chiếc nồi đồng nhỏ nữa là có nồi canh bốc khói góc vườn, cả bọn vừa ăn vừa hỉ hả. Nói đến rau cỏ tôi nhớ nhất thứ rau mà giờ các bạn trẻ chắc ít người biết: rau tàu bay. Loài thực vật họ Cúc này mọc nhiều ở vùng ruộng rẫy miền trung du, luộc lên thoảng nhẹ vị hăng nhưng cây non luộc lên rồi chấm mắm hoặc thấu (trộn cùng muối ớt giã mịn) lại trở thành món ăn khoái khẩu. Hồi đó, sau mỗi mùa gặt rẫy (lúa tỉa theo phương thức phát đốt chọc tỉa) loài rau tàu bay mọc lên từng cụm non mềm, nhiều vô kể. Nhà nào nhà nấy, trẻ em cũng như người lớn đi làm về đều có đùm rau tàu bay treo trên đầu rựa, đầu cuốc. Ăn nhiều nên ngán, đến mức cảm giác như trong người bọn trẻ chúng tôi thoang thoảng mùi hăng mà người lớn hay đùa mùi xăng tàu bay. Viết đến đây chợt nhớ thi sĩ thần đồng Trần Đăng Khoa, không biết thời áo lính ông ăn rau tàu bay nhiều ít mà viết câu thơ: Anh đã sống những tháng năm hào hứng/ Ăn rau tàu bay, hát vỗ nhịp vào báng súng

Bây giờ tuổi trung niên ngồi nhớ lại chuyện cỏ thì đúng là nhiều như… cỏ. Riêng góc vườn quê thôi thời ấu thơ như đã hóa thân vào cỏ. Cỏ cứt lợn màu hoa tím nhạt long lanh sau những cơn mưa, cỏ gà (cỏ chỉ) níu thân vào đất mùa gió lào khắc nghiệt, cỏ lồng đèn (nơi khác gọi tầm bóp) với những chiến lồng tí hon chứa sắc lửa xanh, cây nút áo có hạt chín tím đen như trái mùng tơi ngọt the đầu lưỡi, cỏ may dính đầy quần không gỡ nổi phải lấy lược chải.

Tôi nhớ đọc đâu đó có những điểm du lịch nổi tiếng thế giới nhờ cỏ. Như loài cỏ bạc người Nhật gọi là susuki (cỏ lau bông bạc) đặc trưng mùa thu xứ này. Nghe nói ở Kansai vùng cao nguyên Tonomine có đồng cỏ bạc rộng cả trăm héc ta từng được dùng làm bối cảnh cho phim điện ảnh nổi tiếng Rừng Na Uy. Nơi này, mỗi năm có hàng vạn người đến vui chơi, ngắm cỏ. Cỏ quê tôi và trong ký ức tôi không được vinh diễm đó, chúng chỉ là người bạn tuổi thơ, êm đềm và nhọc nhằn, vui tươi lẫn đắng đót.

Đôi lần về quê ngồi với cỏ chợt như Trang Tử không biết mình là cỏ hay cỏ là mình. Lại chợt nhớ năm nao, Trung niên thi sĩ Bùi Giáng viết về ngôi làng quê Quảng Nam từng có cảm giác: “Làng tôi xưa có nhiều cỏ mọc. Cỏ mọc trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn gò, đồi núi thật xanh. Tôi lớn lên giữa linh hồn cỏ mọc…”.

Linh hồn của cỏ?

Trịnh Công Sơn có ca khúc “Cỏ xót xa đưa”, hát lên nghe như hoài niệm về đời sống đã qua, với con người và hoa cỏ, thấm đẫm buồn vui. Buồn xót xa đã đành, vui cũng xót xa vì không dễ gì tìm lại được. Tất cả rồi cũng trôi đi, đời người ngắn ngủi lắm. Riêng cỏ vĩnh hằng trên mặt đất. Mà thân xác đây cũng chỉ tạm bợ trên cõi trần gian. Nên có mơ thì mơ linh hồn hóa thân vào cỏ, để trong khuất lấp dằng dặc thời gian sẽ có một ngọn linh thảo thao thức chờ đợi tái sinh. Như Chế Lan Viên - một người đồng hương ở miền cỏ thơ ấu của tôi đã viết: Những bạn bè yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ/ Trong hạt sương, trong đá… Trong những gì không phải anh/ Anh tồn tại mãi/ Không bằng tuổi tên mà như tro bụi/ Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên (Từ thế chi ca).

P.X.H  
(SHSDB40/03-2021)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGGhi chép 1.Tôi tự đặt ra một “hạng mục” đinh cho chuyến đi thực tế sáng tác ở A Lưới lần này, và hạ quyết tâm thực hiện bằng được, đó là: phải lên được Đồi Thịt Băm!

  • LGT: Liên Thục Hương là một nhà văn Trung Quốc đương đại, tự ví mình là con mèo đêm co mình nằm trên nóc nhà, nhìn cuộc sống thành phố tấp nập đi qua đáy mắt. Liên Thục Hương còn ký bút danh Liên Gián, có số lượng bản thảo lên tới hơn hai triệu chữ. Năm 2003, “Bài bút ký đầy nước mắt” đã được post lên mạng và năm 2004 nó đã được dựng thành phim và bộ phim ngắn này làm tiền đề cho tác phẩm điện ảnh đoạt giải thưởng của Trung Quốc. Sông Hương xin giới thiệu câu chuyện này qua bản dịch của nữ nhà văn Trang Hạ.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.

  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.